Tội mua dâm người chưa thành niên- lý luận và thực tiễn

TS.Đỗ Đức Hồng Hà – Ban thư ký Bộ Tư pháp

Trong những năm qua, các quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) Việt Nam về tội mua dâm người chưa thành niên đã góp phần quan trọng vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này. Tuy nhiên, xuất phát từ thực liễn hiện nay, các quy định đó còn chưa thật cụ thể và đầy đủ. Nhận thức về tội phạm này có nơi, có lúc còn chưa nhất quán. Trong một số trường hợp cơ quan bảo vệ pháp luật vẫn còn lúng túng, chưa có quan điểm thống nhất hoặc mắc phải thiếu sót trong việc giải quyết các vụ án về tội mua dâm người chưa thành niên. Để thống nhất trong nhận thức và đúng đắn trong áp dụng các quy định của BLHSvề tội mua dâm người chưa thành niên, trong bài viết này, chúng tôi tập trung nghiên cứu một cách khoa học toàn diện, có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về tội mua dâm người chưa thành niên.

1.  Lý luận về tội mua dâm người chưa thành niên

1.1. Khái niệm tội phạm mua dâm người chưa thành niên

Từ trước tới nay hành vi trừng trị tội mua dâm người chưa thành niên đã được Nhà nước ta chú trọng, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một văn bản nào (kể cả BLHS) đưa ra khái niệm về tội mua dâm người chưa thành niên. Để xác định chính sách hình sự và yêu cầu của công cuộc đấu tranh, phòng, chống tội phạm này, việc tìm ra khái niệm tội mua dâm người chưa thành niên là rất cần thiết.

Vì chưa có một văn bản nào (kể cả BLHS) đưa ra khái niệm về tội mua dâm người chưa thành niên nên trong lý luận và thực tiễn còn có nhiều quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng, "Tội mua dâm người chưa thành niên là hành vi mua dâm dưới bất kỳ hình thức nào đối với người chưa thành niên" [1] . Quan điểm thứ hai cho rằng, "Tội mua dâm người chưa thành niên là hành vi thỏa thuận tiền hoặc lợi ích vật chất khác, cho người chưa thành niên và thực hiện hành vi giao cấu với người chưa thành niên nhằm thỏa mãn dục vọng của mình " [2] . Quan điểm thứ ba cho rằng, "Tội mua dâm người chưa thành niên là hành vi của người phạm tội dùng tiền hoặc vật chất mua chuộc người chưa thành niên để người chưa thành niên đồng ý cho giao cấu " [3] . Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tội mua dâm người chưa thành niên, nhưng qua phân tích, chúng tôi thấy các quan điểm trên có những điểm chung đó là: l) Đều là hành vi của người đã thanh niên; 2) Đều dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác để người chưa thành niên từ 13 đến dưới 18 tuổi cho giao cấu.

Theo Điều 3 Pháp lệnh Phòng chống mại dâm ngày 14 tháng 3 năm 2003 thì: "Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu" [4] .

Trên cơ sở khái niệm tội phạm nói chung, quy định của BLHS, Bộ luật Dân sự (BLDS), Pháp lệnh Phòng. chống mại dâm ngày 14 tháng 3 năm 2003 và các quan điểm về khái niệm tội mua dâm người chưa thành niên, chúng tôi đưa ra khái niệm tội mua dâm người chưa thành niên như sau: Tội mua dâm người chưa thành niên là hành vi dùng tài sản đề người từ 13 đến dưới 18 tuối cho giao câu, do người có năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) và từ đủ 18 tuối trở lên cố ý thực hiện, xâm phạm đến trật tự nơi công cộng.

1.2. Dấu hiệu pháp lý của tội mua dâm người chưa thành niên

1.2.1. Khách thể của tội mua dâm người chưa thành niên

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại. Xuất phát từ khái niệm khách thể của tội phạm nói chung, có thể xác đinh khách thể của tội mua dâm người chưa thành niên là trật tự công cộng. Hành vi mua dâm người chưa thành niên tác động tiêu cực đến nếp sống văn minh, huỷ hoại nhân cách con người, gây thiệt hại về vật chất, tinh thần cho nhiều gia đình, nhất là gia đình người bị hại, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác.

1.2.2. Một khách quan của tội mua dâm người chưa thành niên

Mặt khách quan của tội mua dâm người chưa thành niên là những biểu hiện của tội mua dâm người chưa thành niên ra thế giới khách quan. Trong tổng thể đó, có thể xác định mặt khách quan của tội mua dâm người chưa thành niên qua dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm và phương tiện phạm tội.

* Hành vi khách quan của tội phạm mua dâm người chưa thành niên. Theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh Phòng. chống mại dâm ngày 14 tháng 3 năm 2003 thì "Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu” [5] . Từ quy định này và quy định tại Điều 256 BLHS, có thể đưa ra khái niệm hành vi khách quan của tội mua dâm người chưa thành niên là hành vi của người đã thành niên dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm từ đủ 13 nhưng chưa đủ 18 tuổi để được giao cấu [6] .

Bản chất của hành vi mua dâm người chưa thành niên là việc chủ thể đã dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm từ đủ 13 nhưng chưa đủ 18 tuổi để được giao cấu. Vì vậy, nếu người nào tuy có hành vi giao cấu với người từ đủ 13 nhưng chưa đủ 18 tuổi mà không có hành vi dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm thì không phạm tội mua dâm người chưa thành niên. Trường hợp này họ có thể không phạm tội hoặc phạm tội khác như tội hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em, cưỡng dâm, cưỡng dâm trẻ em, giao cấu với trẻ em và loạn luân . Người nào giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi (dù trước đó họ cũng có hành vi dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm chưa đủ 13 tuổi) thì họ cũng không phạm tội mua dâm người chưa thành niên mà phạm tội hiếp dâm trẻ em được quy định tại khoản 4 Điều 112.

Để xác định tuổi của người bị hại, tiểu mục 2 mục 11 phần II Công văn số 81/2002/ TANDTC ngày 10 tháng 6 năm 2002 của Toà án nhân dân tối cao (TANDTC) về việc giải đáp các vấn đề nghiệp vụ đã hướng dẫn như sau: "a) Nếu xác định được tháng cụ thể, nhưng không xác định được ngày nào trong tháng đó thì lấy ngày mồng một của tháng đó làm ngày sinh của người bị hại để xem xét TNHS đối với bị can, bị cáo: b) Nếu xác định được quý cụ thể của năm, nhưng không xác định được ngày, tháng nào trong quý đó thì lấy ngày mồng một của tháng đầu của quý đó làm ngày sinh của người bị hại đế xem xét TNHS đối với bị can, bị cáo; c) Nếu xác định được cụ thể nửa đầu năm hay nửa cuối năm, nhưng không xác định được ngày, tháng nào của nửa đầu năm hay nửa cuối năm thì lấy ngày mồng một tháng giêng hoặc ngày mồng một tháng 7 tương ứng của năm đó làm ngày sinh của người bị hại để xem xét TNHS đối với bị can, bị cáo; d) Nếu không xác định được nửa năm nào, quý nào, tháng nào trong năm, thì lấy ngày mồng một tháng giêng của năm đó làm ngày sinh của người bị hại đế xem xét TNHS đối với bị can, bị cáo” [7] .

*Phương tiện phạm tội mua dâm người chưa thành niên: theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm ngày 14 tháng 3 năm 2003 thì phương tiện phạm tội mua dâm người chưa thành niên phải là "Tiền hoặc lợi ích vật chất khác". Tuy nhiên, cả về lý luận lẫn trong thực tiễn, phương tiện phạm tội mua dâm người chưa thành niên được xác định bao gồm: Tiền Việt Nam đồng, ngoại tệ, các giấy tờ có giá trị thanh toán khác hoặc đồ vật và các quyền về tài sản. Như vậy, rõ ràng so với từ ngữ dùng để diễn đạt trong điều luật thì khái niệm về phương tiện phạm tội của tội mua dâm người chưa thành niên được hiểu rộng hơn. Nói cách khác, nó được hiểu theo nghĩa của khái niệm tài sản . Theo Điều 163 BLDS năm 2005 thì tài sản bao gồm " Vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản " [8] .

1.2.3. Chủ thể của tội mua dâm người chưa thành niên

Theo quy định tại Điều 256 BLHS thì chủ thể của tội mua dâm người chưa thành niên là chủ thể đặc biệt - người có năng lực TNHS và đạt độ tuổi từ đủ 18 trở lên khi thực hiện tội phạm mua dâm người chưa thành niên. Khoản 1 Điều 13 BLHS năm 1999  quy định: Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu TNHS; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh [9] . căn cứ vào quy định trên người thực hiện hành vi mua dâm người chưa thành niên được xác định là có năng lực TNHS tại thời điểm họ thực hiện hành vi phạm tội nếu ở thời điểm đó họ nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà họ thực hiện, đồng thời, có khả năng điều khiển được hành vi ấy phù hợp với đòi hỏi của xã hội (nghĩa là họ không mắc bệnh tâm thân hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình hoặc tuy mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác nhưng họ không mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vỉ của mình).

1.2.4. Một chú quan của tội mua dâm người chưa thành niên

Theo quy định tại Điều 256 BLHS, thì tội mua dâm người chưa thành niên được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Trong tội mua dâm người chưa thành niên, chủ thể có ý thức lựa chọn xử sự gây thiệt hại cho xã hội trong khi có đủ điều kiện để không thực hiện hành vi đó. Người mua dâm người chưa thành niên nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị luật hình sự cấm, nhận thức rõ tính chất xâm phạm đến trật tự công cộng nhưng vẫn tìm mọi cách thực hiện. Mặt khác, tội mua dâm người chưa thành niên được xây dựng dưới dạng Cấu thành tội phạm (CTTP) hình thức - dấu hiệu hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành cơ bản của tội phạm này. Vì vậy, việc các chủ thể thực hiện hành vi mua dâm người chưa thành niên nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà vẫn quyết định thực hiện hành vi đó đã có thể khẳng định thái độ mong muốn hậu quả của chủ thể.

2. Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội mua dâm người chưa thành niên

2. 1. Thực tiễn định tội danh đối với tội mua dâm người chưa thành niên

Trong những năm qua, khi giải quyết các vụ án mua dâm người chưa thành niên, các cơ quan tiến hành tố tụng đã xử lý nhanh chóng, kịp thời, nghiêm minh. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được cũng còn một số trường hợp bỏ lọt tội phạm hoặc xử không đúng tội. Vụ án sau đây sẽ minh chứng cho nhận định này: Khoảng 17 giờ 20 ngày 07 tháng 5 năm 2001, Nguyễn Thành L. Chủ tịch Liên đoàn Lao động huyện Đ, tỉnh ĐL đến Liên đoàn Lao động tỉnh ĐL để liên hệ công tác. Tại Liên đoàn Lao động tỉnh, L được bố trí ở phòng khách nội bộ (trong cơ quan Liên đoàn Lao động tỉnh) để nghỉ qua đêm. Đến 20 giờ 30, L hỏi Đỗ Thế N làm nghề chạy xe ôm (là ông của chị U): "ở đây có chỗ nào vui vẻ không? Chỉ cho làm tý. N đồng ý và lấy xe máy chở L đến gặp Nguyễn Thị Nh. Sau khi nghe N nói L đang muốn mua dâm, Nh và L thoả thuận giá một lần là 200.000 đồng. Lúc này, có cháu Nguyễn Thị Hoàng O sinh năm 1985 đang ngồi xem ti vi. Nh hỏi O: "Có đi khách không? O đồng ý. N chở L, Nh, O đến phòng ngủ của L. L đưa N 7.000 đồng bảo N đi mua giúp bao cao su. Khoảng 15 phút sau, L trả cho N 10.000 đồng, rồi dẫn Nh. O lên phòng ngủ và lấy 200.000 đồng đưa cho Nh. Nh đưa lại cho cháu O 150.000 đồng rồi ra về. L đóng cửa lại, đưa cho O 02 bao sao su và ôm hôn, cởi áo của O... Được khoảng 5 phút, O nói với L cho O đi ăn tối. L đóng ý, O đi luôn không trở lại. L ra đường nhờ Nghĩa đi tìm O. nhưng không gặp. L trở về phòng ngủ . Sáng hôm sau, N đến nhà Nh hỏi: "Tại sao lấy tiền của L rồi mà không cho L giao cấu. N gọi O đến và đòi lại tiền. nhưng O bảo đã tiêu hết. N bực tức chửi bới gây mất trật tự và sự việc bị phát hiện. Vì hành vi trên, tại Bản cáo trạng số 65/KSĐT-TA ngày 22 tháng 01 năm 2002, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh ĐL đã truy tố Nguyễn Thị Nh và Đỗ Thế N về tội Môi giới mại dâm theo khoản 2 Điều 255 BLHS. Đối với Nguyễn Thành L, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh ĐL cho rằng L chưa thực hiện hành vi giao cấu, nên không cần thiết phải xử lý về mặt hình sự mà giao cho Công an thành phố B xử phạt hành chính 500.000 đồng. Sau khi thụ lý vụ án, TAND tỉnh ĐL ra quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung với các nội dung: "Xác minh làm rõ ý thức chủ quan của Nguyễn Thị Hoàng O đến chỗ L để làm gì? Có biết là đến đó để bán dâm không? Việc thoả thuận giá cả giữa Nh và L. O có biết không? Tại sao O nhận tiền của L?... Ngày 11  tháng 3 năm 2002, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh ĐL có Văn bản số 96, trả lời không chấp nhận yêu cầu điều tra bổ sung và yêu cầu khởi tố đối với L của TAND tỉnh ĐL với lý do: Tại Cơ quan điều tra, O khai, khi vào phòng ngủ của L, L đưa cho O 100.000 đồng. O đưa lại cho Nh 50.000 đồng và đây là cơ sở chứng minh O đã thoả thuận việc bán dâm với chị Nh và ông L. Theo kết quả giám định pháp y thì: "Cháu O da niêm mạc hồng, cơ thể gầy yếu..., màng trinh không tổn thương. Đối với Nguyễn Thành L tuy có hành vi mua dâm người chưa thành niên, nhưng xét thấy việc mua dâm chưa thành nên không cần phải xử lý về hình sự. Ngày 10 tháng 5 năm 2002, tại phiên toà sơ thẩm, cháu O khai: "Cháu đến ở phụ giúp gia đình cho chị Nh mới được mấy hôm. Tối xảy ra sự việc, thấy Nh rủ cháu đi chơi, nên cháu đi theo. Đến khi L ôm và cởi áo cháu, cháu sợ quá nên tìm cách lừa L để trốn..." Hội đồng xét xử đã nhận định: "Nguyễn Thành L chủ động đi tìm, nhờ N dẫn mối và thoả thuận xong giá cả với chị Nh, nhờ N đi mua bao cao su, trả tiền mua dâm cho chị Nh, cởi nút áo người bị hại... đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua dâm người chưa thành niên". Việc Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đ không khởi tố và truy tố L về tội danh trên là bỏ lọt người, lọt tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã xử phạt N và Nh mỗi tên hai năm tù, đồng thời, khởi tố Nguyễn Thành L tại phiên toà về tội danh trên [10] . Nghiên cứu vụ án trên chúng tôi thấy , quyết định của Tòa án là hoàn toàn đúng người, đúng tội. đúng pháp luật.

2.2. Thực tiễn định khung và quyết định hình phạt đối với tội mua dâm người chưa thành niên

Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội mua dâm người chưa thành niên trong thời gian qua cho thấy, nhìn chung khi định khung hình phạt và quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và triệt để các quy đính của pháp luật. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong định khung và quyết định hình phạt vẫn còn một số trường hợp vi phạm pháp luật. Những vụ án sau đây sẽ minh chứng cho nhận định này:

Vụ án 1: Từ cuối năm 2005 đến đầu năm 2008, thông qua những kẻ môi giới mại dâm, 3 đại gia Trần Thế V (48 tuổi, Phó giám đốc công ty TNHH TY ở xã P, huyện T, tỉnh B), Lê Văn Y (55 tuổi, Giám đốc công ty Kinh doanh vận tải ở thành phố QN. tỉnh B), Nguyên Văn N (56 tuổi, Kế toán trưởng Bưu điện huyện T, tỉnh B) đã nhiều lần mua dâm người chưa thành niên . Vốn xuất thân là nhưng "tay chơi" có tiếng, lắm tiền, nhiều của, nhóm khách này được nhiều em út săn đón chiều chuộng và sau đó họ lại trở thành người tìm kiếm, môi giới nhiều bé gái cho các quý ông "vui vẻ". Giá mỗi lần mua dâm trẻ em từ 500.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Được trả thù lao hậu hĩnh nên những “tú ông, tú bà" này liên tiếp giới thiệu cho những khách "VIP" trên nhiều bé gái khác. Kết quả điều tra xác định, Trần Thế V đã mua dâm 12 em, Nguyễn Văn N mua dâm 08 em, Lê Văn Y mua dâm 04 em. Theo quy định tại khoản 3 Điều 256 BLHS, những bị cáo này có thể bị xử phạt đến mười lăm năm tù. Tuy nhiên, TAND tỉnh B chỉ xử phạt Trần Thế Vinh và Lê Văn Y sáu năm tù; Nguyễn Văn N bảy năm tù cùng về tội Mua dâm người chưa thành niên. Việc xử phạt này theo chúng tôi là quá nhẹ, gây bất bình trong nhân dân và không đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống loại tội phạm nguy hiểm này [11] .

Vụ án 2: Ngày 07 tháng 01 năm 2009, TAND tỉnh Q đã xét xử các bị cáo Lê Văn N (sinh năm 1972, trú tại thị xã C, tỉnh QN); Vũ Thị Bốn (sinh năm 1989, trú tại huyện T, tỉnh H); Nguyễn Thị Tử (sinh năm 1990, trú tại thị xã C tỉnh Q). Nguyễn Thị B (sinh năm 1991, trú tại thị xã C, tỉnh Q) về tội Môi giới mại dâm; bị cáo Đỗ Bá D (sinh năm 1959, trú tại thị xã C tỉnh Q) về tội Môi giới mại dâm và mua dâm người chưa thành niên; Đoàn Văn Th (sinh năm 1962, trú tại quận Đ, thành phố H) về tội Mua dâm người chưa thành niên (D và Th nguyên là cán bộ của Công ty cổ phân Đầu tư, thương mại và dịch vụ - Tập đoàn công nghiệp T Việt Nam). Theo cáo trạng, tối ngày 26 tháng 5 năm 2008, Lê Văn N, Nguyễn Thị Th, Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị Y, Vũ Thị B đã môi giới cho Đỗ Bá D mua dâm cháu Đ.T.H.T (sinh năm 1993) với giá 15 triệu đồng tại khách sạn He-ri-tết; môi giới cho Đoàn Văn Th mua dâm cháu P. T. H. G (sinh năm 1992) với giá 15 triệu đồng cũng tại khách sạn He-ri-tết. Kết thúc phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị B và Nguyễn Thị Th mỗi bị cáo năm năm tù; Lê Văn N và Vũ Thị B mỗi bị cáo bảy năm tù và năm triệu đồng. Bị cáo Đỗ Bá D tám năm tù và năm triệu đồng; Đoàn Văn Th hai năm tù [12] . Trong vụ án này, Đoàn Văn Th đã mua dâm trẻ em thuộc điểm b khoản 2 Điều 256, với mức phạt tù từ ba năm đến tám năm. Tuy nhiên, Tòa án chỉ xử phạt Đoàn Văn Th hai năm tù là nhẹ, chưa tương xứng với tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.

3. Phương hướng hoàn thiện các quy định của BLHS và các văn bản có liên quan về tội mua dâm người chưa thành niên

Phân tích các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội mua dâm người chưa thành niên trong thời gian qua, mà đặc biệt là từ khi BLHS năm 1999 có hiệu lực đến nay, bên cạnh những ưu điểm, những thuận lợi cho việc áp dụng, Điều 256 BLHS vẫn còn có những quy định chưa cụ thể, chưa rõ ràng, chưa phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm này. Vì vậy, trong thời gian tới, các nhà lập pháp cần phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định của BLHS về tội mua dâm người chưa thành niên.

Thứ nhất, hoàn thiện quy định về phương tiện phạm tội mua dâm người chưa thành niên: khoản 1 Điều 256 BLHS tuy không quy định phương tiện phạm tội mua dâm người chưa thành niên, nhưng căn cứ vào Điều 3 Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm ngày 14 tháng 3 năm 2003 thì phương tiện phạm tội mua dâm người chưa thành niên là tiền hoặc lợi ích vật chất khác" [13] . Tuy nhiên, thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm này cho thấy, phương tiện phạm tội mua dâm người chưa thành niên được xác định bao gồm: Tiền Việt Nam đồng, ngoại tệ, các giấy tờ có giá trị thanh toán khác hoặc đồ vật, các quyền về tài sản. Vì vậy cần quy định rõ trong khoản 1 Điều 256 BLHS phương tiện phạm tội của tội mua dâm người chưa thành niên là tài sản. Theo Điều 163 BLDS năm 2005 thì tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản" [14] chứ không chỉ là tiền hoặc lợi ích vật chất khác.

Thứ hai, hoàn thiện quy định về chú thế của tội phạm mua dâm người chưa thành niên: Hiện nay, theo quy định tại Điều 256 BLHS thì bất kỳ ai (từ đủ 14 hoặc 16 tuổi trở lên, có năng lực TNHS) mua dâm người chưa thành niên đều bị truy cứu TNHS về tội mua dâm người chưa thành niên. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử chỉ xử lý người đã thành niên vì các cơ quan tiến hành tố tụng cho rằng, nếu người mua dâm là người chưa thành niên thì bản thân họ cũng chưa phát triển hoàn thiện về tâm sinh lý nên hành vi của họ chưa có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội và không cần phải xử lý họ về hình sự. Vì vậy, để thống nhất giữa quy định trong luật và thực tiễn áp dụng luật, Điều 256 cần quy định rõ chủ thể của tội phạm này phải là người đã thành niên.

Thứ ba, hoàn thiên quy định về tình tiết tăng nặng định khung: Để không những không bỏ lọt những trường hợp phạm tội nguy hiểm như Mua dâm thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm và Mua dâm làm nạn nhân chết mà còn bảo đảm sự thống nhất với quy định trong các điều luật khác của BLHS như Điều 111, Điều 113 . . , chúng tôi đề nghị bổ sung thêm tình tiết tăng nặng định khung Tái phạm nguy hiểm vào khoản 2 Điều 256 và tình tiết tăng nặng định khung "Hoặc làm nạn nhân chết" vào khoản 3 Điều 256.

Là một trong những loại tội phạm diễn biến phức tạp và để lại nhiều hậu quả xấu cho xã hội, tội mua dâm người chưa thành niên đang được Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân cả nước hết sức quan tâm đấu tranh phòng, chống. Một trong những biện pháp đấu tranh phòng, chống có hiệu quả loại tội phạm này là hoàn thiện quy định của B LHS về tội mua dâm người chưa thành niên, cả về phương tiện phạm tội chủ thể của tội phạm, khái niệm tội phạm và các tình tiết tăng nặng định khung theo hướng như đã nêu trên. Những kiến nghị sửa đổi, bổ sung này sẽ tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc để trừng trị và xử lý nghiêm hành vi phạm tội nguy hiểm này.

Nguồn: Tạp chí Tòa án số 10/2010



[1] Võ Khánh Vinh chủ biên (2001), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm), Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà nội, Tr.515-519.

[2] Khổng Văn Hà chủ biên (2005), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần các tội phạm, tập II, Học viện Cảnh sát nhân dân, Bộ môn pháp luật, Hà nội, Tr.107-108.

[3] Lê Cảm chủ biên(2003), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm), Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà nội, Tr.610-612.

[4] Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm ngày 14 tháng 3 năm 2003.

[5] Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm ngày 14 tháng 3 năm 2003.

[6] Nghị định số 150/2005/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ về Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội.

[7] Công văn số 81/2002/TANDTC ngày 16/6/2002 của TANDTC

[8] BLDS của nước CHXHCNVN năm 2005

[9] Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2000), BLHS của nước CHXHCNVN, Hà nội.

[10] Thành nhân (2002), “Nguyễn Thành Lim phạm tội mua dâm người chưa thành niên?”, Báo Pháp luật, số 24, tr.4.

[11] http://www2.eva.vn/index.php/news/detail/96/8988/Mua-dam-tre-em-thu-an-cao-nhat-7-nam-tu.eva.

[12] http://www.baomoi.com/info/Mua-dam-tre-vi-thanh-nien-2-can-bo-TKV-hau/toa/104/2341566.epi

[13] Pháp lệnh phòng, chống mại dâm ngày 14/3/2003

[14] BLDS của nước CHXHCNVN năm 2005.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi