Tội nhận hối lộ

Th.Mai Bộ - Tòa án Quân sự Trung ương

1. Nhận hối lộ là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Như vậy, xét về cấu trúc và bản chất, thì "nhận hối lộ" bao gồm các dấu hiệu về: hành vi lợi đụng chức vụ, quyền hạn để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích của người đưa hối lộ; của hối lộ; hình thức, thủ đoạn và thời gian nhận hối lộ; thoả thuận về việc làm hoặc không làm một việc vì lợi ích của người đưa hối lộ và về của hối lộ.

Lợi dụng chức vụ nhận hối lộ là hành vi của người có chức vụ đã lợi dụng quyền hạn (quyền năng của chức vụ do được bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc một hình thức khác) trong phạm vi chức năng thuộc lĩnh vực công tác của mình để làm hoặc không làm một công việc vì lợi ích của người đưa hối lộ. Lợi dụng quyền hạn nhận hối lộ là hành vi của người không có chức vụ (nhưng có quyền hạn trong lĩnh vực công tác của mình) đã lợi dụng quyền hạn cụ thề được giao để làm hoặc không làm một công việc vì lợi ích của người đưa hối lộ. Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để nhận hối lộ có thể là hành động hoặc không hành động. Trong đó: hành động lợi dụng chức vụ, quyền hạn đề nhận hối lộ hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ; không hành động lợi dụng chức vụ, quyên hạn để nhận hối lộ hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn đề không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Hành động hoặc không hành động lợi dụng chức vụ, quyền hạn đề nhận hối lộ (làm hoặc không làm một việc...) có thể là hợp pháp hoặc không hợp pháp. Trường hợp làm một việc không thuộc phạm vi quyền hạn của người nhận hối lộ, thì người nhận hối lộ phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b (lạm dụng chức vụ, quyền hạn) Khoản 2 Điều 279 Bộ luật Hình sự. Theo mô tả của điều luật, thì: việc nhận hối lộ có thể là trực tiếp hoặc qua trung gian; người nhận hối lộ có thể nhận "của hối lộ" từ người đưa hối lộ, từ người trung gian khác hoặc từ nhân viên cơ quan bưu chính... Về hình thức. thì việc nhận hối lộ có thể dưới bất kể hình thức nào như quà biếu, tặng phẩm, nhượng lại nhà cửa, hàng hoá với giá rẻ hơn, cho vay mượn tài sản không định thời gian trả lại… Xét về thời gian, thì thời điểm nhận của hối lộ có thể xảy ra trước hoặc sau khi "làm hoặc không làm một việc vì lợi ích của người đưa hối lộ". Cũng có trường hợp việc nhận một phần "của hối lộ" diễn ra nhiều lần trong đó có lần trước và có lần sau khi "làm hoặc không làm một việc vì lợi ích của người đưa hối lộ".

“Của hối lộ" là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất. Như vậy, chỉ những gì có giá trị vật chất mới có thể làm của hối lộ; còn những gì chi thuần tuý có giá trị tinh thần thì không thể làm của hối lộ. Ví dụ: không coi là "của hối lộ" và tất yếu không thể định tội danh là tội nhận hối lộ việc một phụ nữ làm thoả mãn yêu câu sinh lý của một người có chức vụ, quyền hạn nào đó, để người này làm hoặc không làm một việc gì đó vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người phụ nữ [1] .

Thoả thuận vê việc làm hoặc không làm một việc vì lợi ích của người đưa hối lộ và về của hối lộ là những dấu hiệu thể hiện ý thức chủ quan của người nhận hối lộ và người đưa hối lộ. Trong đó, thoả thuận về việc làm hoặc không làm một việc vì lợi ích của người đưa hối lộ là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội nhận hối lộ. Nói cách khác, giữa người có việc và người có chức vụ, quyền hạn phải có sự thoả thuận nhất định về việc người có chức vụ, quyên hạn làm hoặc không làm một việc cụ thể nào đó vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ [2] . Còn thoả thuận về của hối lộ có thể xảy ra và cũng có thể không xảy ra trong từng vụ án cụ thể. Việc thoả thuận về của hối lộ có thể xuất phát từ yêu cầu của người nhận hối lộ hoặc từ đề xuất của người đưa hối lộ. Tùy từng trường hợp cụ thể mà người có chức vụ, quyền hạn (đã đưa ra yêu cầu về của hối lộ) có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm đ (đòi hối lộ) Khoản 2 Điều 279 Bộ luật Hình sự.

Về thời điểm hoàn thành của tội phạm, thì chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng tội nhận hố lộ hoàn thành từ thời điểm người có chức vụ, quyền hạn nhận của hối lộ [3] . Theo đó, các trường hợp sau đây được coi là tội phạm đã hoàn thành: Đã nhận của hối lộ và đã "làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ"; đã "làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ" và đã nhận của hối lộ; đã nhận của hối lộ và chưa "làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ". Còn các truờng hợp sau đây được coi là tội phạm chưa hoàn thành: Đã "làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ" và chưa nhận của hối lộ; đã thoả thuận nhưng chưa "làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ" và chưa nhận của hối lộ [4] .

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 279 Bộ luật Hình sự hiện hành thì hành vi nhận hối lộ chỉ bị coi là phạm tội khi của hối lộ có giá trị từ hai triệu đồng trở lên. Trường hợp của hối lộ có giá trị dưới hai triệu đồng, thì phải kèm theo một trong ba điều kiện sau: Gây hậu quả nghiêm trọng; đã bị xử phạt kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm; đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương XXI Bộ luật Hình sự, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm. Như vậy, về lý luận thì có các trường hợp phạm tội nhận hối lộ sau đây:

- Trường hợp thứ nhất, phạm tội nhận hối lộ do của hối lộ có giá trị từ hai triệu đồng trở lên. Đây là trường hợp người phạm tội một lần thực hiện hành vi nhận hối lộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác có giá trị từ hai triệu đồng trở lên. Trường hợp thoả thuận về “của hối lộ" có giá trị từ hai triệu đồng trở lên nhưng việc đưa hối lộ diễn ra nhiều lần, mỗi lần dưới hai triệu đồng hoặc mới chỉ đưa một lần dưới hai triệu đồng (và vụ án bị phát hiện), thì người thực hiện hành vi nhận hối lộ vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ theo tổng số giá trị tài sản mà họ đã thoả thuận.

- Trường hợp thứ hai, phạm tội nhận hối lộ do gây hậu quả nghiêm trọng. Đây là trường hợp nhận "của hối lộ" có giá trị do hai triệu đồng nhưng gây ra các thiệt hại nghiêm trọng về tính mạng, sức khoẻ, tài sản hoặc thiệt hại nghiêm trọng phi vật chất khác. Trong đó, thiệt hại về tài sản không bao gồm tài sản là của hối lộ. Việc xác định thế nào là gây thiệt hại nghiêm trọng do hành vi nhận hối lộ gây ra chưa được các cơ quan có thầm quyền hướng dẫn. Nhưng nếu xét trên bình diện, nhận hối lộ là hành vi xâm phạm tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân, thì có thể căn cứ vào hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT- TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 2/12/2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật Hình sự năm 1999 để xác định thế nào là gây thiệt hại nghiêm trọng do hành vi tham ô tài sản gây ra. Theo hướng dẫn tại thông tư nêu trên, gây thiệt hại thuộc một trong các trường hợp sau đây là gây hậu quả nghiêm trọng: Làm chết một người; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỉ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ba đến bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỉ lệ thương tật của tất cả những người này từ 61% đến 100%, (nếu không thuộc các trường hợp: Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỉ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ba đến bốn người với tỉ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%); gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỉ lệ thương tật từ 31% đến 60% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 30 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng; gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng [5] . Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm nhận "của hối lộ" và gây ra hậu quả nghiêm trọng.

Mặc dù, tại Khoản 1 Điều 279 Bộ luật Hình sự chỉ quy định đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất... có giá trị dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng thì bị coi là phạm tội nhận hối lộ. Nhưng chúng tôi cho rằng, trường hợp nhận hối lộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất có giá trị dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì cũng chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 279 Bộ luật Hình sự.

- Trường hợp thứ ba, phạm tội nhận hối lộ do đã bị kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm. Đây là trường hợp đã bị kỷ luật về hành vi nhận hối lộ, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý kỷ luật, nay lại có hành vi nhận hối lộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất có giá trị dưới hai triệu đồng. Trong trường hợp này, tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất có giá trị dưới hai triệu đồng.

- Trường hợp thứ tư, phạm tội nhận hối lộ do đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương XXI Bộ luật Hình sự, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm. Đây là trưởng hợp một người sau khi bị kết án về một trong các tội phạm sau đây, chưa được xoá án tích, nay lại thực hiện hành vi nhận hối lộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất có giá trị dưới hai triệu đồng: tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ, tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ, tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi và tội giả mạo trong công tác. Trong trường hợp này, tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất có giá trị dưới hai triệu đồng.

Điều luật chỉ quy định đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương XXI Bộ luật Hình sự, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm cho nên trường hợp đã bị án về hai tội trong đó có tội được quy định tại Mục A Chương XXI Bộ luật Hình sự, có tội được quy định tại Mục B Chương XXI hoặc chương khác của Bộ luật Hình sự, chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi nhận hối lộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất có giá trị do hai triệu đồng, thì: tiền án về tội được quy định tại Mục A Chương XXI Bộ luật Hình sự được xem là dấu hiệu "đã bị kết án về tội được quy định tại Mục A Chương XXI Bộ luật  Hình sự chưa được xoá án tích mà còn vi phạm" để xác định cấu thành tội phạm của lần nhận hối lộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất có giá trị dưới hai triệu đồng; tiền án về tội được quy định tại Mục B Chương XXI hoặc chương khác của Bộ luật Hình sự phải tính để xác định tái phạm. tái phạm nguy hiểm [6] .

Tội nhận hối lộ được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức được hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để làm hay không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ là nguy hiểm cho xã hội, mong muốn làm hoặc không làm việc đó nhằm mục đích nhận được của hối lộ đã thoả thuận trước với người đưa hối lộ. Động cơ phạm tội là vụ lợi.

Chủ thể của tội nhận hối lộ là người từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự và là người có chức vụ, quyền hạn. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự và là người có chức vụ, quyền hạn chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 279 Bộ luật Hình sự.

2. Tại Điều 279 Bộ luật Hình Sự quy định mười một tình tiết tăng nặng định khung hình phạt, chia thành ba nhóm. Nhóm thứ nhất, là các tình tiết về tính chất hành vi, thủ đoạn, số lần phạm tội và tính chất sở hữu của "của hối lộ”, bao gồm: Có tổ chức; lạm dụng chức vụ, quyền hạn; phạm tội nhiều lần; biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước; đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt. Phạm tội nhận hối lộ có tổ chức là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng tham gia phạm tội nhận hối lộ và có sự thống nhất với nhau về ý chí. Trong đó có một hoặc một số người thực hành; và có thể có người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn nhận hối lộ là trường hợp người có chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào để làm một việc vượt qua chức vụ quyên hạn của mình vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Phạm tội nhận hối lộ nhiều lần là trường hợp có từ hai lần trở lên thực hiện hành vi nhận hối lộ. Mỗi hành vi đều đủ yếu tố cấu thành tội nhận hối lộ nhưng chưa lần nào bị xử lý về hình sự, chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và cùng bị đưa ra xét xử một lần. Biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước là trường hợp khi nhận hối lộ người có chức vụ, quyền hạn biết rõ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác thuộc quyền sở hữu của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đòi hối lộ, sách nhiễu là trường hợp người có chức vụ, quyền hạn chủ động đòi hỏi một cách trắng trợn hoặc đe doạ làm cho người có việc lo sợ cho rằng nếu không đưa tiền, tài sản hoặc đáp ứng lợi ích vật chất... thì quyền lợi của mình sẽ bị xâm phạm. Dùng thủ đoạn xảo quyệt là trường hợp người phạm tội tham ô hành động một cách tinh vi, gian ngoan để thực hiện hoặc che giấu hành vi của mình làm cho việc phát hiện tội phạm khó khăn.

Nhóm thứ hai, là các tình tiết về giá trị "của hối lộ", bao gồm: Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng; của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng; của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên. Đây là trường hợp một lần phạm tội nhận hối lộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất có giá trị từ mười triệu đồng trở lên. Việc xác định giá trị "của hối lộ là tài sản hoặc lợi ích vật chất" được xác định theo giá trị thị trường của tài sản hoặc lợi ích vật chất đó tại địa phương vào thời điểm nhận hối lộ.

Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn áp dụng một số quy định của các điều 139, 193, 194, 278, 279, và 289 Bộ luật Hình sự năm 1999", thì khi áp dụng Điểm a Khoản 4 (của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên) Điều 279 Bộ luật Hình sự về tội nhận hối lộ cân chú ý: [7]

- Trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng và không có tình tiết giảm nhẹ hoặc vừa có tình tiết tăng nặng, vừa có tình tiết giảm nhẹ, nhưng đánh giá tính chất tăng nặng và tính chất giảm nhẹ tương đương nhau, thì xử phạt người phạm tội mức án tương ứng với của hối lộ như sau: Xử phạt hai mươi năm tù nếu của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng đến dưới tám trăm triệu đồng; xử phạt tù chung thân nếu của hối lộ có giá trị từ tám trăm triệu đồng đến dưới hai tỷ đồng; xử phạt tử hình nếu của hối lộ có giá trị từ hai tỷ đồng trở lên.

Trong trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ mà không có tình tiết tăng nặng hoặc có ít tình tiết tăng nặng hơn, đồng thời đánh giá tính chất giảm nhẹ và tính chất tăng nặng xét thấy có thể giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội, thì có thể xử phạt người phạm tội mức án nhẹ hơn mức án được hướng dẫn tại Điểm a nêu trên như sau: Xử phạt tù từ mười lăm năm đến dưới hai mươi năm nếu của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng đến dưới tám trăm triệu đồng (trường hợp này phải có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự); xử phạt hai mươi năm tù nếu của hối lộ có giá trị từ tám trăm triệu đồng đến dưới hai tỷ đồng; xử phạt tù chung thân nếu của hối lộ có giá trị từ hai tỷ đồng trở lên.

- Trong trường hợp có nhiều tình tiết tăng nặng mà không có tình tiết giảm nhẹ hoặc có ít tình tiết giảm nhẹ hơn, đồng thời đánh giá tính chất tăng nặng và tính chất giảm nhẹ xét thấy cần tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, thì có thể xử phạt người phạm tội mức án nặng hơn mức án được hướng dẫn nêu trên như sau: Xử phạt tù chung thân nếu của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng đến dưới tám trăm triệu đồng; xử phạt tử hình nếu của hối lộ có giá trị từ tám trăm triệu đồng trở lên.

Nhóm thứ ba, là các tình tiết quy định về hậu quả do hành vi phạm tội gây ra bao gồm: Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng khác; gây hậu quả rất nghiêm trọng khác; gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác. Đây là trường hợp nhận hối lộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác có giá trị từ hai triệu đồng trở lên gây ra hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng khác. Điều luật quy định là "hậu quả... khác" cho nên hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điểm g Khoản 2, Điểm b Khoản 3 và Điểm b Khoản 4 Điều 279 Bộ luật Hình sự không bao gồm giá trị "của hối lộ”. Đó là trường hợp nhận hối lộ gây ra thiệt hại rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe, tài sản hoặc thiệt hại phi vật chất.

- Gây hậu quả rất nghiêm trọng là gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản thuộc một trong các trường hợp sau đây [8] :

a) Làm chết hai người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ba đến bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của năm đến bẩy người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỉ lệ thương tật của những người này từ 101% đến 200%, nếu không thuộc một trong các trường hợp sau đây: Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ba đến bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của năm đến bẩy người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%;

đ) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 500 triệu đồng đến dưới một tỷ năm trăm triệu đồng.

e) Gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và tài sản thuộc hai đến ba trường hợp sau đây: Làm chết một người; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỉ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ba đến bốn người với tỉ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỉ lệ thương tật của tất cả những người này từ 61% đến 100% (nếu không thuộc các trường hợp sau đây: Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỉ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ba đến bốn người với tỉ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%); gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỉ lệ thương tật từ 31% đến 60% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 30 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng; gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.

- Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng là gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản thuộc một trong các trường hợp sau đây [9] :

a) Làm chết ba người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của năm người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của tám người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%.

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỉ lệ thương tật của những người này từ 201% trở lên, nếu không thuộc một trong các trường sau đây: gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của năm người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của tám người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%;

đ) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ một tỷ năm trăm triệu đồng trở lên;

e) Gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và tài sản mà hậu quả thuộc từ bốn đến sáu trường hợp sau đây: Làm chết một người; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ba đến bốn người với tỷ lệ thươg tật của mỗi người từ 31% đến 60% ; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỉ lệ thương tật của tất cả những người này từ 61% đến 100%, (nếu không thuộc các trường hợp sau đây: gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỉ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ba đến bốn người với tỉ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%); gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỉ lệ thương tật từ 31% đến 60% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 30 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng; gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.

g) Gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và tài sản mà hậu quả thuộc hai điểm sau đây trở lên: làm chết hai người; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ba đến bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của năm đến bẩy người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỉ lệ thương tật của những người này từ 101% đến 200%, (nếu không thuộc một trong các trường hợp sau đây: Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ba đến bốn người với tỉ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của năm đến bẩy người với tỷ lệ thươn g tật của mỗi người từ 31% đến 60%); gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 500 triệu đồng đến dưới một tỷ năm trăm triệu đồng; gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và tài sản thuộc hai đến ba trong sáu trường hợp sau đây: Làm chết một người; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ba đến bốn người với tỉ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 61% đến 100% (nếu không thuộc các trường hợp sau đây: Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỉ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ba đến bốn người với tỉ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%); gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỉ lệ thương tật từ 31% đến 60% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 30 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng; gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng [10] .

 


[1] . Xem GS.TS. Võ Khánh Vinh, Tìm hiểu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 101.

[2] . Xem GS.TS. Võ Khánh Vinh, Tìm hiểu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 107.

[3] . Xem GS.TS. Võ Khánh Vinh, Tìm hiểu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 100.

[4] . Xem GS.TS. Võ Khánh Vinh, Tìm hiểu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 105.

[5] . Xem: Tòa án nhân dân tối cao, các văn bản quy phạm pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành pháp luật, Hà Nội, 2005, tr. 59.

[6] . Xem: Tòa án nhân dân tối cao, các văn bản về Hình sự, Dân sự, Kinh tế, Lao động, Hành chính và Tố tụng. Hà Nội, 2006, tr. 19.

[7] . Xem: Tòa án nhân dân tối cao, các văn bản về Hình sự, Dân sự, Kinh tế, Lao động, Hành chính và Tố tụng. Hà Nội, 2006, tr. 43-44.

[8] . Xem: Tòa án nhân dân tối cao, các văn bản quy phạm pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành pháp luật, Hà Nội, 2005, tr. 60.

[9] . Xem: Tòa án nhân dân tối cao, các văn bản quy phạm pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành pháp luật, Hà Nội, 2005, tr. 60.

[10] . Xem: Tòa án nhân dân tối cao, các văn bản quy phạm pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành pháp luật, Hà Nội, 2005, tr. 60.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi