Tìm hiểu về tội không tố giác tội phạm trong luật hình sự Việt Nam

Tội không tố giác tội phạm là một trong những tội phạm được quy định rất sớm trong luật hình sự Việt Nam.

 

Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức) là bộ luật chính thống và quan trọng nhất của triều đại nhà Lê đã đề cập đến tội không tố giác tội phạm tại Điều 500: “Những người biết có kẻ mưu phản loạn, mưu đại nghịch, thì phải đến mật báo ngay với các quan ty gần đó, nếu không tố cáo, thì xử tội lưu đi châu xa. Biết có kẻ chỉ trích nhà Vua hay là đặt ra những lời quái gở mà không đi báo, thì xử nhẹ hơn tội kể trên một bậc. Quan ty thấy báo mà không tâu lên hay đi bắt ngay (quan ở kinh thành thì phải tâu ngay, quan ở ngoài thì phải bắt ngay), để quá nửa ngày, thì cũng phải tội như kẻ không đi báo. Nếu là việc truy bắt còn phải sắp đặt nên quá thời hạn trên thì không phải tội”.

 

Điều 158 Bộ luật Hồng Đức đã phân biệt trách nhiệm phát hiện, tố giác tội phạm giữa quan và dân thường như sau: “Các quan giám lâm, quan chủ ty biết thuộc viên phạm tội mà không phát giác, xử biếm hai tư, đàn cư quan biết mà không phát giác, tội cũng như thế. Những người biết hàng xóm của mình phạm tội mà không phát giác, tội giảm một bậc…”.

 

Điều 355 Bộ luật Hồng Đức còn quy định việc khen thưởng cho người tố giác tội phạm: “Dân đinh mà tự thiến mình, thì xử tội lưu; ai thiến hộ hoặc chứa chấp kẻ ấy, thì giảm tội một bậc; các nhà lân cận không tố cáo, thì xử tội nhẹ hơn 2 bậc; xã quan không phát giác, thì xử tội đồ; người tố cáo đúng sự thật thì được thưởng một tước tư”. Điều 373 Bộ luật còn đồng nhất việc không tố giác tội phạm với che giấu tội phạm trong trường hợp quan biết mà không tố giác: “Những người cày ruộng đất công mà khai dối là cày cấy cho quan ty, để mong tránh đóng thuế, thì xử tội theo luật chiếm ruộng đất công. Quan ty dung túng thì cũng đồng tội; không biết thì không xử tội. Xã quan biết mà không tố giác thì xử tội giấu giếm; không biết thì được giảm 2 bậc; quan lộ huyện vô tình không biết thì xử tội biếm”.

 

Điều 504 Bộ luật Hồng Đức còn đề cập việc tố giác ông bà, cha mẹ, vợ chồng phạm tội: “Con cháu tố cáo ông bà, cha mẹ, nô tỳ tố cáo chủ có tội lỗi gì, đều xử tội lưu đi châu xa; vợ tố cáo chồng cũng bị tội trên. Tố cáo ông bà ngoại, cha mẹ và ông bà, cha mẹ về bậc tôn trưởng vào hàng cơ thân của chồng, cùng là nô tỳ tố cáo người vào bậc cơ thân của chủ, dẫu việc có thật, cũng phải tội biếm hay tội đồ; nếu là tội mưu phản, đại nghịch hay là mẹ đích, mẹ kế mà giết cha, cha mẹ nuôi giết con đẻ thì cho phép tố cáo”. Đây là quy định mang tính nhân văn, thể hiện truyền thống tôn kính đối với ông bà, cha mẹ, đồng thời kết hợp được chữ “hiếu” đối với sự tồn vong của đất nước. Chính vì vậy, mặc dù tại khoản 7 Điều 2 của Bộ luật này quy định bất hiếu là một trong mười tội ác (thập ác): “Bất hiếu là tố cáo, rủa mắng ông bà, cha mẹ, trái với lời cha mẹ dạy bảo”, nhưng Bộ luật này vẫn quy định: Nếu là tội mưu phản, đại nghịch hay là mẹ đích, mẹ kế mà giết cha, cha mẹ nuôi giết con đẻ thì cho phép tố cáo.

 

Điều 508 Bộ luật đã quy định cụ thể cách thức tố cáo: “Tố cáo tội người, thì phải ghi năm tháng và trình bày sự thực không được nói là việc còn ngờ (nói việc đó không đáng tin cũng vậy); trái luật này thì phải phạt 80 trượng; quan nhận những đơn trái lệ này, mà đem ra xét xử, thì phạt tiền 30 quan”.

 

Như vậy, trong Bộ luật Hồng Đức, tội không tố giác tội phạm đã được quy định tương đối cụ thể, chi tiết, thể hiện trình độ lập pháp hình sự rất cao của cha ông chúng ta thời kỳ này.

 

Sau Cách mạng tháng Tám, ngày 20/5/1981, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ. Mặc dù Pháp lệnh chưa đề cập tội không tố giác tội phạm, nhưng Điều 12 Pháp lệnh quy định việc khen thưởng cả về tinh thần và vật chất đối với những người có công phát hiện tội hối lộ: “Những người không nhận hối lộ và tố giác với cơ quan có trách nhiệm người đưa hối lộ hoặc người môi giới hối lộ thì được khen thưởng theo quy định chung của Nhà nước.

 

Những người tố giác và giúp đỡ cơ quan có trách nhiệm trừng trị tội hối lộ thì được khen và được thưởng tiền bằng 10% giá trị của hối lộ đã bị tịch thu”.

 

Để động viên, khuyến khích việc tố giác đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép; Điều 12 Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép (ban hành ngày 30/6/1982) đã quy định: “Người có công trong việc chống đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, được xét khen thưởng theo chế độ chung của Nhà nước. Ngoài ra, tuỳ theo tính chất của vụ án và công lao đóng góp của mỗi người, còn được thưởng một khoản tiền từ 5% đến 10% trị giá hàng hoá tịch thu hoặc tiền phạt”. Cũng như Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ, Pháp lệnh này chưa đề cập tội không tố giác tội phạm.

 

Cùng với sự phát triển của khoa học luật hình sự, khái niệm tội không tố giác tội phạm đã bắt đầu xuất hiện trong các sách báo pháp lý. Giáo trình hình luật xã hội chủ nghĩa của Trường cao đẳng kiểm sát Hà Nội đã đề cập tội không tố giác tội phạm và đưa ra khái niệm không tố giác tội phạm: “Không tố giác tội phạm nghĩa là không báo cáo cho cơ quan có thẩm quyền về một tội phạm mà mình biết đang được chuẩn bị thực hiện hoặc đã được thực hiện hoặc biết rõ một kẻ sắp phạm tội hay đã phạm tội rồi nhưng không báo cáo. Tội không tố giác tội phạm khác với tội che giấu ở chỗ, hành vi của kẻ không tố giác là một hành vi tiêu cực (biết chắc chắn mà không báo cáo)”.

 

Trong Bộ luật Hình sự năm 1985 (Bộ luật Hình sự đầu tiên của chế độ dân chủ nhân dân), lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam, đã có quy định về tội không tố giác tội phạm tại Điều 19: “Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định”; đây là bước tiến bộ về kỹ thuật lập pháp hình sự của Nhà nước ta, đồng thời là sự ghi nhận chính thức về mặt pháp lý đối với tội không tố giác tội phạm.

 

Nghiên cứu những quy định về tội không tố giác tội phạm trong pháp luật hình sự của Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Nhật Bản, Vương quốc Thụy Điển, Liên bang Nga, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa cho thấy, các nước quy định rất khác nhau về tội phạm này.

 

Bộ luật Hình sự Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào không có quy phạm định nghĩa về khái niệm không tố giác tội phạm, nhưng có quy định về tội không tố giác tội phạm tại Điều 154: “Người nào biết hoặc thấy hành vi phạm tội của người khác nhưng không báo cho nhà chức trách thì bị phạt tước quyền tự do từ ba tháng đến năm năm hoặc cải tạo không tước quyền tự do”.

 

Bộ luật Hình sự Nhật Bản không có quy định về tội không tố giác tội phạm, mà chỉ có quy định về tội che giấu tội phạm và giấu chứng cứ tại Điều 103 và Điều 104”.

 

Bộ luật Hình sự Vương quốc Thụy Điển có quy định về tội không tố giác tội phạm tại Điều 6 (Chương 23 về phạm tội chưa đạt, chuẩn bị phạm tội và đồng phạm) như sau: “Người nào không kịp thời báo cáo hoặc tố giác một tội phạm đang được thực hiện khi có thể làm việc đó mà không gây nguy hiểm cho bản thân của mình, trong trường hợp có các quy định cụ thể cho việc này, thì bị kết án về tội không tố giác tội phạm tương tự như đã quy định đối với người đồng phạm tham gia phạm tội ở mức độ nhỏ. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, hình phạt không được nặng hơn hình phạt hai năm tù. Trong những trường hợp có quy định đặc biệt, hình phạt đối với tội không tố giác tội phạm cũng được áp dụng đối với người không biết, nhưng đáng ra phải biết là tội phạm đang được thực hiện.

 
 

Nếu cha mẹ, thầy cô giáo hoặc những người giám hộ ngoài các trường hợp nói tại Điều 1, vì không báo cáo với nhà chức trách khi có thể làm điều đó và không gây nguy hại cho bản thân hoặc người thân của mình, mà không ngăn chặn được người nằm trong sự kiểm soát của mình thực hiện một tội phạm, thì bị xử phạt theo quy định tại đoạn 1 về tội không tố giác tội phạm.

 

Hành vi không tố giác hoặc ngăn chặn một tội phạm không bị xử phạt theo luật hình sự trừ khi tội danh được thực hiện đã tiến triển tới mức phải áp dụng hình phạt”.

 

Điều 14 Bộ luật này có quy định cụ thể về tội không tố giác tội phản bội Tổ quốc, tội không trung thành với Vương quốc trong đàm phán với nước ngoài, tội gián điệp, tội gián điệp trong trường hợp nghiêm trọng hoặc tội tiết lộ trái phép thông tin bí mật đang được thực hiện mà tiếp tay cho việc thực hiện các tội trên.

 

Trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999, tội không tố giác tội phạm được quy định tại Điều 22 và Điều 314. So với quy định tương ứng tại Điều 147 Bộ luật Hình sự năm 1985, tội không tố giác tội phạm trong Bộ luật Hình sự năm 1999 đã có những nội dung được sửa đổi, bổ sung như sau:

 

Thứ nhất, bổ sung khoản mới (khoản 2 Điều 314) nhằm thu hẹp phạm vi trách nhiệm hình sự của ông, bà, cha, mẹ, con cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người có hành vi không tố giác, khi biết người thân của mình phạm tội. Quy định này được bổ sung trên cơ sở kế thừa những giá trị truyền thống nhân văn trong pháp luật của ông cha ta. Trong Bộ luật Hồng Đức đã quy định việc không trừng phạt (trừ tội mưu phản, đại nghịch hay là mẹ đích, mẹ kế mà giết cha, cha mẹ nuôi giết con đẻ) đối với việc không tố giác tội phạm giữa những người thân thích. Đây là sự ghi nhận mối quan hệ tình cảm gia đình sâu nặng vốn là một trong những nét đặc trưng của truyền thống văn hoá á Đông.

 

Theo quy định mới được bổ sung, thì người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về việc không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia (quy định tại các điều từ 78 đến Điều 91 Bộ luật) hoặc các tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được liệt kê tại khoản 1 Điều 313 (chứ không phải mọi tội phạm được quy định tại Điều 313 Bộ luật Hình sự năm 1999).

 

Thứ hai, bổ sung vào cấu thành tội phạm hành vi “đang được thực hiện mà không tố giác” cho đầy đủ, bởi lẽ Bộ luật Hình sự năm 1985 chỉ quy định hành vi “đã được thực hiện mà không tố giác”, chưa quy định hành vi nêu trên.

 

Thứ ba, không liệt kê các điều, khoản của Bộ luật hình sự về các tội mà nếu không tố giác thì phải chịu trách nhiệm hình sự, mà chỉ viện dẫn Điều 313 Bộ luật Hình sự cho Điều luật được ngắn gọn.

 

Thứ tư, tăng mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm (trong Bộ luật Hình sự năm 1985, quy định đến một năm) và giữ nguyên mức phạt tù đối với tội này.

 

Tội không tố giác tội phạm được quy định tại Điều 22 và Điều 314 Bộ luật Hình sự năm 1999, bên cạnh những mặt được, vẫn còn nhiều tồn tại:

 

Một là, tại Điều 22 nhà làm luật chưa đưa ra được định nghĩa pháp lý của khái niệm không tố giác tội phạm.

 

Hai là, việc khoản 2 Điều 22 và khoản 2 Điều 314 đều có quy định về trường hợp người không tố giác ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội là sự trùng lặp không cần thiết về kỹ thuật lập pháp hình sự.

 

Ba là, Điều 313 liệt kê những tội phạm mà nếu không tố giác, thì người không tố giác sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm. Người dân muốn có nhận thức đúng về tội này để không thực hiện điều ngăn cấm do pháp luật hình sự quy định trên thực tế, phải nắm được Điều 313 Bộ luật này. Tuy nhiên, Điều 313 quá dài, người dân khó nắm được. Rõ ràng khi thiết kế điều luật này, cơ quan soạn thảo dự án luật, cũng như nhà làm luật đã không chú ý đến tính khả thi của việc áp dụng điều luật trong cuộc sống. Vì vậy, theo chúng tôi, Điều 22, Điều 314 Bộ luật Hình sự năm 1999 cần được sửa đổi, bổ sung như sau:

 

Điều 22. Không tố giác tội phạm

 

Không tố giác tội phạm là hành vi của một người, tuy không hứa hẹn trước và không tham gia vào việc thực hiện tội phạm, nhưng biết rõ tội phạm do người khác đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện nhưng không thông báo về tội phạm và người phạm tội cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền như cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Toà án, Uỷ ban nhân dân các cấp để kịp thời ngăn chặn, phát hiện, xử lý tội phạm và người phạm tội.

 

Điều 314. Tội không tố giác tội phạm

 

1. Người nào biết rõ một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia được quy định từ Điều 78 đến Điều 91, tội giết người được quy định tại Điều 93, các tội phạm về ma tuý được quy định từ Điều 193 đến Điều 201, các tội phạm về tham nhũng được quy định từ Điều 278 đến Điều 284, các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh được quy định từ Điều 341 đến Điều 344 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

 

2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội giết người.

 

3. Người không tố giác tội phạm nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì được miễn hình phạt hoặc có thể được miễn trách nhiệm hình sự”./.

 

Luật sư Phùng Quang Huy

 

(54 Lý Quốc Sư, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội- nguồn TCKS số 3/2007)

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi