Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy

TS. Cao Thị Oanh - Trường Đại học Luật Hà Nội

So với nhiều tội phạm khác, Tội Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy được quy định tương đối muộn trong pháp luật hình sự Việt Nam. Cho đến năm 1976, với sự ra đời của Thông tư số 03/BTP-TT tháng 4/1976 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Điều 9 Sắc luật 03/SL-76, hành vi "Cố ý truyền bá, lưu hành các tác phẩm văn hóa đồi trụy, không vì mục đích phản cách mạng" mới bị coi là tội xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn công cộng và bị xử phạt theo quy định tại Điều 9 của Sắc luật.

Trong những năm sau đó, các thế lực thù địch tăng cường những hoạt động phá hoại trên mặt trận tư tưởng và văn hoá ở nước ta, lén lút đưa vào "nhiều loại văn hóa phẩm đồi trụy" và "sao chép lại các loại văn hoá phẩm đồi trụy của chủ nghĩa thực dân cũ và mới còn rơi rớt lại" nhằm “phá hoại nhân sinh quan, thế giới quan, đạo đức phong cách tốt đẹp của nhân dân ta hòng làm tê liệt ý chí đấu tranh cách mạng, chia rẽ nội bộ, giảm lòng tin vào Đảng, Nhà nước, phá hoại nếp sống mới xã hội chủ nghĩa, nhất là đối với tầng lớp thanh thiếu niên của ta " [1] . Trong hoàn cảnh đó, Thông tư liên Bộ Văn hóa - Nội vụ số 855-TT/LB (TTLB 855) ngày 12/5/1984 hướng dẫn công tác đấu tranh chống các hoạt động xâm nhập, làm ra, sao chép, tàng trữ và lưu hành các loại văn hóa phẩm phản động, đồi trụy. Theo đó, hành vi xâm nhập, làm ra, sao chép, tàng trữ và lưu hành văn hóa phẩm đồi trụy" với mục đích "chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa" và gây hậu quả nghiêm trọng được khẳng định là cần được xử lý về hình sự. Thông tư số 03/BTP-TT cũng quy định nếu hành vi vượt quá mức độ xử lý hành chính, thì bị truy tố và xét xử về hình sự và bị phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm tù; trường hợp nghiêm trọng thì phạt đến 15 năm tù; còn có thể bị phạt tiền đến 1.000đ [2] .

Như vậy, trước khi Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1985 được ban hành, hành vi truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy đã được quy định trong các văn bản pháp lý hình sự nước ta. Tuy nhiên, những quy định này còn khá sơ lược, tản mạn. Cùng với sự ra đời của BLHS năm 1985, Tội Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy đã được quy định tại Điều 99 thuộc mục B Chương các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy được quy định thành một tội danh độc lập với hai cấu thành tội phạm: cấu thành tội phạm cơ bản (khoản 1 Điều 99), cấu thành tội phạm tăng nặng (khoản 2 Điều 99) như sau:

"Điều 99. Tội truyền bá văn hóa đồi trụy

1.  Người nào làm ra, sao chép, lưu hành, buôn bán, tàng trữ nhằm phổ biến sách, báo, tranh ảnh, phim, nhạc hoặc những vật phẩm khác có tính chất đồi trụy, cũng như có hành vi khác truyền bá văn hoa đồi trụy thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Có tổ chức;

b) Vật phạm pháp có số lượng lớn; gây hậu quả nghiêm trọng;

c) Tái phạm nguy hiểm… "

Tuy nhiên, có thể dễ dàng nhận thấy rằng, quy định về tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy còn tồn tại một số hạn chế sau đây:

Thứ nhất, hành vi truyền bá vật phẩm đồi trụy trực tiếp xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng chứ không ảnh hưởng nhiều đến an ninh quốc gia. Vì vậy, việc xếp tội phạm này vào chương an ninh quốc gia là không phù hợp.

Thứ hai, vật phạm pháp được quy định ở Điều luật này là "văn hóa đồi trụy" là thiếu khoa học.

Tại BLHS năm 1999, hai hạn chế trên đã được khắc phục. Tội phạm này được quy định tại Điều 253 BLHS năm 1999 dưới tên gọi là "tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy" và với tính cách là một tội phạm thuộc chương các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Cùng với những thay đổi về tên tội, về vị trí quy định trong BLHS, tội phạm này còn không ngừng được hoàn thiện về các dấu hiệu pháp lý cũng như đường lối xử lý về hình sự. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu quy định của BLHS hiện hành về tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cho thấy, quy định này vẫn còn chứa đựng những điểm thiếu khoa học, bất hợp lý, dẫn đến sự tranh luận trái chiều hoặc những lúng túng, vướng mắc trong thực tiễn xử lý loại hành vi này. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tiến hành phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cũng như xác định các vướng mắc trong thực tiễn xử lý tội phạm, từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện điều luật này.

Từ quy định tại Điều 253 BLHS, có thể khái quát khái niệm tội Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy như sau: Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy là hành vi làm ra, sao chép, lưu hành, buôn bán, tàng trữ nhằm phổ biến những vật phẩm có tính chất đồi trụy hoặc những hành vi khác truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiên với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm thuần phong mỹ tục và truyền thống văn hóa của dân tộc. Trước hết, xác định loại hành vi này nguy hiểm cho xã hội vì chúng xâm phạm nếp sống văn minh, thuần phong mỹ tục của dân tộc.

Về dấu hiệu vật phạm pháp của tội phạm, quy định của Điều 253 BLHS đang thể hiện những điểm bất hợp lý nhất định. Tại Điều luật này, tên tội được quy định là "truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy". Như vậy, vật phạm pháp phải là "văn hóa phẩm đồi trụy". Tuy nhiên, theo hành văn của khoản 1 Điều 253 thì vật phạm pháp được quy định đối với nhóm hành vi thứ nhất là "sách, báo, tranh, ảnh, phim, nhạc hoặc những vật phẩm khác có tính chất đồi trụy" còn vật phạm pháp được quy định đối với nhóm hành vi thứ hai (các hành vi khác) lại là "văn hóa phẩm đồi trụy". Quy định này cho thấy, vật phạm pháp của tội phạm này bao gồm vật phẩm có tính chất đồi trụy và văn hóa phẩm đồi trụy. Rõ ràng, vật phẩm đồi trụy và văn hóa phẩm đồi trụy là hai khái niệm khác nhau, trong đó, vật phẩm đồi trụy bao gồm cả văn hóa phẩm đổi trụy và những vật phẩm khác chứa nội dung đồi trụy. Vì vậy, Điều luật cần thống nhất quy định vật phạm pháp của tội phạm là vật phẩm đồi trụy hoặc văn hóa phẩm đồi trụy. Theo từ điển Tiếng Việt thì văn hóa phẩm là: sản phẩm phục vụ đời sống văn hóa [3] . Như vậy, văn hóa phẩm đổi trụy chỉ bao gồm: Tranh ảnh, báo, tạp chí, băng, đĩa, truyện... có nội dung đồi trụy, nó không bao hàm những vật phẩm thông đụng khác có chứa nội dung đồi trụy, trong khi đó những vật phẩm này có thể là phương tiện chứa nội dung đồi trụy và cần phải bị cấm truyền bá. Vì vậy , chúng tôi cho rằng, khái niệm vật phẩm nên được lựa chọn để sử dụng làm vật phạm pháp của tội này.

Về tính chất của vật phạm pháp: Chúng phải là đối tượng có tính đồi trụy. Đồi trụy được hiểu là suy đồi, trụy lạc Trong đó, suy đồi là sút kém và hư hỏng đến mức tồi tệ về đạo đức và tinh thần; trụy lạc là sa ngã vào lối sống ăn chơi, tiêu khiển hết sức thấp hèn, xấu xa [4] .

Trước đây, TTLB 855 xác định các loại văn hoá phẩm có nội dung đồi trụy là văn hóa phẩm: a) Tuyên truyền cho lối sống đồi bại, dâm loạn, du đãng, trác táng và những hành vi trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc ta và đi ngược lại nếp sống mới XHCN đang được hình thành ở nước ta;

b) Tuyên truyền mê tín, dị đoan.

Chúng tôi cho ràng, loại văn hóa phẩm được quy định ở điểm b không phù hợp với khái niệm đồi trụy đã được giải thích ở trên. Hiện nay, chưa có văn bản nào giải thích rõ khái niệm văn hóa phẩm đổi trụy. Nghị định số 178/2004/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm cũng chỉ giải thích tương tự như từ điển nói trên: Đồi trụy là sự thể hiện bằng hành động, bằng hình ảnh, bằng âm thanh lối sống ăn chơi, tiêu khiển thấp hèn, xấu xa, hư hỏng đến mức tồi tệ về đạo đức, trái với thuần phong, mỹ tục của dân tộc. Qua nghiên cứu thực tiễn xét xử các vụ án truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy ở nước ta, thấy rằng đối tượng được xác định trong các vụ án đều là những văn hóa phẩm có nội dung khiêu dâm. Trong khi đó, việc quy định khái niệm văn hóa phẩm đồi trụy trong Điều 253 lại dẫn đến những tranh luận trái chiều xung quanh vấn đề các văn hóa phẩm có nội dung khiêu dâm có phải là đồi trụy theo nghĩa được từ điển và Nghị định 178 nói trên giải thích hay không. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, Điều luật này nên được sửa lại là tội Truyền bá vật phẩm có nội dung khiêu dâm.

Về mặt khách quan của tội phạm, theo Điều 253 BLHS, hành vi phạm tội được quy định là hành vi truyền bá (phổ biến) cho người khác biết các vật phẩm có tính chất đồi trụy bằng nhiều hành vi cụ thể khác nhau như: Làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, mua bán, tàng trữ nhằm phổ biến hoặc hành vi khác.

- Hành vi làm ra văn hóa phẩm đồi trụy được hiểu là hành vi tạo ra các văn hóa phẩm đồi trụy như: Vẽ tranh, chụp ảnh, quay phim, ghi âm, sáng tác nhạc, viết truyện, làm thơ, viết kịch... Hành vi sao chép văn hóa phẩm đồi trụy là từ một văn hóa phẩm có tính chất đồi trụy đầu tiên (bản gốc) tạo ra nhiều bản sao có cùng tính chất. Việc sao chép có thể sao chép toàn bộ hoặc một phần. Hình thức sao chép cũng đa dạng như Chụp lại, viết lại, ghi âm lại, ghi hình lại hoặc các hình thức sao chép khác .

- Hành vi lưu hành văn hóa phẩm đồi trụy là cho người khác xem, mượn, thuê văn hóa phẩm có tính chất đồi trụy.

- Hành vi vận chuyển văn hóa phẩm đồi trụy là hành vi đưa văn hóa phẩm đồi trụy từ nơi này đến nơi khác.

- Hành vi mua bán văn hóa phẩm đồi trụy là dùng tiền hoặc tài sản để trao đổi lấy văn hóa phẩm đồi trụy .

- Hành vi tàng trữ văn hóa phẩm đồi trụy có tính chất đồi trụy là cất giữ các văn hóa phẩm đồi trụy ở một địa điểm nhất định như: Cơ quan, phòng làm việc, nhà ở...

- Các hành vi khác truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy là ngoài các hành vi làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, mua bán, tàng trữ nhằm phổ biến, thì người phạm tội còn có thể có những hành vi khác nhằm phổ biến cho người khác biết các văn hóa phẩm đồi trụy như hành vi dịch. tóm tắt, trích đoạn... các văn hóa phẩm đồi trụy.

Tội Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy là tội có cấu thành tội phạm hình thức, chính vì vậy, tội phạm hoàn thành khi người phạm tội thực hiện một trong các hành vi nói trên. Tuy nhiên, theo quy định của Điều 253 BLHS, người thực hiện hành vi nói trên chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn ít nhất một trong các điều kiện: Vật phạm pháp có số lượng lớn, phổ biến cho nhiều người và đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Trong các dấu hiệu này, dấu hiệu vật phạm pháp có số lượng lớn cho đến nay vẫn chưa được hướng dẫn cụ thể bởi cơ quan có thẩm quyền trong khi tính chất và khả năng lưu giữ thông tin của các đối tượng cụ thể có thể rất khác nhau, có thể dẫn đến những quan điểm khác nhau khi xử lý hành vi vi phạm. Bên cạnh đó, quy định về dấu hiệu phổ biến cho nhiều người là không cần thiết vì bản thân khái niệm truyền bá đã bao hàm nội dung "phổ biến rộng ra cho nhiều người, nhiều nơi" [5] .

Về chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm này là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định (đối với trường hợp thực hiện hành vi được quy định tại khoản 1 Điều 253, chủ thể của tội phạm phải đạt độ tuổi từ 16 trở lên; đối với trường hợp thực hiện hành vi được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 253, chủ thể của tội phạm phải đạt độ tuổi từ 14 trở lên).

Trường hợp vật phạm pháp không có số lượng lớn thì người phạm tội phải là người đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Về mặt chủ quan của tội phạm: Người phạm tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy thực hiện hành vi của mình là do lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện.

Mục đích của người phạm tội là nhằm phổ biến văn hóa phẩm đồi trụy cho người khác với bất kỳ động cơ nào. Đây là đấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này.

Về các dấu hiệu định khung hình phạt: Theo quy định tại khoản 2 Điều 253 B LHS, các dấu hiệu sau đây được quy định là dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng: "có tổ chức"; "vật phạm pháp có số lượng rất lớn" ; "đối với người chưa thành niên"; “gây hậu quả nghiêm trọng; tái phạm nguy hiểm".

- Có tổ chức:

Đây là trường hợp truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy dưới hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người tham gia.

- Vật phạm pháp có số lượng rất lớn;

Tương tự như trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 của Điều luật, trường hợp này hiện nay vẫn chưa được hướng dẫn chính thức. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử đã có trường hợp Tòa án coi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ trên 20 đĩa VCD, 20 băng video là vật phạm pháp có số lượng rất lớn, còn các loại vật phẩm văn hóa khác như tranh, ảnh, sách, báo thì việc xác định thế nào là số lượng lớn thì chưa có thực tiễn xét xử [6] .

- Đối với người chưa thành niên;

Đây là trường hợp người phạm tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy cho người chưa đủ 18 tuổi không kể họ có biết người được truyền bá là chưa thành niên hay không.

- Gây hậu quả nghiêm trọng;

Hiện nay cũng chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về tình tiết này. Do khoản 3 của Điều luật cũng có quy định tình tiết gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng nên cơ quan có thẩm quyền cần sớm có văn bản hướng dẫn cách xác định ranh giới giữa các tình tiết này.

- Tái phạm nguy hiểm;

Người phạm tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm được quy định ở khoản 2 Điều 253 BLHS có thể là trường hợp đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy theo quy định của khoản 2 Điều 253 (khi đó người phạm tội bị áp dụng ít nhất là hai tình tiết định khung tăng nặng) hoặc là trường hợp đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội này theo quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 của Điều 253. Những trường hợp tái phạm nguy hiểm nhưng đồng thời lại cấu thành tội phạm tại khoản 3 của Điều luật thì người phạm tội sẽ bị áp dụng khoản 3 để xét xử (đồng thời áp dụng điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS).

Theo quy định tại khoản 3 Điều luật này, các dấu hiệu sau đây được quy định là dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng: "vật phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn" và "gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng".

- Vật phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn;

Dấu hiệu này hiện nay vẫn chưa được cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn chính thức nhưng vụ án sau đây là một trường hợp tình tiết này đã được áp dụng:

11h ngày 03-7-2003, Cảnh sát kinh tế Hà Nội phát hiện Nguyễn Văn T đang vận chuyển 1.600 đĩa VCD không dán tem của Bộ Văn hóa để giao cho Vũ Thị Tuyết N ở cửa hàng 23C Trân Cao V, Tp. H. Số đĩa trên được in sao tại ngõ 132 phố Lê Thanh Nghị do Vũ Ngọc L làm chủ.

Khám nơi kinh doanh của N thu được 23.200 đĩa VCD, DVD, 950 đĩa trắng nhãn, mác và 9.100.000 đồng khám nơi ở của N còn thu giữ 9118 đĩa VCD và DVD, 3740 đĩa trắng đều không dán tem.

Giám định số đĩa thu của N, ngoài nội dung phim chưởng bộ, xã hội đen, găng xtơ, hoạt hình thì có 314 đĩa VCD thu tại cửa hàng 23C Trần Cao V có nội dung phim truyện mô tả rõ nét hình ảnh khỏa thân, hành động tình dục mang tính khiêu dâm đồi trụy. Bản kết luận của Hội đồng giám định văn hóa thành phố H số 36 ngày 9-7-2003 kết luận là đĩa đồi trụy cấm lưu hành.

Ngày 20-8-2004, Tòa án nhân dân thành phố H căn cứ điểm a khoản 3 Điều 253; điểm p, g khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 46; Điều 42; Điều 47; Điều 41; Điều 60 BLHS, xử phạt Vũ Thị Tuyết N 36 tháng tù về tội "Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy" nhưng cho hưởng án treo, thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án [7] .

- Gây hậu quả rất nghiệm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng;

Đây là trường hợp việc người phạm tội thực hiện hành vi truyền bá văn hóa phẩm đồi đã dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng như. Dẫn đến việc người khác thực hiện hành vi phạm tội như hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em hoặc dẫn đến người có liên quan tới hành vi đó tự sát.

Trong số các dấu hiệu định khung hình phạt nói trên, các dấu hiệu: "vật phạm pháp có số lượng rất lớn", "vật phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn", gây hậu quả nghiêm trọng" và “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” là các dấu hiệu cần được giải thích cụ thể, nhưng cho đến nay chúng vẫn chỉ được hiểu chung chung theo đúng cách mà Điều luật quy định.

Việc thiếu văn bản giải thích chính thức về các dấu hiệu định tội và định khung hình phạt của tội Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy đã dẫn đến hiện tượng trong một số trường hợp các cơ quan áp dụng pháp luật lúng túng hoặc bất đồng quan điểm trong việc xác định vật phạm pháp là có số lượng lớn hay có số lượng rất lớn khi vật phạm pháp là các file phim, ảnh được lưu trong ổ cứng máy tính. Vì vậy đã dẫn đến hiện tượng hành vi phạm tội với 468 file phim, ảnh sex thì bị Viện Kiểm sát nhân dân quận B truy tố theo khoản 2 Điều 253 BLHS trong khi hành vi phạm tội với gần 1.000 file phim ảnh sex lại chỉ bị Viện Kiểm sát nhân dân thành phố M truy tố theo khoản 1 của điều luật trên. (Cụ thể vụ việc này như sau: Phan Hồng P là chủ cửa hàng điện thoại di động Hồng P (quận T). Trưa 22/12/2005, P đi vắng. Đoàn Văn Q (thợ học nghề) thay "thầy" sao chép năm phim sex từ ổ cứng của máy tính vào điện thoại di động của khách thì bị công an bắt quả tang. Qua điều tra đã xác định được rằng P đã sao chép phim, ảnh sex cho khách từ ngày 27/10/2005. Giá mỗi lần sao chép từ 10.000 đồng đến 30.000 đồng tùy vào dung lượng. Tổng cộng, P đã thu lợi bất chính hơn 1.000.000 đồng. Kiểm tra máy tính, công an thu được gần 1.000 file phim, ảnh sex. Viện kiểm sát nhân dân thành phố M truy tố Q, P ra tòa về tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy theo quy dinh tại khoản 1 Điều 253 BLHS với tình tiết "vật phạm pháp có số lượng lớn"). Trong khi đó, ở một vụ án khác. Ngô Văn T bị bắt khi đang sao chép ảnh sex vào điện thoại di động của khách tại quận B. Qua khám xét, công an phát hiện 468 file phim, ảnh sex trong máy tính của T. Với hành vi này, T lại bị Viện kiểm sát nhân dân quận B truy tố về tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy theo khoản 2 Điều 253 BLHS [8] . Những minh chứng nói trên cho thấy, bên cạnh những điểm bất hợp lý về khoa học trong quy định tên tội và vật phạm pháp nói trên, việc các dấu hiệu định tội và định khung hình phạt không được quy định hay giải thích rõ ràng đã dẫn đến tình trạng xử lý không thống nhất loại hành vi này trong thực tiễn.

Tóm lại, từ tất cả những nghiên cứu trên, chúng tôi kiến nghị cần sửa tên tội cũng như vật phạm pháp của tội truyền bá văn hóa phẩm đồ trụy thành tội truyền bá vật phẩm có nội dung khiêu dâm; bỏ dấu hiệu "phổ biến cho nhiều người", đồng thời, sớm giải thích các dấu hiệu: vật phạm pháp có số lượng lớn", vật phạm pháp có số lượng rất lớn", "vật phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn", "gây hậu quả nghiêm trọng" và "gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng" bằng văn bản của cơ quan có thầm quyền.

 


[1] Xem: Thông tư liên bộ văn hóa – nội vụ số 855-TT/LB ngày 12/5/1984

[2] Xem: Hệ thống hóa luật lệ về hình sự, tập II (1975 – 1978) TANDTC xuất bản năm 1979, trang 253,254

[3] Từ điển tiếng Việt, Nxb. Thống kê, 2005, tr. 562.

[4] Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hóa thông tin, Nguyễn Như ý chủ biên, 1999. tr 374.

[5] Đại từ điển tiếng Việt. Nxb. Văn hóa thông tin Nguyễn Như Ý chủ biên.

[6] Xem: Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học BLHS, Phần các tội phạm, Tập 9, NXB tp. HCM, 2006

[7] Xem: Bản án số 604/2004/HSST ngày 20/8/2004 của TAND thành phố H

[8] Nguyễn Sơn Tùng, Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp, Trường đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2009, tr.39-40.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi