Nghiên cứu, so sánh các quy định của Luật hình sự Việt Nam với Công ước của Liên hợp quốc về tội nhận hối lộ

TS Hoàng Văn Hùng - Trưởng bộ môn, Khoa Luật hình sự,

Trường Đại học Luật Hà Nội

Đấu tranh phòng chống các tội phạm về hối lộ đã và đang thu hút sự quan tâm của các nhà lãnh đạo quốc gia, các nhà nghiên cứu pháp luật, các nhà áp dụng pháp luật và đông đảo những người thực thi công tác xã hội tại các quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam. Tham nhũng đe doạ xâm phạm đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, xâm phạm các giá trị đạo đức, nguyên tắc của nhà nước pháp quyền. Nghiên cứu so sánh các quy định cùa luật hình sự Việt Nam và các quy định trong công ước quốc tế về phòng chống tham nhũng nói chung và tội nhận hối lộ nói riêng là rất cần thiết. Sự tương đồng và khác biệt trong các quy định có thể là cơ sở cần thiết cho công tác lập pháp, hướng dẫn áp dụng và thực thi pháp luật của mỗi quốc gia.

Xác định nghĩa vụ của công chức nhà nước và thể hiện thái độ không khoan nhượng đối với tệ nạn tham nhũng, Điều 8 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, lỉên hệ chặt chẽ với nhân dân, lẳng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng".

Để đảm bảo uy tín cơ quan nhà nước, bảo vệ các lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tập thể và công dân, bảo đảm cho các cơ quan nhà nước hoạt động đúng đắn và chống tội phạm trong lĩnh vực này, Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật hình sự về các tội phạm tham nhũng sắc lệnh sổ 223/SL được ban hành ngày 17/11/1946 quy định tội đưa hối lộ cho công chức, tội công chức nhận hối lộ hoặc phù lạm, biển thủ công quỹ. Mặc dù được xây dựng trong những năm đầu thành lập Nhà nước nhưng sắc lệnh số 223/SL đã thể hiện thái độ lên án đối với tội hối lộ, những hành vi khác lợi dụng chức vụ xâm phạm đến tài sản nhà nước đảm bảo cho các cơ quan nhà nước hoạt động đúng đắn và có hiệu quả cao.

Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân cùng được ban hành ngày 21 tháng 10 năm 1970. Hai pháp lệnh này được ban hành nhằm bảo vệ cơ sở vật chất của nhà nước và tạo cơ sở pháp lí cho phòng, chống tội phạm. Trong các pháp lệnh trên có quy định một số tội phạm về tham nhũng là: tội tham ô; tội lạm dụng chức quyền chiếm đoạt tài sản riêng của công dân...

Sắc luật số 03 được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban hành ngày 15 tháng 3 năm 1976. Sắc luật 03 quy định thêm tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn và quy định tội đưa và nhận hối lộ. Pháp lệnh trừng trị các tội hối lộ được ban hành ngày 20 tháng 5 năm 1981. Pháp lệnh này thay thế các văn bản pháp luật hình sự được ban hành trước đó về các tội hối lộ.b Lần đầu tiên trong Pháp lệnh, tội đưa hối lộ và môi giới hối lộ được quy định tại điều luật độc lập; các dấu hiệu pháp lí được điều luật mô tả, các tình tiết tăng nặng và tăng nặng đặc biệt được quy định trong những điều khoản riêng. Pháp lệnh này loại bỏ được những hạn chế của các văn bản pháp luật hình sự trước đây và giúp cho việc phân hoá trách nhiệm hình sự và cá thể hoá hình phạt được thuận lợi, chính xác. Pháp lệnh tạo khả năng pháp lí trong việc phòng, chống tội phạm trong thực tiễn đạt hiệu quả.

Năm 1985, Bộ luật hình sự đầu tiên của Việt Nam được ban hành ngày 27 tháng 6. Kế thửa kinh nghiệm lập pháp hình sự và kinh nghiệm đấu tranh phòng, chống tội phạm những năm trước đây, Bộ luật hình sự năm 1985 dành một chương quy định tội phạm về tham nhũng. Năm 1999, Bộ luật hình sự mới của Nhà nước ta được Quốc hội thông qua ngày 21 tháng 12 đã kế thừa kinh nghiệm lập pháp, đấu tranh phòng, chống tội phạm kể từ khi có Bộ luật hình sự năm 1985 và trước đó cũng như có dự kiến tình hình tội phạm trong thời gian tới. Chương XXI Bộ luật hình sự năm 1999 có quy định tội phạm về chức vụ, trong đó mục A quy định các tội phạm về tham nhũng và mục B quy định các tội phạm khác về chức vụ.

So sánh quy định về tội nhận hối trong Công ước của Liên hợp quốc và trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 cho thấy có những nét tương đồng và một số điểm khác biệt nhất định. Xem xét, nghiên cứu về những điểm khác biệt này có thể tạo ra định hướng trong công tác lập pháp và hướng dẫn thực thi pháp luật của quốc gia.

1.      Sự giống nhau của các quy định về tội nhận hối lộ trong Công ước của liên hợp quốc và Bộ luật hình sự Việt Nam

Chương III Công ước của Liên hợp quốc quy định về hành vi nhận hối lộ tại Điều 15,16 như sau:

“Điều 15. Hối lộ công chức quốc gia

Mỗi Quốc gia thành viên áp dụng các biện pháp lập pháp và các biện pháp cần thiết khác để quy định thành tội phạm các hành vi sau đây, nếu được thực hiện một cách cố ý:

(a   Hứa hẹn, tặng hay cho, trực tiếp hay gián tiếp, công chức bất kỳ một lợi ích bất chính cho chính bản thân công chức ấy hay cho một người hoặc một tổ chức khác, để công chức này làm hoặc không làm một việc trong quá trình thi hành công vụ;

(b) Hành vi của công chức, trực tiếp hay gián tiếp, đòi hoặc nhận một lợi ích bất chính cho chính bản thân công chức hay cho người hoặc tổ chức khác, để công chức làm hoặc không làm một việc trong quá trình thi hành công vụ.

Điều 16. Hối lộ công chức nước ngoài hoặc công chức của tổ chức quốc tế công

1.   Mỗi Quốc gia thành viên áp dụng các biện pháp lập pháp và các biện pháp cần thiết khác để quy định thành tội phạm khi được thực hiện một cách cố ý hành vi hứa hẹn, tặng hay cho, trực tiếp hay gián tiếp, công chức nước ngoài hoặc công chức của tổ chức quốc tế công một lợi ích bất chính cho bản thân công chức hoặc người hay tổ chức khác, để công chức đó làm hoặc không làm một việc trong quá trình thi hành công vụ, nhằm có được hoặc duy trì công việc kinh doanh hay lợi thế bất chính khác liên quan đến việc tổ chức hoạt động kinh doanh quốc tế.

2.   Mỗi Quốc gia thành viên xem xét áp dụng các biện pháp lập pháp và các biện pháp cần thiết khác để quy định thành tội phạm khi được thực hiện một cách cố ý hành vi của công chức nước ngoài hoặc công chức của tổ chức quốc tế công đòi hoặc chấp nhận một cách trực tiếp hay gián tiếp lợi ích bất chính cho bản thân công chức hoặc người hay tổ chức khác, để công chức đó làm hoặc không làm một việc trong quá trình thi hành công vụ”.

Trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 sau khi sửa đổi và bổ sung tội nhận hối lộ được quy định như sau:

“Điều 279. Tội nhận hối lộ

Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: a) Gây hậu quả nghiêm trọng; b) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm; c) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm: a) Có tổ chức; b) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn; c) Phạm tội nhiều lần; d) Biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước; đ) Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt; e) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng; g) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.

3.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm: a) Của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng; b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác.

4.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình: a) Của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên; b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.

5. Người phạm tội cần bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Nghiên cứu quy định của luật, các văn bản hướng dẫn thi hành, áp dụng pháp luật, tham khảo thực tiễn đấu tranh phòng chống tội nhận hối lộ tại Việt Nam và Điều 15,16 của Công ước chống tham nhũng của Liên hợp quốc cho thấy có những điểm giống nhau cơ bản sau:

Thứ nhất, Người phạm tội nhận hối lộ phải là người có chức vụ quyền hạn.

Về người phạm tội nhận hối lộ thì luật hình sự Việt Nam cũng như Công ước chống tham nhũng của Liên hợp quốc đều xác định đó phải là công chức nhà nước, là người thông qua các hoạt động bầu cử hoặc được cấp trên bổ nhiệm vào một vị trí nhất định trong cơ quan hoặc tổ chức. Những người này thông thường được hưởng lương hoặc trong trường hợp nhất định, đặc biệt, họ có thể không hưởng lương. Điều này có nghĩa rằng họ làm việc hoàn toàn tự nguyện và không hưởng bất kỳ một khoản lương hoặc phụ cấp vật chất nào.

Khi thực thi công việc được giao người có chức vụ quyền hạn, là người phạm tội, có những quyền và nghĩa vụ tuỳ theo nhiệm vụ được đảm nhiệm.

Thứ hai, người phạm tội nhận hối lộ thực hiện tội phạm một cách cố ý.

Khi thực hiện hành vi nhận của hối lộ, họ biết hành vi của mình là hoàn toàn trái với quy định của pháp luật, quy tắc xử sự của công chức và đạo đức nghề nghiệp nhưng do mong muốn có được những lợi ích vật chất nhất định cho mình hoặc một nguời khác nên họ vẫn thực hiện hành vi nhận hối lộ.

Thứ ba, người sẽ nhận của hối lộ cũng bị coi là phạm tội nhận hối lộ và bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điều 179 Bộ luật hình sự Việt Nam và Điều 15,16 Công ước chống tham nhũng đều quy định: người có chức vụ quyền hạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong hai trường hợp thực tế. Đó là khi người có chức vụ quyền hạn nhận của hối lộ để làm một việc hoặc không làm một việc theo yêu cầu của người đưa và trường hợp sẽ nhận của hối lộ.

Trường hợp sẽ nhận của hối lộ là trường hợp người có chức vụ quyền hạn đã thống nhất ý chí với người đưa hối lộ về của hối lộ sẽ nhận cũng như về công việc sẽ làm hoặc không làm theo yêu cầu của người đưa.

Thứ tư, của hối lộ có thể là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác.

Người đưa hối lộ thường đưa cho người có chức vụ, quyền hạn tiền ( bao gồm cả tiền Việt Nam hoặc ngoại tệ), tài sản (bao gồm cả động sản và bất động sản) hoặc lợi ích vật chất khác như các loại vé đi nghỉ mát, chữa bệnh, đi du lịch trong nước và nước ngoài.

Thứ năm, người nhận hối lộ có thể nhận trực tiếp hoặc qua trung gian môi giới.

Đề cấu thành tội nhận hối lộ, người có chức vụ quyền hạn có thể nhận trực tiếp từ người đưa hối lộ của hối lộ như tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác. Tuy nhiên để tránh sự phát hiện của các cơ quan tư pháp và công dân trong xã hội, người có chức vụ quyền hạn có thể nhận của hối lộ thông qua một người hoặc nhiều người môi giới.      

Thứ sáu, người có chức vụ quyền hạn nhận hối lộ để làm một việc hoặc không làm một việc trong quá trình thực thi công vụ theo yêu cầu của người đưa hối lộ.

Tính chất chung của hiện tượng hối lộ là một thoả thuận, giao dịch bất hợp pháp. Trong đó cả hai phía trong giao dịch này đề hưởng lợi: người có chức vụ quyền hạn thì nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, người đưa hối lộ thì được người có chức vụ quyền hạn làm cho một việc hoặc không làm một việc đáng ra phải làm theo tính chất của sự việc.

Do được giao thực hiện một loại công vụ nhất định cho nên người nhận hối lộ có quyền;và nghĩa vụ nhất định khi thực hiện công vụ đó. Người nhận hối lộ đã lợi dụng công vụ để nhận hối lộ và làm một việc hoặc không làm một việc trong thi hành công vụ theo yêu cầu của người đưa hối lộ.

2.      Sự khác nhau của quy định về tội nhận hối lộ giữa trong Công ước của liên hợp quốc và Bộ luật hình sự Việt Nam

Tuy có sự giống nhau về cơ bản trong quy định về tội nhận hối lộ tại Bộ luật hình sự Việt Nam và Công ước của Liên hợp quốc chống tham nhũng nhưng giữa hai văn bản pháp lý này còn có những khác biệt.

Thứ nhất, khái niệm công chức (người nhận hối lộ) trong Công ước chống tham nhũng rộng hơn, cụ thể hơn khái niệm tương ứng trong luật hình sự Việt Nam.

Theo Điều 2 của Công ước chống tham nhũng của Liên hợp quốc, công chức có các đặc điểm sau:

a. Giữ chức vụ lập pháp, hành pháp hoặc tư pháp;

b. Làm việc thường xuyên hoặc không thường xuyên;

c. Được trả lương hoặc không trả lương.

Ngoài ra cũng trong Điều 2 của Công ước còn ghi nhận: công chức có thể là bất kỳ người nào thực hiện “chức năng công hoặc cung ứng dịch vụ công”.

Các đặc điểm trên đây đã được thể hiện trong quy định về người có chức vụ quyền hạn trong Điều 277 Bộ luật hình sự Việt Nam:

“Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ. Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ”.

Như vậy, trong quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam thì “người có chức vụ quyền hạn... do một hình thức khác” không thể hiện hết nội dung của Điều 2 của Công ước của Liên hợp quốc chống tham nhũng.

Thứ hai, phạm vi của hối lộ trong quy định của Công ước của Liên hợp quốc rộng hơn quy định của luật hình sự Việt Nam.

Theo luật hình sự Việt Nam thì của hối lộ chỉ có thể thuộc các dạng sau đấy:

+ Tiền, bao gồm cả tiền Việt Nam và ngoại tệ;

+ Tài sản thuộc mọi hình thức khác nhau;

+ Lợi ích vật chất khác mà không phải là tiền hoặc tài sản.

Theo Điều 15,16 Công ước chống tham nhũng của Liên hợp quốc thì ngoài các loại của hối lộ như quy định trong luật hỉnh sự Việt Nam thì của hối lộ còn có thể là các “ lợi ích bất chính” khác.

Đây có thể coi là một sự khác nhau cơ bản giữa luật hình sự Việt Nam và Công ước của Liên hợp quốc về tội nhận hối lộ. Lợi ích bất chính khác có thể là các lợi ích tinh thần mà người có chức vụ quyền hạn nhận được từ người đưa hối lộ để họ làm hoặc không làm một việc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.

Lợi ích bất chính khác trong thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm về hối lộ ở Việt Nam có thể là được nhận các danh hiệu, huân chương, huy chương hoặc các biểu hiện vinh dự khác của nhà nước. Lợi ích bất chính khác, cũng có thể là một bài báo ca ngợi cá nhân người có chức vụ quyền hạn. Lợi ích bất chính khác cũng có thể là hành vi tình dục mà người có chức vụ quyền hạn nhận từ người đưa hối lộ để đổi lại họ làm hoặc không làm một việc theo yêu cầu của người đưa.

Thứ ba, Công ưởc của Liên hợp quốc quy định rõ rằng người nhận hối lộ là nhận của hối lộ cho mình, cho người khác hoặc cho một tổ chức.

Luật hình sự Việt Nam chỉ quy định “người nào nhận” mà không thể hiện rõ là nhận cho mình hoặc cho người khác hoặc cho một tổ chức.

Giữa luật hình sự Việt Nam và Công ước của Liên họp quốc còn có những điểm khác nhau trong quy định về tội nhận hối lộ. Những nội dung khác nhau này ảnh hưởng đến hiệu quả của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm tham nhũng nói chung và tội nhận hổi lộ nói riêng.

Trong sự hợp tác giữa các cơ quan của Liên hợp quốc và Việt Nam chắc rằng khoảng cách giữa luật quốc gia và quốc tế ngày càng sích lại gần nhau, đặc biệt trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi