VKSND trước những khó khăn, thách thức của các tội phạm về công nghệ thông tin

Trong những thập kỷ qua, loài người đã và đang chứng kiến sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Không ai có thể phủ nhận được vai trò của công nghệ thông tin như là một công cụ hữu hiệu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Nhưng cũng như bất kỳ một thành tựu khoa học nào của nhân loại, các thành tựu do công nghệ thông tin đem lại cũng bị sử dụng vào mục tiêu phản phát triển, bị lợi dụng để hoạt động phạm tội. Để đấu tranh phòng, chống có hiệu quả với hình thức phạm tội này, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã quy định ba tội phạm có liên quan đến công nghệ thông tin là: “Tội tạo ra và lan truyền, phát tán các chương trình vi-rut tin học” (Điều 224), “Tội vi phạm các quy định về vận hành, khai thác và sử dụng mạng máy tính điện tử” (Điều 225) và “Tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính” (Điều 226) (sau đây gọi tắt là các tội phạm về công nghệ thông tin). Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được bàn về một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác của Viện kiểm sát nhân dân trước những khó khăn, thách thức trong nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống các tội phạm về công nghệ thông tin.

(Ảnh minh họa)
 

1. Công nghệ thông tin là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xử lý thông tin, là hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hoá… của con người. Như vậy, công nghệ thông tin là khái niệm rất rộng và các tội phạm về công nghệ thông tin cũng bao gồm nhiều tội phạm khác nhau. Tuy vậy, Bộ luật Hình sự năm 1999 mới chỉ quy định ba tội phạm cụ thể thuộc các tội phạm về công nghệ thông tin.

 

Cũng như mọi tội phạm, tội phạm về công nghệ thông tin cũng có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, nhưng có một số đặc điểm riêng là:

 

- Về hành vi khách quan, đây là những hành vi phạm tội có liên quan trực tiếp đến công nghệ tin học, máy tính và mạng máy tính. Các hành vi này được thể hiện ở việc: Sản xuất ra các chương trình vi-rut tin học, truyền các chương trình này đi thông qua hệ thống (mạng) máy tính hoặc phát tán bằng các sản phẩm phần mềm máy tính; khởi động, truy cập vào hệ thống mạng máy tính điện tử; tìm kiếm nhằm rút ra hoặc ghi lại các thông tin cần thiết cho nhu cầu của mình từ các dữ liệu trong mạng máy tính điện tử và phát huy tính năng, công dụng của mạng máy tính điện tử nhằm khai thác các thông tin có trong các dữ liệu của máy tính; sử dụng thông tin trên mạng và trong máy vi tính hoặc đưa vào mạng máy tính các thông tin trái với các quy định của Nhà nước; khai thác các thông tin trong các dữ liệu của máy tính không được phép của cơ quan Nhà nước hoặc người có thẩm quyền. Vì thế, hành vi phạm tội thể hiện: Huỷ hoại sự hoạt động của các đối tượng dưới dạng trạng thái, không tồn tại dưới dạng vật thể, nên thường không để lại dấu vết; có thể xoá bỏ hoàn toàn dấu vết để che đậy được cả về hành vi và kết quả phạm tội một cách đặc biệt tinh xảo; thực hiện hành vi phạm tội chỉ trong một phần nghìn, thậm chí một phần triệu giây; không bị hạn chế về mặt thời gian, không gian; có thể thực hiện hành vi phạm tội ở bất cứ khi nào, bất cứ nơi đâu, thậm chí ở rất xa hiện trường... Người phạm tội không chỉ là người Việt Nam hoặc phải có mặt trên lãnh thổ của Việt Nam mới có thể thực hiện hành vi phạm tội; việc điều tra thu thập dấu vết, chứng cứ cực kỳ khó khăn.

 

- Hậu quả thiệt hại do tội phạm về công nghệ thông tin gây ra rất nặng nề cho xã hội. Nhưng các hành vi trên chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi gây ra một trong các hậu quả sau: Gây rối loạn hoạt động của máy tính; phong toả, làm biến dạng và huỷ hoại các dữ liệu của máy tính.

 

- Về chủ thể, người thực hiện hành vi phạm tội là những người có hiểu biết vững vàng về công nghệ tin học, về máy tính và có khả năng khai thác chúng thành thạo; phần đông là những người trẻ tuổi, bề ngoài thể hiện là người học giỏi, chăm chỉ học hành; chưa từng bị pháp luật xử lý và không có tiền án. Vì vậy, gây rất nhiều khó khăn cho việc phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng.

 

2. Ở Việt Nam, các tội phạm về công nghệ thông tin là một loại tội phạm mới, diễn biến phức tạp, phạm vi hoạt động rộng và ngày càng nguy hiểm cả về thủ đoạn hoạt động và hậu quả tác hại, khả năng che giấu hành vi phạm tội cũng ngày càng tinh vi. Các đối tượng phạm tội đang triệt để lợi dụng công nghệ thông tin làm phương tiện thực hiện tội phạm, như: Lợi dụng mạng internet để phát tán các tài liệu phản động từ nước ngoài vào hoặc chuyển các thông tin phản động, bôi xấu chế độ, bôi xấu thành quả xây dựng Tổ quốc của nhân dân ta… ra nước ngoài nhằm mục đích vụ lợi chính trị; những vụ chuyển cuộc gọi trái phép qua môi trường internet, gian lận hay trộm cắp cước viễn thông quốc tế; những vụ tổ chức đánh bạc và cá độ qua mạng; kinh doanh trái phép thẻ tín dụng, hoặc những vụ trộm tiền ngân hàng bằng việc sử dụng những thẻ tín dụng trái phép; lừa đảo qua mạng thông qua các giao dịch thương mại điện tử trong lĩnh vực tài chính và ngân hàng, thị trường chứng khoán… Ví dụ: Năm 2005, Nguyễn Anh Tuấn cùng đồng bọn thông qua mạng internet đã làm thẻ tín dụng giả để trộm cắp tài sản từ hệ thống máy trả tiền tự động ATM của ngân hàng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, chiếm đoạt được trên 1,6 tỷ đồng; vụ Trần Quang Duy ở thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11/2006, đã có hành vi trộm cắp tài sản, chiếm đoạt tiền từ thẻ tín dụng của khách hàng nước ngoài để mua vé máy bay của hãng Tiger Airways; 2 đối tượng có quốc tịch Malaysia sử dụng một số thẻ tín dụng visa giả trả tiền ăn, ở khách sạn Metropol (Hà Nội) cho 5 người trong nhóm đã bị cơ quan chức năng của Việt Nam phát hiện và bắt giữ quả tang ngày 21/12/2007; vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua hình thức kinh doanh tài chính trên mạng mang tên Colony Invest bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an phát hiện và triệt phá cuối năm 2007... Trong các vụ phạm tội này, công nghệ thông tin được xác định là phương tiện phạm tội, nên đã bị xử lý theo các tội như: Tội trộm cắp, tội lừa đảo…

 

Qua những vụ án xảy ra nêu trên cho thấy ở Việt Nam không phải là không có các hành vi có dấu hiệu phạm các tội về công nghệ thông tin như Bộ luật Hình sự đã quy định. Ngày 12/3/2006, website thương mại điện tử của Công ty trách nhiệm hữu hạn Việt Cơ bị tấn công từ chối dịch vụ gây ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của doanh nghiệp này. Đầu tháng 5/2006 trang web của một số khách hàng thuê máy chủ tại Công ty Nhân Hoà đã bị tấn công từ chối dịch vụ.v.v. Hàng ngày, máy tính nối mạng luôn phải đối mặt với mọi hiểm hoạ đến từ vi-rut, phần mềm gián điệp, quảng cáo... Năm 2006, có tới 235 trang web.vn của Việt Nam bị hacker ngoại tấn công; đầu năm 2007, tình trạng này còn nóng bỏng hơn, chỉ trong tháng 01 năm 2007 có tới 20 website bị hacker tấn công. Theo BKIS, năm 2006, có tới 880 vi-rut mới xuất hiện, bình quân mỗi ngày có 2,4 vi-rut gấp 4 lần so với năm 2005, có tới 16 triệu lượt máy tính bị nhiễm vi-rut; năm 2007, mới đầu năm đã có 314 vi-rut mới xuất hiện, trung bình mỗi ngày có 10 vi-rut mới, có tới 376.000 máy tính bị nhiễm spywave và adwave. Từ khi vi-rut flash xuất hiện đã có tới 1,1 triệu máy tính bị nhiễm qua USB và còn rất nhiều vi-rut lây qua Yahoo! Messenger. Theo Trung tâm ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam (VNCERT) chỉ riêng tuần đầu tháng 9 năm 2006 đã có 1,4 triệu máy tính ở Việt Nam bị nhiễm vi-rut phát tán qua Yahoo! Messenger, nếu mỗi máy tính cần khoảng 2 USD để khắc phục hậu quả nhiễm vi-rut, thì với 1,4 triệu máy bị nhiễm vi-rut trong vòng một tuần ở Việt Nam sẽ thiệt hại khoảng 2,8 triệu USD... Đặc biệt, ngày 27/7/2008, ba tên miền quan trọng của Công ty đăng ký tên miền Việt Nam và quốc tế có trụ sở chính tại thành phố Hồ Chí Minh (pavietnam.net, pavietnam.com, dotvndns.com) đã bị hacker chiếm quyền kiểm soát, khiến khoảng 8.000 website khách hàng của công ty này bị tê liệt và rối loạn.

 

Tuy Bộ luật Hình sự năm 1999 đã ghi nhận các tội phạm về công nghệ thông tin với ba tội danh cụ thể và trên thực tế đã xảy ra các hành vi có dấu hiệu phạm tội như đã nêu trên, nhưng theo số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì đến nay chưa có một vụ án độc lập nào được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo các tội danh cụ thể về công nghệ thông tin.

 

3. Từ góc độ nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng với đặc điểm riêng của loại tội phạm này và điều kiện thực tế của cơ quan tiến hành tố tụng thì việc phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử với các hành vi phạm tội này là điều cực kỳ khó khăn. Vì: 

 

Thứ nhất, đây là loại tội phạm mới, chủ yếu lợi dụng những khả năng về công nghệ thông tin để phạm tội, nên hoạt động thường tinh vi xảo quyệt; việc phát hiện ra tội phạm đã khó mà việc xử lý bằng biện pháp hình sự đối với chúng lại càng khó hơn; trong khi đó, các quy định của Bộ luật Hình sự đối với loại tội phạm này chưa cụ thể. Các điều luật đối với các tội phạm này trong Bộ luật Hình sự năm 1999 chỉ mang tính nguyên tắc chung, chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng của cơ quan có thẩm quyền xác định được phạm vi của “mạng máy tính” mà người phạm tội đã lan truyền, phát tán các chương trình vi-rut hoặc đưa vào mạng máy tính những thông tin trái với quy định của pháp luật; số lượng máy tính bị làm biến dạng, làm huỷ hoại các dữ liệu để có thể xử lý bằng hình sự theo khoản 1 của các điều: 224, 225 và Điều 226 Bộ luật Hình sự; hoặc như các thuật ngữ “gây hậu quả nghiêm trọng” hoặc “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng”… để định khung truy tố, xét xử và quyết định hình phạt.

 

Thứ hai, có thể nói các cơ chế của xã hội cũng chỉ mới vào cuộc để đấu tranh với loại tội phạm này; sự sẵn sàng đấu tranh với chúng của các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng còn hạn chế, nên kinh nghiệm đấu tranh với loại tội phạm này của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng rất ít. Ngược lại với xu thế này thì việc tin học hoá, phổ biến máy vi tính, mạng máy tính đang tăng nhanh trong tất cả các ngành, các lĩnh vực của đời sống xã hội.

 

Thứ ba, trình độ, khả năng về công nghệ thông tin của những người tiến hành tố tụng còn rất hạn chế; phần lớn được đào tạo chủ yếu về chuyên môn nghiệp vụ pháp lý, tuy cũng được đào tạo về tin học, nhưng chỉ là để sử dụng các thiết bị công nghệ thông tin phục vụ cho hoạt động nghiệp vụ và văn phòng; còn kiến thức về công nghệ thông tin để có thể thực hiện nhiệm vụ phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm về công nghệ thông tin còn rất hạn chế. Ngay cả khi đã phát hiện ra tội phạm, nhưng việc đấu tranh với người phạm tội để chỉ ra hành vi mà người phạm tội đó đã thực hiện là hành vi phạm tội cũng không phải đơn giản.

 

Thứ tư, về đối tượng phạm tội, như trên đã nêu, không chỉ riêng là người Việt Nam và hành vi phạm tội được thực hiện trên lãnh thổ của Việt Nam, mà người phạm tội có thể là người nước ngoài và thực hiện hành vi phạm tội ở rất xa Việt Nam, nên việc điều tra, xử lý chúng sẽ rất khó khăn; bên cạnh đó, việc xử lý còn liên quan đến luật pháp quốc tế, luật pháp quốc gia mà người phạm tội là công dân, đến sự hoạt động, phối hợp của lực lượng Cảnh sát quốc tế, của các cơ quan tư pháp quốc tế…

 

4. Để góp phần đấu tranh có hiệu quả và nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tố tụng đối với các vụ án thuộc loại tội phạm này, theo chúng tôi, Viện kiểm sát nhân dân cần thực hiện tốt các giải pháp cơ bản sau:

 

- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, nắm và quản lý chặt chẽ các thông tin tội phạm về công nghệ thông tin; đồng thời, tổ chức và thực hiện tốt hoạt động kiểm tra, hướng dẫn của Viện kiểm sát cấp trên đối với Viện kiểm sát cấp dưới nhằm xử lý nghiêm minh, triệt để các tội phạm về công nghệ thông tin xảy ra, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; xác định được những điểm yếu của đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên được giao thực hiện nhiệm vụ này để có kế hoạch bồi dưỡng, tập huấn...

 

- Tổ chức các khoá bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu về công nghệ thông tin, các đợt tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên trực tiếp được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tố tụng đối với các vụ án thuộc loại tội phạm này. Việc bồi dưỡng, tập huấn cũng cần được tổ chức thường xuyên và theo định kỳ...

 

- Khi có vụ án thuộc các tội phạm về công nghệ thông tin xảy ra, cần tập trung sự lãnh đạo, chỉ đạo để giải quyết triệt để; giao cho những Kiểm sát viên có trình độ, hiểu biết về lĩnh vực này thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án; đồng thời, huy động sự đóng góp của chuyên gia về lĩnh vực công nghệ thông tin trong và ngoài Ngành. Khi xem xét để có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người nào đó có hành vi phạm tội, hoặc có thể khởi tố, truy tố và xét xử một vụ án cụ thể cần phải củng cố tài liệu chứng cứ thật chặt chẽ với sự tham khảo ý kiến của các chuyên gia về lĩnh vực này.

 

- Tăng cường mối quan hệ phối hợp chặt chẽ giữa Viện kiểm sát với các cơ quan bảo vệ pháp luật trong hoạt động đấu tranh phòng, chống các tội phạm về công nghệ thông tin dựa trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mỗi ngành theo luật định, trên các nguyên tắc phối hợp đã được thống nhất giữa các ngành, khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm hoặc có sự “thống nhất” vô nguyên tắc khi xử lý đối với từng vụ việc cụ thể. Hoạt động phối hợp phải được thực hiện ngay từ khi có tin báo, tố giác về tội phạm công nghệ thông tin cho đến khi giải quyết triệt để vụ việc.

 

- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong thực hành quyền công tố đối với các tội phạm về công nghệ thông tin với mục tiêu là tăng cường hội nhập, trao đổi kinh nghiệm, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ trong hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố đối với các tội phạm về công nghệ thông tin của mỗi nước.

 

- Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện về công nghệ thông tin cho các cán bộ, Kiểm sát viên trực tiếp thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tố tụng đối với các vụ án thuộc loại tội phạm này; tạo điều kiện cho họ không những có điều kiện làm việc tốt mà còn có khả năng thực hành những thao tác kỹ thuật về công nghệ thông tin và hiểu được những điều kiện nào mà người phạm tội có thể lợi dụng; từ đó, có biện pháp đấu tranh kịp thời với người phạm tội.

 

Cùng với các biện pháp trên, để tạo điều kiện cho Viện kiểm sát nhân dân cũng như cơ quan tiến hành tố tụng các cấp đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối với các tội phạm về công nghệ thông tin, chúng tôi xin đề nghị các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương một số nội dung cụ thể sau:

 

- Sớm ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng cụ thể, chi tiết hoá từng loại hành vi được quy định tại Điều 224, Điều 225 và Điều 226 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

 

- Phân định rõ yếu tố cấu thành các loại tội phạm trong lĩnh vực thương mại điện tử và công nghệ thông tin, trong đó quy định rõ trách nhiệm của các chủ thể tham gia quan hệ giao dịch thương mại trong lĩnh vực công nghệ thông tin như: Trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính… Nghiên cứu để có thể hình sự hoá các hành vi truy cập bất hợp pháp vào mạng viễn thông, mạng máy tính; sử dụng mạng viễn thông, mạng máy tính để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản...; hoặc nghiên cứu để có thể tách các tội phạm có liên quan đến công nghệ thông tin và quy định ở một chương riêng trong phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự, như đã quy định đối với các tội phạm về ma tuý.

 

- Xây dựng được một khung pháp lý đầy đủ và vững chắc, phù hợp với pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế để bảo vệ các dữ liệu cá nhân và bí mật đời tư; bảo đảm an toàn cho các giao dịch điện tử; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các nội dung đưa lên mạng giao dịch điện tử… chống lại sự lợi dụng để phạm tội; nhằm tạo điều kiện cho công nghệ thông tin phát triển. Xây dựng, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, tạo môi trường thuận lợi cho việc hỗ trợ ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin; xây dựng cơ chế, chính sách đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp công nghệ thông tin.

 

- Thiết lập một cơ quan liên ngành có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Cơ quan này giữ vai trò thẩm định ở cấp cao đối với tất cả các cơ quan hữu quan và ngoài ra sẽ tổ chức, chỉ đạo việc trao đổi thông tin liên quan đến lĩnh vực này. Xây dựng một đội ngũ Giám định viên tư pháp thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin đủ khả năng để đáp ứng với yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng. Cần có sự liên kết đa quốc gia trong phòng, chống hiệu quả đối với loại tội phạm nguy hiểm này./.

 

Tiến sĩ Nguyễn Minh Đức

 

(Viện trưởng Viện Khoa học Kiểm sát, VKSNDTC - nguồn TCKS số 19/2008))

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi