Hoàn thiện quy định về tội rửa tiền

Phó Trưởng Ban Thư ký, Văn phòng Bộ Tư pháp

A.  ĐẶT VẤN ĐÈ

Tội rửa tiền tuy không trực tiểp ảnh hưỏng đến tính mạng và tài sản của con người, nhưng "rửa tiền" có ảnh hưởng tiêu cực bao trùm lên nhiều lĩnh vực của đời sống như kinh tế xã hội, chính trị, an ninh quốc phòng..., ảnh hưởng đến từng chủ thể trong nền kinh tế và trở thành mối lo ngại của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Bằng những thủ đoạn tinh vi, các băng đảng tội phạm tìm cách tạo một "lý lịch sạch sẽ" cho những đồng tiền bất chính của mình. Những hoạt động này đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực cho nền kinh tế vĩ mô nói chung và lĩnh vực tài chính nói riêng. Sự lưu chuyển các luồng tiền trong thế giới ngầm gây ra những đột biến trong cầu tiền tệ và bất ổn định lãi suất và tỷ giá hối đoái; tác động xấu đến hướng đầu tư, chuyển từ các khoản đầu tư cẩn trọng sang đầu tư rủi ro cao làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế; làm giảm tính hiệu quả của các công cụ tiền tệ của Chính phủ, kích thích các hành vi tội phạm kinh tế như trốn thuế, thâm ô, mua bán nội gián, gian lận thương mại, tăng tính bất ổn của nền kinh tế; làm suy giảm hiệu quả kinh tế của các giao dịch hp pháp, gây mất lòng tin đối với thị trường; làm suy yếu hệ thống ngân hàng tài chính, thậm chí có thể bị thao túng bởi các băng nhóm tội phạm; bóp méo các con số thống kê, gây khó khăn cho việc hoạch định chính sách và giảm hiệu quả điều tiết của Chính phủ [1] .

Những tổ chức chuyên rửa tiền, đầu tư, chuyền tiền, không phải vì lợi nhuận, mà bởi vì muốn "che giấu" thông tin về nguồn gốc lượng tiền đó. Thực tế, cách dễ dàng nhất và phổ biến nhất là thông qua ngân hàng, tại một nước thứ 3 đổ tiền vào một nền kinh tế đang phát triển, sau đó rút tiền ra. Tình hình đầu tư thực tế, có thể thua lỗ nặng, nhưng chúng cũng không quan tâm và trên sổ sách là đầu tư rất có lãi. Mỗi một lần như vậy, chúng sẽ chuyển được một lượng tiền tương đổi lớn thành tiền sạch, thông qua các quỹ đầu tư, các doanh nghiệp có vốn nước ngoài... Như vậy, theo cách làm ở trên, chúng cần sự "hậu thuẫn" của đội ngũ, kế toán, thuế vụ và quan trọng nhất là Ngân hàng tại nước chúng đầu tư và đằng sau những tổ chức đó là "Chính phủ". Không ngạc nhiên, khi một s nước, một số vùng lãnh thổ, đảo quốc đã trở thành "trung tâm rửa tiền". Luật pháp tại đây, cho phép nhà đầu tư che giấu s sách kế toán với bất kì ai, kể cả cảnh sát quốc tế và tổ chức chống rửa tiền quốc tế. Mặc dù bị phong tỏa về tài chính, nhưng các quốc đảo này vẫn "ăn nên làm ra" lý do một phần có thể đến từ sự "cám dỗ quá lớn" của lượng tiền khng lồ mà các hoạt động phạm pháp mang lại. Nguồn tiền "sạch" sau khi trừ đi "hoa hồng", quay trở lại tiếp tục "nuôi dưỡng" các tổ chức tội phạm, "che chở" thậm trí mua chuộc chính quyền nhiều nước. Hoạt động kiếm ra tiền của các tổ chức tội phạm này, lại chủ yếu từ ma túy, mại dâm, vũ khí, khủng bổ và bắt cóc [2] .

Để góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm nguy hiểm này, trong phạm vi bài viết của mình, chúng tôi đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về tội rửa tiền - tội phạm mới được quy định trong Bộ luật Hình sự.

B.  NỘI DUNG VẤN ĐÈ

I. KHÁI NIỆM TỘI RỬA TIÈN

1.   Quy định của pháp luật quốc tế về tội rửa tiền

Theo Công ước Palermo năm 2000 của Liên Hợp Quốc về phòng, chống rửa tiền và khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF) thì các quốc gia phải hình sự hoá bn nhóm hành vi rửa tiền sau đây: Nhóm hành vi chuyển đổi hoặc chuyển nhượng tài sản mà biết rõ là phạm tội mà có, với mục đích che giấu hoặc nguỵ trang nguồn gốc bất họp pháp của tài sản hoặc giúp đỡ bất kỳ người nào liên quan đến việc thực hiện một tội phạm nguồn lẩn tránh những hậu quả pháp lý do hành vi của người đó gây ra. Nhóm hành vi che giấu hoặc nguỵ trang bất cứ khía cạnh thông tin nào về tài sản như: Bản chất thực sự, nguồn gốc, địa điểm, sự di chuyển hoặc quyền sở hữu hay các quyền khác đối với tài sản, mà biết rằng tài sản đó là do phạm tội mà có. Nhóm hành vi nhận, sở hữu hoặc sử dụng tài sản mà vào thời điểm nhận, biết rằng do tội phạm mà có. Nhóm hành vi tham gia, phối hp hay thông đồng, âm mưu; hỗ trợ, xúi giục, tạo điều kiện và hướng dẫn thực hiện bất kỳ hành vi phạm tội nào nói trên. Việc hình sự hoá các hành vi rửa tiền không chỉ cho phép các cơ quan có thẩm quyền của quốc gia tổ chức việc phát hiện, truy tố và trấn áp tội phạm mà còn tạo cơ sở pháp lý cho việc hợp tác quốc tế giữa các cơ quan cảnh sát, tư pháp và hành chính, bao gồm cả việc tương trợ tư pháp và dẫn độ [3] . Bộ luật Hình sự Liên bang Nga quy định ba tội phạm liên quan đến rửa tiền; đó là: tội hợp pháp hoá (rửa tiền) tiền và tài sản khác do người khác có được một cách bất hợp pháp (Điều 174); tội hp pháp hoá (tẩy rửa) tiền hoặc tài sản khác do mình phạm tội mà có (Điều 174.1); tội sở hữu hoặc tiêu thụ tài sản biết rõ là do phạm tội mà có (Điều 175). Luật về phòng, chống rửa tiền của Nhật Bản năm 1991 quy định hai tội phạm liên quan đến rửa tiền; đó là: tội che giấu những khoản bất lợi chính (Điều 9) và tội chấp nhận những khoản lợi bất chính (Điều 10). Bộ luật của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ quy định bốn tội phạm liên quan đến rửa tiền; đó là: tội về giao dịch tài chính (Điều 1956 (a)(1)); tội vận chuyển quốc tế (Điều 1956 (a)(2)); tội về tiền tệ (Điều 1957 (a)) và tội phạm được quy định tại Điều 1956(a)(2) 1956(a)(3).

2.   Quy định của pháp luật Việt Nam về tội rửa tiền

Tội rửa tiền lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 tại Điều 251 và thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự công cộng nhằm nội luật hóa Công ước Palermo năm 2000 với nội dung cụ thể như sau:

1.Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a)Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào giao dịch tài chính, ngân hàng hoặc giao dịch khác liên quan đến tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có nhằm che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của tiền, tài sản đó;

b) Sử dụng tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động khác;

c)Che giấu thông tin về nguồn gốc, bản chất thật sự, vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có hoặc cản trở việc xác minh các thông tin đó;

d)Thực hiện một trong các hành vi quy định tại các điểm a, b và c khoản này đối với tiền, tài sản biết rõ là có được từ việc chuyển dịch, chuyển nhượng, chuyển đổi tiền, tài sản do phạm tội mà có.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường họp sau đây, thì bị phạt tù t 3 năm đến 10 năm:

a)Có tổ chức;

b)Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c)Phạm tội nhiều lần;

d)Có tính chất chuyên nghiệp;

đ) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

e) Tiền, tài sản phạm tội có giá trị lớn;

g)Thu lợi bất chính lớn;

h)Gây hậu quả nghiêm trọng;

i)Tái phạm nguy hiếm.

3.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 5 năm đến 15 năm:

a)Tiền, tài sản phạm tội có giá trị rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

b)Thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

c)Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

4.Người phạm tội còn có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản; phạt tiền đến 3 lần số tiền hoặc giá trị tài sản phạm tội, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.

Việc trừng trị và phòng, chống tội rửa tiền tuy đã được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một văn bản nào (kể cả Bộ luật Hình sự) đưa ra khái niệm về tội rửa tiền một cách đầy đủ, khoa học và thống nhất. Để xác định chính sách hình sự và yêu cầu đấu tranh, phòng, chống tội phạm này, việc tìm ra khái niệm tội rửa tiền là rất cần thiết.

Tội phạm, theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chỉnh trị, chế độ kỉnh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tố chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN” [4] . Căn cứ vào quy định trên ta thấy, khái niệm tội phạm nói chung bao gồm các dấu hiệu sau: 1) Hành vi nguy hiểm cho xã hội; 2) Được quy định trong Bộ luật Hình sự; 3) Do người có đủ điều kiện chủ thể thực hiện; 4) Có lỗi cố ý hoặc vô ý; 5) Xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh xã hội, quyền, lợi ích họp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN.

Vì chưa có một văn bản nào (kể cả Bộ luật Hình sự) đưa ra khái niệm vê tội rửa tiền nên trong lý luận và thực tiễn còn có nhiu quan điếm khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì “tội rửa tiền là hành vi tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào giao dịch tài chính, ngân hàng hoặc giao dịch khác liên quan đến tin, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có nhằm che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của tin, tài sản đó; sử dụng tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động khác; che giấu thông tin về nguồn gốc, bản chất thật sự, vị trí, quá trình di chuyến hoặc quyn sở hữu đi với tin, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có hoặc cản trở việc xác minh các thông tin đó; thực hiện một trong các hành vi trên đi với tiền, tài sản biết rõ là có được từ việc chuyển dịch, chuyến nhượng, chuyến đi tiền, tài sản do phạm tội mà có”. Quan điếm thứ hai cho rằng, theo khoản 1 Điều 3 Nghị định số 74/2005/NĐ-CP ngày 07 tháng 6 năm 2005 về phòng, chống rửa tiền “tội rửa tiền là hành vi của cá nhân, tổ chức tìm cách hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có thông qua các hoạt động cụ thể sau đây: tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào một giao dịch liên quan đến tiền, tài sản do phạm tội mà có; thu nhận, chiếm giữ, chuyển dịch, chuyển đổi, chuyển nhượng, vận chuyển, sử dụng, vận chuyển qua biên giới tiền, tài sản do phạm tội mà có; đầu tư vào một dự án, một công trình, góp vn vào một doanh nghiệp hoặc tìm cách khác che đậy, ngụy trang hoặc cản trở việc xác minh nguồn gốc, bản chất thật sự hoặc vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản do phạm tội mà có”. Quan điểm thứ ba của Tổ chức chống rửa tiền quốc tế (Finance Action Task Force) cho rằng, "tội rửa tiền là hành vi cố ý hợp pháp hóa tiền và tài sản có nguồn gốc từ tội phạm” [5] .

Các quan điểm trên tuy đã lột tả được bản chất của hành vi rửa tiền nhưng chưa phù hợp với quy định về tội phạm tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự. Trên cơ sở khái niệm tội phạm nói chung, và các quan điểm nêu trên, chúng tôi đưa ra khái niệm tội rửa tiền như sau: Tội rửa tiền là hành vi tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào giao dịch tài chính, ngân hàng hoặc giao dịch khác liên quan đến tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có nhằm che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của tiền, tài sản đó; sử dụng tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động khác; che giấu thông tin về nguồn gốc, bản chất thật sự, vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có hoặc cản trở việc xác minh các thông tin đó; thực hiện một trong các hành vi trên đối với tiền, tài sản biết rõ là có được từ việc chuyển dịch, chuyển nhượng, chuyến đổi tiền, tài sản do phạm tội mà có, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 14 hoặc 16 tuổi trở lên cố ý thực hiện, xâm phạm đến trật tự công cộng.

II.    TÌNH HÌNH, THỰC TIỄN XÉT XỬ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN TỘI RỬA TIỀN

1.Tình hình tội rửa tiền

Đối với các nước đang phát triến như Việt Nam, khi nền kinh tế đang dần chuyển đổi sang cơ chế thị trường, với chủ trương mở cửa tương đối rộng rãi trong các khu vực tài chính và kinh tế nhằm thu hút đầu tư nên chúng càng trở thành những cái đích dễ ngắm đối với c hoạt động rửa tiền. Theo tài liệu của Interpol thì sự luân chuyển tiền mặt đang ngày càng gia tăng qua biên giới tới những thị trường quản lý lỏng lẻo trong việc phát hiện việc rửa tiền vào hệ thống tài chính và sự đầu tư đang gia tăng của những nhóm tội phạm có tổ chức vào lĩnh vực bất động sản và kinh doanh tại những thị trường ở các nước đang phát triển thì tội phạm rửa tiền đã và đang trực tiếp tác động tiêu cực đối với nền tài chính, kinh doanh và xã hội. Các cách thức, thủ đoạn phạm tội rửa tiền mà bọn phạm tội thường sử dụng và thực hiện qua các giai đoạn cơ bản như: sắp xếp, chia nhỏ và pha trộn những đồng tiền đã được tẩy rửa với những khoản tiền sạch. Trong khâu sắp xếp, số tiền phải được chuyển đổi để che giấu nguồn gốc bất hp pháp, ví dụ như tiền thu được do buôn bán ma tuý thường là tiền lẻ, mệnh giá nhỏ và số lượng lớn. Do đó, bọn tội phạm cần chuyển đổi những tờ giấy bạc này sang những đơn vị tiền tệ có mệnh giá lớn hơn như séc, tiền mặt hoặc những cách thức thanh toán khác thường được sử dụng để trao đổi tiền mặt như nhà hàng, khách sạn, các công ty kinh doanh máy bán hàng tự động, Casino... Trong khâu chia nhỏ, bọn tội phạm thường cổ gắng tìm cách che giấu đầu mối của số tiền qua các hoạt động phạm tội bằng cách chia nhỏ số tiền qua các vụ buôn bán lớn mà hầu hết các hoạt động buôn bán này không tồn tại trên thực tế. Ví dụ: muốn rửa một số tiền lớn thì chúng có thể thành lập công ty buôn bán ở nhiều nước mà các quy định của pháp luật về ngân hàng không có những điều khoản bảo mật tinh vi, khắt khe như buộc phải khai báo nguồn gốc, không cần chứng minh sự giao dịch hàng hoá trên thị trường... hoặc có những quy định về chống rửa tiền lỏng lẻo. số tiền này sau hàng loạt thao tác chuyến đổi được chia làm nhiều lần sẽ trở nên "sạch sẽ" bởi vì chúng được luân chuyến dưới những vỏ bọc hp pháp. Những vụ giao dịch như vậy cần được nguỵ trang và trà trộn trong hàng tỷ đô la giao dịch hợp pháp mỗi ngày, hình thức đòi nợ và hoá đơn đúp thường là những mánh khoé mà người phạm tội thường sử dụng. Trong hình thức "đòi nợ" bọn tội phạm thường gửi tiền ở nước ngoài đế bí mật kiểm soát và sau đó chuyển tiền đến các công ty để "đòi nợ" trở lại. Sở dĩ thủ đoạn này được sử dụng vì có đặc điếm là rất khó có thế xác định được ai là người thực sự quản lý số tiền đã được hợp thức hoá thành tài sản ở một số nước. Trong hình thức "hoá đơn đúp" việc chuyển tiền ra hoặc vào một quốc gia nào đó thì ngân hàng nước ngoài thường giữ hai quyển sổ hoá đơn để chuyn số tiền đã được tẩy sạch sang một nước khác. Ngoài ra, bọn tội phạm rửa tiền còn sử dụng một số thủ đoạn rửa tiền khác như mua các mặt hàng có giá trị lớn, chứng khoán, ô tô, máy bay, đồ trang sức... và đăng ký dưới một cái tên của người khác để tránh gây sự chú ý. Thậm chí, chúng cũng sử dụng các sòng bạc làm nơi rửa tiền vì ở đó chủ sòng bạc sẵn sàng nhận tiền mặt. Khi tiền mặt được chuyển thành séc, số tiền này sẽ trở thành tiền được bạc và có thế rút séc tại ngân hàng của sòng bạc. Khâu cuối cùng đồng hoá số tiền này là kỳ thu tiền của bọn tội phạm. Ở khâu này, những tên tội phạm sẽ chuyển tiền để đầu tư vào các lĩnh vực hp pháp trong nền kinh tể và thường là những hoạt động kinh tế lớn hơn như mua bất động sản, các hàng hoá cao cấp hoặc đầu tư vào lĩnh vực sản xuất hàng hoá... [6] .

Trong những năm qua, chúng ta đã điều tra khám phá nhiều băng nhóm tội phạm có tổ chức, nhiều đường dây buôn lậu, buôn bán ma tuý, nhiều nhóm mại dâm, bảo kê nhà hàng, sòng bạc... điển hình như đường dây buôn bán ma tuý xuyên quốc gia Xiêngphênh - Vũ Xuân Trường; đường dây buôn lậu của Tân Trường Sanh; Epcô - Minh Phụng; băng nhóm tội phạm hoạt động theo kiểu xã hội đen Dương Văn Khánh (Khánh Trắng); Trương Văn Cam (Năm Cam)... đã phát hiện ra nhiều tiền, tài sản bọn tội phạm đã hợp pháp hoá thông qua các hoạt động như thành lập các công ty, kinh doanh bất động sản, đầu tư các hoạt động kinh doanh dịch vụ…để che giấu nguồn gốc phi pháp của đồng tiền, gây khó khăn không nhỏ cho việc phát hiện, thu hồi các tài sản phạm pháp. Hoạt động rửa tiền ở nước ta đã và đang là một thách thức lớn đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật và đe doạ nghiêm trọng sự lành mạnh của môi trường kinh tế - xã hội [7] .

2.Thực tiễn xét xử và phương hướng hoàn thiện tội rửa tiền

Trước đây tội danh rửa tiền chưa có trong Bộ luật Hình sự 1985, từ khi được quy định trong Bộ luật Hình sự 1999 thực tiễn xét xử tội phạm này những năm gần đây cũng rất ít. Theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, năm 2004 đến 2008 có 11 vụ được xét xử với 12 bị cáo [8] . Như vậy, mỗi năm trung bình trong cả nước có khoảng 2 vụ xét xử với tội danh “hp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có”. Tỷ lệ này là không đáng kể so với các loại tội phạm khác.

Qua lý luận và các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm chúng tôi nhận thấy những khó khăn vướng mắc khi áp dụng trong thực tiễn như sau:

Thứ nhất, trong cấu thành tội phạm hiện nay không quy định cụ thể hp pháp s lượng tiền, tài sản được rửa có giá trị là bao nhiêu thì bị coi là tội phạm và cũng chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về loại tội phạm này, vì vậy, thực tiễn cũng còn những vướng mắc nhất định và áp dụng thiếu thống nhất. Theo chúng tôi, lấy mức 500 triệu đồng tiền mặt là mức giao dịch của cá nhân, tổ chức gửi tiết kiệm trong một ngày phải báo cáo theo quy định trong Nghị định của Chính phủ về phòng, chng rửa tiền (Điều 9) thì bị coi là tội phạm là hợp lý. Như vậy, nếu giao dịch trong một ngày hay nhiều ngày mà không báo cáo với giá trị tài sản hay tiền mặt từ 500 triệu đồng trở lên thì có thể coi là giao dịch đáng ngờ (Điều 10) và có đủ chứng cứ nhằm hợp pháp hoá số tiền nêu trên thì coi là tội phạm. Chúng tôi cho rằng, việc xác định giá trị tài sản do phạm tội mà có được hp pháp hoá là rất quan trọng để làm cơ sở xác định mức được coi là tội phạm và nên quy định rõ trong luật hình sự như các loại tội phạm khác để có sự thống nhất trong quá trình áp dụng [9] .

Thứ hai, trong cấu thành tội phạm cơ bản không nhất thiết buộc người phạm tội phải nhận thức được tài sản đó do phạm tội mà có, mà chỉ cần họ biết tài sản có được là bất hợp pháp mà có và các cơ quan Tư pháp chỉ cần chứng minh tài sản do thu nhập bất hợp pháp chứ không buộc phải chứng minh là tài sản do phạm tội mà có. Như vậy, mới dễ dàng hơn trong việc xét x loại tội phạm này. Đây chính là kinh nghiệm của Liên Bang Nga cần được nghiên cứu áp dụng trong thực tiễn ở Việt Nam.

Thứ ba, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, việc rửa tiền, tài sản do phạm tội mà có nhiều khả năng chứa đựng nhân tố nước ngoài như người nước ngoài hợp pháp hoá tiền, tài sản... ở Việt Nam hoặc ngược lại người Việt Nam có thể hợp pháp hoá tài sản... ở nước ngoài hay thông qua tổ chức tài chính của nước ngoài ở Việt Nam. Do vậy, quy định hiện hành trong Điều 251 Bộ luật Hình sự hiện nay chưa đáp ứng được thực tiễn phòng ngừa tội phạm có tính quốc tế nói chung và tội phạm rửa tiền nói riêng. Theo chúng tôi, cần tăng nặng trách nhiệm hình sự trong trường họp sử dụng thủ đoạn "rửa tiền ở nước ngoài hay thông qua tổ chức tài chính của nước ngoài""sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin để phạm tội"... do tính tinh vi, xảo quyệt và tính chất phức tạp của hành vi rửa tiền này [10]

Thứ tư, theo chúng tôi, việc để quy định tại khoản 3 Điều 251 với nội dung tiền, tài sản có giá trị rất lớn và đặc biệt lớn... cũng như thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn trong cùng khung hình phạt của điều luật là không phù hợp với xu hướng cá thể hoá trách nhiệm hình sự hiện nay bởi rất khó cho việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và nhất là cá thể hoá hình phạt. Cho nên, chúng tôi kiến nghị cần tách trường hợp dấu hiệu tăng nặng tại điểm a, b, c khoản 3 các nội dung tiền, tài sản có giá trị lớn hoặc đặc biệt lớn... thành khung hình phạt riêng biệt mới hợp lý. Đồng thời, cụ thể hoá các dấu hiệu tiền, tài sản phạm tội rất lớn hoặc đặc biệt lớn... ngay trong quy định của Điều luật.

Thứ năm, về chế tài xử phạt, chúng tôi thấy rằng, xét về lâu dài thì cần phải nghiên cứu một cách thấu đáo, toàn diện vấn đề chế tài xử phạt đối với hành vi rửa tiền theo hướng ngoài hình phạt tù cần đa dạng hoá các loại hình phạt chính khác như phạt tiền, cải tạo không giam giữ để tạo điều kiện cho Toà án có thể lựa chọn áp dụng trong những trường hợp cụ thể, nhất là những trường hợp tính chất hành vi rửa tiền không quá nghiêm trọng, tội phạm chưa gây hậu quả hoặc hậu quả gây ra không lớn... [11] . Hơn nữa, tội rửa tiền có tính kinh tế vì vậy cần có quy định chế tài đánh mạnh vào kinh tế của người phạm
tội, đồng thời, quy định có tính đến mức độ tiền phạt sao cho đủ mức trừng trị, giáo dục và răn đe người phạm tội13.

Với các định hướng hoàn thiện nêu trên, nội dung cấu thành tội phạm có thể quy định như sau:

Điều 251. Tội rửa tiền (cũ)

1.       Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a.    Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào giao dịch tài chính, ngân hàng hoặc giao dịch khác liên quan đến tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có nhằm che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của tiền, tài sản đó;

b.    Sử dụng tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động khác;

c.     Che giấu thông tin về nguồn gốc, bản chất thật sự, vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có hoặc cản trở việc xác minh các thông tin đó;

d.Thực hiện một trong các hành vi quy định tại các điểm a, b và c khoản này đối với tiền, tài sản biết rõ là có được từ việc chuyển dịch, chuyển nhượng, chuyển đổi tiền, tài sản do phạm tội mà có.

2.    Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm:

a)   Có tổ chức;

b)   Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c)   Phạm tội nhiều lần;

d)   Có tính chất chuyên nghiệp;

đ) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

e)   Tiền, tài sản phạm tội có giá trị lớn;

g)   Thu lợi bất chính lớn;

h)   Gây hậu quả nghiêm trọng;

i)   Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hp sau đây, thì bị phạt tù từ 5 năm đến 15 năm:

a.    Tiền, tài sản phạm tội có giá trị rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

b.    Thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

c.    Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

4.    Người phạm tội còn có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản; phạt tiền đến 3 lần số tiền hoặc giá trị tài sản phạm tội, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.

 

 

 

Điều 251. Tội rửa tiên (mới)

1.   Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây với sổ tiền hoặc tài sản có giả trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới mười tỷ đồng, thì bị phạt tiền từ một đến ba lần số tiền, giá trị tài sản phạm tội, cải tạo không giam giữ từ sáu tháng đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm:

a.     Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào giao dịch tài chính, ngân hàng hoặc giao dịch khác liên quan đến tiền, tài sản biết rõ là do phạm pháp mà có nhằm che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của tiền, tài sản đó;

b.      Sử dụng tiền, tài sản biết rõ là do phạm pháp mà có vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động khác;

c.Che giấu thông tin về nguồn gốc, bản chất thật sự, vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản biết rõ là do phạm pháp mà có hoặc cản trở việc xác minh các thông tin đó;

d.Thực hiện một trong các hành vi quy định tại các điểm a, b và c khoản này đổi với tiền, tài sản biết rõ là có được từ việc chuyển dịch, chuyển nhượng, chuyển đổi tiền, tài sản do phạm pháp mà có.

2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tủ từ ba năm đến mười năm:

a)  Có tổ chức;

b)  Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c)  Phạm tội nhiều lần;

d)  Có tính chất chuyên nghiệp;

đ) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

e)     Tiền hoặc tài sản cỏ giá trị từ mười tỷ đồng đến dưới một trăm tỷ đồng;

g)   Thu lợi bất chính lớn;

h)   Gây hậu quả nghiêm trọng;

i)  Tái phạm nguy hiểm;

k) Rửa tiền ở nước ngoài hay thông qua tô chức tài chính của nước ngoài; l) Sừ dụng các phương tiện công nghệ thông tin đế phạm tội.

3.   Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đên mười lăm năm:

a) Tiền hoặc tài sản cỏ giá trị từ một trăm tỷ đồng đến dưới một nghìn tỷ đông;

b)Thu lợi bất chính rất lớn;

c)Gây hậu quả rất nghiêm trọng;

4.   Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Tiền hoặc tài sản có giả trị từ một nghìn tỷ đông;

b.   Thu lợi bất chỉnh đặc biệt lởn;

c.   Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5.Người phạm tội còn có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản; phạt tiền đến 3 lần số tiền hoặc giá trị tài sản phạm tội, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

 

 Với nội dung cu thành tội phạm của tội rửa tin được quy định như trên, phần nào có thể đáp ứng được yêu cầu đu tranh phòng, chống loại tội phạm này trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.

c.     KẾT LUẬN VẤN ĐỀ

Là một trong những loại tội phạm diễn biến phức tạp và đ lại nhiều hậu quả xấu cho xã hội, tội rửa tiền đang được Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân cả nước hết sức quan tâm đấu tranh phòng, chống. Một trong những giải pháp đấu tranh phòng, chng có hiệu quả nhất đối với loại tội phạm này, theo chúng tôi, đó là hoàn thiện quy định của pháp luật về tội mua dâm người chưa thành niên, cả về khái niệm tội phạm và hành vi khách quan của tội phạm, cả về phương tiện phạm tội và chủ thể của tội phạm và đặc biệt là quy định về tình tiết tăng nặng định khung và hình phạt đối với loại tội phạm nguy hiểm này./.

Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Hình sự hóa và thực thi pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong Công ước của Liên hợp quốc và pháp luật Việt Nam.

 

[3]   Xem thêm: Nguyễn Văn Hoàn (2009), “Sửa đổi, bổ sung quy định cùa Bộ luật Hình sự về tội rửa tiền góp phần tháo gỡ khó khăn trong thực tiễn và đáp ứng yêu cầu cùa hội nhập quốc tế”, Tạp chí Kiểm sát, (số 4), tr. 56-61.

[4]   Xêm thêm: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2000), Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Hà Nội.

5  Xem thêm: http://www.saga.vn/Taichinh/Taichinhquocte/2999.saga

 [6]  Xem thêm: Nông Xuân Trường (2005), "Tìm hiểu về việc phòng chống tội phạm rửa tiền trên thế giới", Tạp chí Kiểm sát, (số 9), tr. 52-54.

 

[7] Xem thêm: Trần Minh Hưởng (2003), "Tội phạm rửa tiền và các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tội phạm rửa tiền", Tạp chí Kiểm sát, (số 11 ), tr. 29-31 +34.

[8] Xem thêm: Thống kê của phòng tổng hợp Tòa án nhân dân tối cao - Án hình sự sơ thẩm 2004 - 2008.

[9]    Xem thêm: Lê Đăng Doanh (2009), Tội rửa tiền - lý luậnthực tiễn, trong Đe tài: "Cảc tội xâm phạm trật tự công cộng theo quy định của Bộ luật Hình sự - những vấn đề lý luận và thực tiễn”. Chủ nhiệm đề tài: Tiến sĩ Cao Thị Oanh, Giảng viên Bộ môn Luật Hình sự, Trường Đại học Luật Hà Nội.

" Xem thêm: Nguyễn Văn Hoàn (2009), “Sửa đổi, bổ sung quy định của Bộ luật Hình sự về tội rửa tiền góp phần tháo gỡ khó khăn trong thực tiễn và đáp ứng yêu cầu cùa hội nhập quốc tế”, Tạp chí Kiểm sát, (số 4), tr. 56-61.         _ -            .

[11]   Xem thêm: Nguyễn Văn Hoàn (2009), “Sửa đổi, bố sung quy định của Bộ luật Hình sụ về tội rửa tiền góp phần tháo gỡ khó khăn trong thực tiễn và đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế”, Tạp chí Kiểm sát, (số 4), tr. 56-61.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi