Hoàn thiện cơ chế xử lý đối với hành vi tham nhũng ở Việt Nam

TS. Nguyễn Ngọc Chí — Khoa luật ĐHQGHN

Tham nhũng được biểu hiện thông qua nhiều hành vi rất đa dạng, phức tạp, đòi hỏi việc phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý phải bằng nhiều biện pháp với nhiều hình thức, cấp độ khác nhau. Cơ chế xử lý đối với hành vi tham nhũng ở Việt Nam những năm qua thể hiện thái độ nghiêm khắc, triệt để chống tham nhũng của xã hội và Nhà nước ta đối với tham nhũng, góp phần tich cực vào công cúộc đấu tranh với “quốc nạn” này.

1.                 Quá trình xây dựng và phát triển Nhà nước, pháp luật phong kiến ở nước ta cho thấy: hiện tượng “tham quan”, “lại nhũng” đã tồn tại từ lâu và cuộc đấu tranh chống lại nó cũng là một quá trình, kể cả phía Nhà nước (thông qua pháp luật) và các tầng lóp dân chúng trong xã hội. Điều này thể hiện tính chất, mức độ gay go, phức tạp của vấn đề. Để ngăn chặn, phòng ngừa tham nhũng, các triều đại phong kiến ở nước ta bên cạnh qui định các hành vi tham nhũng còn qui định các biện pháp xử lý tham nhũng, tạo thành hệ thống chế tài đa dạng, phong phú phù hợp trong trường hợp tham nhũng hướng tới mục đích trừng trị và phòng ngừa. Trước hết, đó là các hình phạt của Luật hình sự. Trong Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức) thời Lê có gần 30 điều khoản quy định chế tài áp dụng cho các hành vi tham nhũng. Trong Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long) thời Nguyễn có 17 quy định riêng về luật hình đối với Tội nhận hối lộ (đút lót) và gần 20 điều khoản quy định cụ thể về vấn đề này. Những quy định trong một số bộ luật nói trên và qua các tư liệu còn được ghi chép trong thư tịch cổ, chúng tôi thấy hệ thống hình phạt mà các Nhà nước phong kiến áp dụng cho hành vi tham nhũng bao gồm: a) Chém đầu; b) Lưu (đày đi xa và bắt làm việc khổ sai); c) Đồ (bắt làm các công việc khổ nhục); d) Xuy, trượng (đánh bằng roi hoặc gậy). Bên cạnh đó, cũng tuỳ từng trường hợp, người có hành vi tham nhũng có thể còn bị áp dụng một hình phạt phụ như: phạt tiền, tịch thu tài sản, bãi chức, biếm tước (bớtt một phần danh vị).... Thứ hai, ngoài hình phạt chính và hình phạt bổ sung người phạm tội tham nhũng còn có thể bị áp dụng các biện pháp khác như: a) Cho về quê làm dân thường; b) Làm cho nhục nhã hổ thẹn; c) Bổi thường tài sản cho người khác ....

Trên đây là một số biện pháp cụ thể đã được các triều đại phong kiến Việt Nam áp dụng để xử lý những hành vi tham nhũng. Qua các tư liệu còn chưa đầy đủ, chúng ta có thể thấy các triều đại phong kiến đều có thái độ kiên quyết trong việc ngăn chặn và xử lý nạn tham nhũng. Những biện pháp được áp dụng từ thấp đến cao và mức độ cao nhất là xử chết. Các hình phạt và biện pháp xử lý cũng rất đa dạng nhằm hạn chế tối đa sự phát triển của tệ nạn này.

Chính nhờ những biện pháp kiên quyết và phù hợp như vậy mà nhiều triều đại đã duy trì được sự tổn tại lâu dài (như triều Lý, triều Trần, triều hậu Lê) đổng thời quản lý, điều hành đất nước vượt qua những giai đoạn khó khăn (như nạn ngoại xâm, thiên tai đe doạ). Mặc dầu vậy, vì nhiều lý do, cũng có những thời kỳ các Nhà nước đã lơi lỏng trong quản lý, để nạn tham nhũng phát triển làm đất nước suy yếu, uy tín vương triều cũng vì thế mà suy giảm mạnh. Nhiều vương triều bị mất quyền lực một phần là vì vậy. Đó cũng là bài học lịch sử để lại cho chúng ta hôm nay cùng tìm hiểu và suy ngẫm.

2.   Từ bài học lịch sử, kế thừa pháp luật về đấu tranh phòng, chống tham nhũng từ ngày thành lập nước đến nay, pháp luật nước ta đã hình thành hệ thống cơ chế xử lý tham nhũng. Nhũng qui định về xử lý tham nhũng được ghi nhận ở nhiều văn bản pháp luật, có thể kể đến như: Luật phòng chống tham nhũng năm 2005; Bộ luật hình sự 1999; Luật cán bộ, công chức năm 2008; Luật viên chức năm 2010 .... Theo đó, xử lý tham nhũng chủ yếu bằng chế tài hình sự và chế tài kỷ luật tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm. Đối tượng bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự được qui định tại Điều 68 Luật phòng chống tham nhũng và bao gồm những đối tượng sau: a) Người có hành vi tham nhũng. Đây là đối tượng chính của chế tài hình sự và chế tài kỷ luật, là người đã có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để trục lợi (Điều 13- Luật phòng chống tham nhũng qui định 12 hành vi tham nhũng). Trong số 12 hành vi này chỉ có 7 hành vi tham nhũng được hình sự hóa (tương ứng với 7 tội phạm được qui định trong Bộ luật hình sự 1999) bị xử lý hình sự còn xử lý kỷ luật có thể áp dụng đối với cả 12 hành vi kể trên, b) Người không báo cáo, tố giác khi biết hành vi tham nhũng. Đây là đối tượng không trực tiếp thực hiện hành vi tham nhũng nhưng do điều kiện công tác, sinh hoạt, sinh sống...cùng nên biết hành vi tham nhũng của người khác. Trong Nhà nước pháp quyền, bên cạnh quyền thì công chức, viên chức, công dân phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định trong đó có nghĩa vụ đấu tranh phòng ngừa tham nhũng và nghĩa vụ báo cáo (công chức, viên chức, nhất là công chức, viên chức lãnh đạo), tố giác tội phạm (mọi công dân), họ sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý khi không thực hiện nghĩa vụ này. Vì vậy, Luật phòng chống tham nhũng, luật hình sự qui định hành vi không báo cáo, tố giác tham nhũng đối với người biết có hành vi tham nhũng là vi phạm hoặc tội phạm và bị áp dụng chế tài kỷ luật hoặc chế tài hình sự tương ứng với tính chát và mức độ vi phạm. Qui định này là cần thiết trong việc nêu cao trách nhiệm đấu tranh phòng ngừa, xử lý tham nhũng của công chức, viên chức và mọi công dân. c) Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý. Qui định này nhằm nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc phòng ngừa, đấu tranh và xử lý tham nhũng, một mặt yêu cầu người đứng đầu phải có biện pháp quản lý, kiểm soát không để tham nhũng xảv ra mặt khác nếu có tham nhũng phải có trách nhiệm xử lý, báo cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về tham nhũng. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị sẽ phải chịu trách nhiệm kỷ luật hoặc trách nhiệm hình sự khi để xảy ra tham nhũng. Đây là trách nhiệm liên quan đến tham nhũng của người đứng đầu. d) Người thực hiện hành vi vi phạm qui định của Luật phòng, chốngt tham nhũng và qui định khác của pháp luật có liên quan. Đây là những người không có hành vi tham nhũng, không có trách nhiệm đối với tham nhũng nhưng có các hành vi vi phạm các qui định của pháp luật liên quan đến tham nhũng, như: cản trở điều tra, xử lý tham nhũng, không tố giác tội phạm tham nhũng được qui định trong BLHS....

Các đối tượng bị xử phạt kỷ luật hoặc trách nhiệm hình sự nêu trên bao gồm người có hành vi tham nhũng, người có trách nhiệm đối với hoạt động của người có hành vi tham nhũng và những người khác có hành vi liên quan đến  đấu tranh, phòng ngừa tham nhũng tạo thành hệ thống đối tượng tương đối đầy đủ của chế tài kỷ luật và chế tài hình sự. Đánh giá chung nhất dưới góc độ lập pháp trong đấu tranh, phòng ngừa tham nhũng thì “mọi hành vi tham nhũng đều bị xử lý nghiêm minh, công bằng, cônq khai”.

3.    Trong số các đối lượng nêu trên, người có hành vi tham nhũng là đối tượng trọng yếu nhất của việc xử lý kỷ luật và xử lý hình sự. Vì vậy, pháp luật qui định tương đối đầy đủ hệ thống chế tài áp dụng cho người có hành vi tham nhũng tùy theo tính chất, mức độ vi phạm của họ ở mức độ khái quát nhất có thể phân chia thành hai loại chế tài: Chế tài kỷ luật áp dụng cho người có hành vi tham nhũng ở mức độ ít nguy hiểm cho xã hội, còn chế tài hình sự được áp dụng cho người có hành vi tham nhũng gây nguy hiểm cao cho xã hội bị coi là tội phạm.

a)       Trách nhiệm kỷ luật (chế tài kỷ luật): Trách nhiệm kỷ luật là việc áp dụng những hậu quả bất lợi đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi tham nhũng mà theo qui định của pháp luật phải xử lý bằng chế tài kỷ luật. Theo qui định của pháp luật thì chế tài kỷ luật có các hình thức sau tương ứng với mức đội vi phạm của hành vi tham nhũng:

- Khiển trách: áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi tham nhũng lần đầu ở mức độ nhẹ.

- Cảnh cáo: áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi tham nhũng đã bị khiển trách mà tái phạm hoặc vi phạm ở mức độ nhẹ nhưng khuyết điểm có tính chất thường xuyên, hoặc có tính chất tương đối nghiêm trọng, hoặc liên quan đến tư cách, phẩm chất của cán bộ, công chức, viên chức...

- Hạ bậc lương: áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi tham nhũng đang trong thời gian bị kỷ luật cảnh cáo mà tái phạm; Vi phạm pháp luật nghiêm trọng; hoặc liên quan đến tư cách, phẩm chất của cán bộ, công chửc, viên chức....

- Hạ ngạch: áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi tham nhũng mà xét thấy không đủ phẩm chất đạo đức và tiêu chuẩn nghiệp vụ chuyên môn của ngạch đang đảm nhiệm ....

- Cách chức: áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ có hành vi tham nhũng nghiêm trọng không thể tiếp tục chức vụ được giao.

- Buộc thôi việc: là hình thức nặng nhất của chế tài kỷ luật áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi tham nhũng rất nghiêm trọng hoặc có hành vi tham nhũng và có một trong các tình tiết của chế tài buộc thôi việc theo qui định của Luật công chức, viên chức....

Ngoài những qui định chung của chế tài kỷ luật được qui định trong Luật công chức, viên chức thì Luật phòng chống tham nhũng qui định nghiêm khắc hơn, thể hiện ở những nội dung sau: (1). Người có hành vi tham nhũng thì tùy theo tính chất, trong trường hợp bị kết án về hành vi tham nhũng và bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì phải bị buộc thôi việc (Điều 69 Luật phòng chống tham nhũng); (2). Đại biểu quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp thì đương nhiên mất quyền đại biểu nếu hành vi tham nhũng của họ bị Tòa án xử phạt bằng một bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật (Điều 69 Luật phòng chống tham nhũng). Nếu so với qui định của Luật công chức, viên chức thì chỉ khi phạm tội bị Tòa án phạt tù giam bằng một bản án có hiệu lực pháp luật mới bị đương nhiên thôi việc và đương nhiên mất quyền đại biểu tại các cơ quan quyền lực.

b)       Chế tài hình s

Tham nhũng thường được thực hiện bởi rất nhiều hành vi và không chỉ bởi hành vi của người có chức, có quyền mà còn liên quan đến nhiều hành vi của các đối tượng khác. Tuy nhiên, trong pháp luật hình sự, hành vi tham nhũng nào cần phải được hình sự hoá phụ thuộc vào các yếu tố như: Chủ thể phải là những người có chức, có quyền trong hệ thống chính trị như: các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội; Phải là những hành vi tham nhũng ở mức độ cao hoặc hành vi làm không hết thẩm quyền, vượt thẩm qùyền, sai thẩm quyền liên quan đến tham nhũng: Xuất phát từ động cơ cá nhân, vụ lợi (lỗi cố ý); Có hậu quả thiệt hại cho Nhà nước, xã hội hoặc công dân; phải chứng minh được về mặt tố tụng. Theo qui định của Luật phòng chống tham nhũng 2005 và Bộ Luật hình sự 1999 thì những hành vi tham nhũng sau được hình sự hóa và bị xử lý bằng chế tài hình sự: Tham ô tài sản (Điều 278 BLHS 1999); Tội nhận hối lộ (Điều 279 BLHS 1999); Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280 BLHS 1999); Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281 BLHS 1999); Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 282 BLHS 1999 ); Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (Điều 283 BLHS 1999); Tội giả mạo trong công tác (Điều 284 BLHS 1999). Bảy tội phạm này được qui định tại Mục A - các tội phạm về tham nhũng, Chương XXI BLHS 1999 với các chế tài sau:

Thứ nhất, hình phạt chính: Hình phạt chính qui định áp dụng cho các tội phạm này có:

- Hình phạt cải tạo không giam giữ được qui định cho Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281 BLHS 1999).

- Hình phạt tù có thời hạn được qui định áp dụng cho cả 7 tội phạm tham nhũng với mức thấp nhất là 3 tháng và cao nhất là 20 năm trong trường hợp phạm một tội và 30 năm trong trường hợp phạm nhiều tội.

- Hình phạt chung thân được qui định áp dụng cho các tội phạm: Tham ô tài sản (Điều 278 BLHS 1999); Tội nhận hối lộ (Điều 279 BLHS 1999).

- Hình phạt tử hình được qui định áp dụng cho các tội phạm: Tham ô tài sản (Điều 278 BLHS 1999); Tội nhận hối lộ (Điều 279 BLHS 1999)

Như vậy, so với qui định về hệ thống hình phạt chính của BLHS 1999 (Điều 28) thì có 02 hình phạt chính không được qui định áp dụng cho các tội phạm về tham nhũng, đó là: Hình phạt cảnh cáo, hình phạt tiền và hình phạt trục xuất do hành vi tham nhũng có tính nguy hiểm cao cho xã hội nên không thể qui định áp dụng hình phạt cảnh cáo là loại hình phạt nhẹ nhất trong hệ thống hình phạt chính. Hình phạt tiền vừa được qui định là hình phạt chính và hình phạt bổ sung nên đối vói những tội phạm này hình phạt tiền không qui định là hình phạt chính nhưng được qui định là hình phạt bổ sung. Đối với hình phạt trục xuất, do chủ thể của tội phạm tham nhũng phải là người có chức vụ quyền hạn trong bộ máy công quyền, trong hệ thống chính trị của Việt Nam nên người nước ngoài không phải là chủ thể của các tội phạm tham nhũng, do đó không qui định hình phạt trục xuất là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung.

Với mục đích phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt, BLHS 1999 qui định từ 3 đến 4 khung hình phạt (cấu thành định khung) áp dụng đối với từng mức độ thực hiện tội phạm của các tội phạm tham nhũng.

Thứ hai, hình phạt bổ sung: Bên cạnh hình phạt chính BLHS 1999 còn qui định các hình phạt bổ sung đối với từng tội phạm tham nhũng cụ thể: khoản cuối cùng (khoản 3 hoặc 4) của Điều luật qui định về tội phạm tham nhũng là những qui định về hình phạt bổ sung. Theo đó, hình phạt bổ sung “cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm làm một số nghề hoặc những công việc nhất định” được qui định áp dụng cho tất cả các tội phạm tham nhũng. Tương tự như vậy, hình phạt tiền cũng được qui định áp dụng cho tất cả các tội phạm này. Hình phạt bổ sung tịch thu toàn bộ hoặc một phần tài sản được qui định áp dụng đối với phạm: Tham ô tài sản (Điều 278 BLHS 1999); Tội nhận hối lộ (Điều 279 BLHS 1999).

Thứ ba, các biện pháp tư pháp: Biện pháp tư pháp là một trong những hình thức của trách nhiệm hình sự mang tính cưỡng chế được áp dụng đối với người phạm tội hoặc ngưòi có hành vi nguy hiểm cho xã hội nhằm thay thế hình phạt hoặc hỗ trợ hình phạt theo các điều kiện và căn cứ pháp luật qui định. Những biện pháp tư pháp được áp dụng đối với người phạm tội tham nhũng bao gồm: (1) Tịch thu vật, tiền bạc liên quan trực tiếp đến tội phạm (Điều 41 BLHS 1999).Theo qui định này thì vật, tiền bạc liên quan trực tiếp đến tội phạm như: Vật, tiền bạc dùng làm công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm; Vật, tiền bạc do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có; Vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành. Biện pháp này do Tòa án quyết định áp dụng, về nguyên tắc vật, tiền bạc liên quan trực tiếp đến tội phạm được tịch thu xung công quĩ, nhưng nếu vật, tiền bạc đó nhưng lại thuộc sở hữu của người khác thì chỉ tịch thu khi họ có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng tài sản của mình vào việc thực hiện tội phạm. (2) Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra (Điều 42 BLHS 1999). Nội dung của biện pháp này được luật qui định như sau: Tài sản bị người phạm tội chiếm đoạt (tài sản là đối tượng tác động của tội phạm) thì phải trả lại cho chủ sở hữu. Nếu tài sản đó bị mất, bị hư hỏng thì người phạm tội phải có trách nhiệm sửa chữa, bồi thường, bồi hoàn cho chủ sở hữu.

Như vậy, có hai trong số các biện pháp tư pháp qui định trong BLHS 1999 được áp dụng đối với người phạm tội tham nhũng nhằm thu hồi, sữa chữa, khắc phục tài sản do người phạm tội chiếm đoạt bất hợp pháp bởi hành vi tham nhũng hoặc dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội trả lại cho chủ sở hữu hoặc xung công quĩ đồng thời nhằm tước đoạt những điều kiện để người phạm tội có thể tái phạm. Vì vậy, biện pháp tư pháp này không những có mục đích trừng trị đối với người phạm tội mà còn có ý nghĩa phòng ngừa tội phạm.

c) Xử lý tài sản tham nhũng: Đây là một trong những qui định quan trọng của Luật phòng chống tham nhũng với mục đích phải thu hồi những tài sản bị tham nhũng trả lại cho chủ sở hữu hoặc xung công quĩ bên cạnh những mục đích khác của đấu tranh chống tham nhũng. Qui định này góp phần làm cho việc đấu tranh chống tham nhũng có ý nghĩa thực tiễn, tránh tình trạng chỉ xử lý được người có hành vi tham nhũng còn tài sản bị tham nhũng chiếm đoạt lại không thu hồi được.

Việc xử lý tài sản tham nhũng phải tuân theo các qui định của pháp luật “Việc tịch thu tài sản tham nhũng, thu hổi tài sản tham nhũng được thực hiện bằng quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo qui định của pháp luật” (khoản 4, Điều 70 Luật phòng chống tham nhũng).

Việt Nam là trong các thành viên của Hiệp ước phòng chống tham nhũng của Liên hợp quốc nên Điều 71 Luật phòng chống tham nhũng 2005 qui định: “ ...Chính phủ Việt Nam hợp tác với Chính phủ nước ngoài trong việc thu hồi tài sản của Việt Nam hoặc của nước ngoài bị tham nhũng và trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu hợp pháp”. Như vậy tài sản tham nhũng dù của Việt Nam hay của nước ngoài, trên lãnh thổ Việt Nam hay nước ngoài đều bị thu hồi hoặc xử lý theo qui định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia trên cơ sở hợp tác quốc tế về phòng chống tham nhũng giữa Việt Nam với các quốc gia khác.Cơ chế xử lý tham nhũng với các biện pháp nêu trên đã hình thành một hệ thống phù hợp với mọi trường hợp, mọi tính chất, mức độ của hành vi tham nhũng. Bên cạnh những biện pháp có tính chất trừng trị đối với người có hành vi tham nhũng còn những biện pháp thu hồi tài sản tham nhũng, biện pháp phòng ngừa, triệt tiêu điều kiện tham nhũng như: các hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm một số nghề nhất định có thể làm nảy sinh tham nhũng trong một khoảng thời gian nhất định. Có thể khẳng định vai trò tích cực của các biện pháp xử lý trong đấu tranh, phòng ngừa tham nhũng nhất là với các đối tượng có hành vi tham nhũng. Những biện pháp này không chỉ đáp ứng yêu cầu đấu tranh, xử lý tham nhũng trước mắt mà còn có tác dụng lâu dài, có ý nghĩa phòng ngừa sâu sắc đối với tham nhũng. Những biện pháp xử lý tham nhũng không chỉ là nỗ lực của quốc gia mà còn có ý nghĩa quốc tế sâu sắc trên cơ sở hiệp ước về phòng chống tham nhũng của Liên Hợp quốc.

Tuy nhiên, để đấu tranh phòng ngừa tham nhũng có hiệu quả, cần hoàn thiện hơn nữa cơ chế xử lý đối với hành vi tham tham nhũng, đó là những vấn đề sau:

a) Hình phạt được qui định áp dụng cho các tội phạm tham nhũng của BLHS 1999 khá nghiêm khắc thể hiện các loại hình phạt, khung, mức hình phạt. Nhìn vào hệ thống hình phạt với tính nghiêm khắc của nó người ta dễ nhầm tưởng về vai trò đẩy lùi làm giảm tình trạng tham nhũng qua từng năm tháng nhưng thực tế lại diễn ra theo chiều ngược lại. Trong các báo cáo về tham nhũng và đấu tranh phòng ngừa tham nhũng của các quan có thẩm quyền thì tham nhũng năm sau cao hơn năm trước, qui mô tham nhũng lớn hơn và tài sản tham nhũng nhiều hơn nhưng thu hồi lại ít hơn, hoạt động tham nhũng tinh vi hơn, nạn tham nhũng phổ biến, tràn lan hơn... Như vậy, không phải hình phạt càng nghiêm khắc thì tình hình tội phạm tham nhũng hằng năm càng giảm và dường như hai đại lượng này không liên quan gì với nhau trong mối quan hệ giữa các “yếu tố đầu vào” với hiệu quả phòng ngừa tham nhũng. Đã có nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra rằng hình phạt tử hình không làm giảm tình hình tội phạm mà còn làm cho tính nhân đạo của pháp luật bị nghi ngờ do vậy nhiều quốc gia đã loại bỏ hình phạt tử hình. Với định hướng của Nghị quyết 48 của Bộ chính trị về chiến lược xây dựng pháp luật và Nghị quyết 49 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, chúng ta cần nghiên cứu, xem xét việc loại bỏ hình phạt tử hình đối với Tội tham ô tài sản và Tội hối lộ như qui định hiện hành của BLHS 1999.

b)Việc thu hồi được tài sản tham nhũng là một trong những mục tiêu quan trọng của đấu tranh phòng ngừa tham nhũng, chúng ta đã có những qui định của pháp luật về vấn dề này. Tuy nhiên, thực tế đấu tranh chống tham nhũng cho thấy tài sản thu hồi trong các vụ án tham nhũng không đáng là bao so với tài sản bị tham nhũng, thời gian thu hồi kéo dài, thủ tục phức tạp.... Tình trạng trên có nhiều nguyên nhân mà một trong số đó là những qui định về thu hồi tài sản tham nhũng vẫn chưa đủ và chưa cụ thể để hình thành một cơ chế thu hồi tài sản tham nhũng một cách có hiệu quả. Có thể nêu ra một vài vấn đề để cùng nghiên cứu xem xét: (1) Ngoài hình phạt và các biện pháp tư pháp về thu hồi tài sản đối với các tội phạm tham nhũng trong luật hình sự bên cạnh những qui định tương đối rõ ràng, đầy đủ về luật nội dung còn có qui định về thủ tục, trình tự, cơ quan thu hồi trong Luật tố tụng hình sự và các luật khác có liên quan nhưng hành vi tham nhũng chưa đến mức coi là tội phạm mới chỉ là vi phạm thì chưa có qui định cụ thể về thu hồi tài sản. Hoặc (2) Điều 71, Luật phòng chống tham nhũng có qui định về hợp tác quốc tế trong việc thu hồi tài sản tham nhũng nhưng chưa có văn bản qui định qui trình, thủ tục hợp tác về vấn đề này...

c)         Xây dựng cơ chế để các tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân giám sát và tham gia đối với quá trình xử lý tham những. “Xét về phương diện pháp luật thì dường như chúng ta đã có đủ các phương tiện cần thiết để đấu tranh với tệ tham nhũng” nhưng các phương tiện này chưa mang lại kết quả như mong muốn. Vì vậy sự giám sát của các tố chức chính trị - xã hội nhất là giám sát trực tiếp của người dân trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng nói chung cũng như giám sát đối với các biện pháp xử lý tham nhũng nói riêng vô cùng cần thiết và hiệu quả. Đơn cử đưa ra một giải pháp để trao đổi: Kết hợp với các biện pháp của chế tài kỷ luật hoặc hình sự đối với người có hành vi tham nhũng thì qui định biện pháp kiểm điểm, giáo dục họ ở nơi cư trú tại xã, phường thị trấn như những đối tượng nghiện hút hoặc mua bán ma túy mà chúng ta đang làm hiện nay thông qua hình thức kiểm điểm với sự góp ý của nhân dân tại cuộc họp./.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi