Vấn đề hình sự hóa quy định của Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng ở Việt Nam

TS. Nguyễn Văn Hương- Phó Bộ môn luật hình sự, Trường Đại học Luật Hà Nội

 

I. Sự cần thiết phải hình sự hóa quy định của công ước về chống tham nhũng ở Việt Nam.

Tham nhũng ngày nay không còn là vấn đề riêng của mỗi quốc gia mà trở thành vấn đề có tính toàn cầu. Tham nhũng đã và đang làm hao tổn nguồn lực quốc gia, làm xói mòn, giảm sút lòng tin của người dân đối với nhà nước qua đó phá hoại sự phát triển ổn định và bền vững của mỗi quốc gia. Lo ngại về tính nghiêm trọng của tham nhũng đối với sự ổn định, an ninh xã hội ở mỗi quốc gia, sự bền vững và phát triển của các giá trị dân chủ, đạo đức, công lý của xã hội ở mỗi nhà nước cũng như mối đe dọa về sự liên kết giữa tham nhũng với các loại tội phạm khác, đặc biệt là tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia mà mỗi quốc gia và toàn thế giới đang chung tay góp sức, thực thi các biện pháp mạnh mẽ để phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng. Đó cũng là lý do khiến nhiều quốc gia trên thế giới đã tham gia ký kết và áp dụng các biện pháp thực thi Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (United Nations Convention Against Corruption - viết tắt là: UNCAC) [1] .

Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (sau đây gọi là Công ước) đã tạo cơ sở pháp lý cho việc hợp tác giữa các quốc gia, các tổ chức phi chính phủ trong việc phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng và cùng nhau phấn đấu xây dựng xã hội lành mạnh, phát triển bền vững, các giá trị xã hội tiến bộ được duy trì và bảo vệ. Để đáp ứng yêu cầu về hợp tác, trợ giúp và nhận trợ giúp có hiệu quả trong việc phòng, chống tham nhũng đòi hỏi hệ thống pháp luật của quốc gia phải có quy định phù hợp, tương đồng với những chuẩn mực được đặt ra trong Công ước. Vì vậy, vấn đề nội luật hóa, sửa đổi, bổ sung quy định; của pháp luật Việt Nam, nhất là các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam cho phù hợp Công ước là cần thiết.

Việc nội luật hóa, đặc biệt là hình sự hóa các quy định của Công ước về chống tham nhũng đòi hỏi phải đáp ứng các yêu cầu cụ thể là: phù hợp với quy định của Hiến pháp, đảm bảo an ninh quốc gia và phù hợp với đường lối đối ngoại của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vấn đề này được đặt ra ngay từ khi Việt Nam ký kết gia nhập Công ước. [2]

Việc nội luật hóa và hình sự hóa các quy định của công ước phải góp phần đấu tranh chống tham nhũng có hiệu quả; tạo cơ sở pháp lý cho việc đảm thực hiện cam kết của nhà nước trong việc phòng, chống tham nhũng; hỗ trợ và tiếp nhận hỗ trợ của các nước khác, các tổ chức quốc tế trong hoạt động phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.

Để đáp ứng các yêu cầu nêu trên cần phải rà soát, nghiên cứu các quy định của pháp luật nói chung, các quy định của pháp luật hình sự nói riêng (liên quan đến các quy định của Công ước), so sánh khẳng định sự tương đồng, đồng thời tìm ra sự khác biệt và cả những “khoảng trống” trong các quy định của pháp luật Việt Nam, nhất là quy định của pháp luật hình sự để sửa đổi, bổ sung đảm bảo việc thực thi Công ước và phòng, chống tham nhũng đạt hiệu quả cao. [3]

II.Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tham nhũng

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, hành vi tham nhũng là hành vi vi phạm pháp luật có hai “mức độ” khác nhau: vi phạm pháp luật chưa đến mức bị coi là tội phạm và vi phạm pháp luật ở mức độ bị coi là tội phạm.

Hành vi tham nhũng ở mức độ bị coi là tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự (sau đây viết tắt là BLHS). Trong BLHS Việt Nam, các tội phạm về tham nhũng được quy định thành nhóm tội riêng tại Mục A (Các tội phạm về tham nhũng), Chương XXI bao gồm 7 tội danh khác nhau. Đó là các tội: 1) Tội tham ô tài sản (Điều 278); 2) Tội nhận hối lộ (Điều 279); 3) Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280); 4) Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281);5) Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 282); 6) Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đổi với người khác để trục lợi (Điều 283); 7) Tội giả mạo trong công tác (Điều 284).

Nghiên cứu vấn đề “Hình sự hóa và thực thi pháp luật” được quy định tại Chương III của Công ước cho thấy, trong số 28 điều với hơn 40 quy định mang tính bắt buộc, hơn 30 quy định mang tính tùy nghi và 5 quy định mang tính khuyến nghị, thì quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay đã đáp ứng về cơ bản. [4] Trong số 28 điều được quy định tại Chương III của Công ước có 18 điều quy định mà nội dung của nó đòi hỏi phải được “hình sự hóa” và 10 điều với nội dung đòi hỏi phải được nội luật hóa trong pháp luật quốc gia để đảm bảo thực thi Công ước. Trong 18 điều quy định của Công ước đòi hỏi phải “hình sự hóa” có 5 điều (Điều 15, 16, 17, 18, 19) quy định về các hành vi mà nội dung của nó đã được quy định trực tiếp thành các tội cụ thể trong nhóm “Tội phạm về tham nhũng” (tại Điều 278, 279, 280, 281 và 283) BLHS Việt Nam; 10 điều khác của công ước quy định về các vấn đề mà nội dung của nó đã được thể hiện toàn bộ hoặc một phần trong các điều luật thuộc các chương khác của BLHS Việt Nam (không phải là tội phạm về tham nhũng). Có 3 điều của Công ước quy định về 3 vấn đề: Làm giàu bất hợp pháp (Điều 20) [5] , Hối lộ trong khu vực tư (Điều 21) [6] , Trách nhiệm của pháp nhãn (Điều 26) [7] - những nội dung này chưa được quy định trong BLHS Việt Nam. Tuy nhiên, quy định trong 3 điều nêu trên của Công ước đều mang tính tùy nghi, không bắt buộc Việt Nam phải hình sự hóa các quy định này.

Ba vấn đề nêu trên chưa được quy định trong BLHS Việt Nam, theo chúng tôi nó có thể xuất phát từ những lý do sau đây:

*  Đối với hành vi làm giàu bất hợp pháp (Điều 20 Công ước)

Pháp luật Việt Nam khuyến khích và tạo điều kiện cho mọi người dân phát triển kinh tế gia đình, làm giàu (chính đáng, hợp pháp). Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật của Việt Nam (cho đến nay) chưa có văn bản nào đề cập vấn đề “làm giàu không chính đảng” hay “làm giàu bất hợp pháp”. Như vậy, về truyền thống pháp lý, hành vi làm giàu bất hợp pháp không được coi là vi phạm pháp luật và cũng chưa được coi là tội phạm ở Việt Nam.

Các quan hệ kinh tế, xã hội của người Việt Nam rất đa dạng. Việt Nam chưa có hệ thống quản lý, kiểm soát thu nhập của người dân. Thu nhập và các giao dịch về tài sản của người dân không có sự kiểm soát của ngân hàng. Đối với công chức, ngoài việc trả lương qua tài khoản ngân hàng [8] thì “các khoản thu nhập khác” của họ, Nhà nước không kiểm soát được. Thu nhập của công chức ngoài lương còn có thế có từ nhiều nguồn khác nhau như: lợi nhuận đầu tư từ hoạt động sản xuất kinh doanh, mua bán sang nhượng đất đai, bất động sản..., và cả những khoản thu nhập không chính thức khác như: “quà tặng”, “quà biếu”, “bồi dưỡng” (thông thường, pháp luật không cấm).

Mặt khác, mô hình gia đình của người Việt Nam là mô hình gia đình truyền thống, có nhiều thế hệ cùng chung sống. Quan hệ gia đình truyền thống, trong đó mọi thành viên gia đình cùng nhau xây dựng, phát triển kinh tế. Tài sản của gia đình không chỉ đơn thuần là tài sản chung của vợ chồng (theo Luật hôn nhân gia đình) mà còn là tài sản chung của cả gia đình (bao gồm phần đóng góp, lao động của các con), vì vậy, việc xác định tài sản của thành viên là “công chức” trong khối tài sản chung của gia đình (khi họ có hành vi tham nhũng, làm giàu bất hợp pháp) là rất phức tạp, khó chính xác.

Những khó khăn, phức tạp nêu trên chính là lý do làm cho hành vi “làm giàu bất hợp pháp” chưa được quy định là tội phạm trong BLHS Việt Nam trong thời điếm hiện nay..                                       

*  Đối với hành vi hối lộ trong khu vực tư (Điều 21 Công ước)

Các hành vi phạm tội về hối lộ đã được quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam từ rất sớm. Trong BLHS Việt Nam năm 1999 có 3 tội danh về hối lộ được quy định tại 3 điều luật khác nhau: Tội nhận hối lộ (Điều 279), Tội đưa hối lộ (Điều 289) và Tội làm môi giới hối lộ (Điều 290). Theo quy định của BLHS Việt Nam chỉ có tội nhận hối lộ được quy định tại Điều 279 BLHS là tội phạm về tham nhũng (Mục A Chương XXI). Theo quy định của BLHS Việt Nam, tội phạm về hối lộ được hiểu là “hối lộ trong khu vực công”, đặc biệt là tội nhận hối lộ. [9] Dấu hiệu “lợi dụng chức vụ quyền hạn” được nói đến trong cấu thành tội phạm này luôn gắn với việc sử dụng, thực thi quyền lực công - “thi hành công vụ”. [10] Nói một cách khác là trong BLHS Việt Nam chưa quy định hành vi phạm tội hối lộ “trong khu vực tư”.  Hành vi hối lộ trong khu vực tư chưa được quy định trong BLHS theo chúng tôi, điều này xuất phát từ các lý do sau:

Theo tiếng Việt, hối lộ là hành vi đưa tiền của cho người có quyền hành để nhờ làm việc có lợi cho mình, bằng hành vi lạm dụng chức vụ hoặc làm sai pháp luật”. Hành vi hối lộ phải gắn với dấu hiệu “chức vụ”, “quyền hành” - quyền lực của người phạm tội (thường là người nhận hối lộ). Theo quy định của pháp luật Việt Nam từ trước đến nay, khi nói đến “chức vụ”, “quyền hành”, “quyền hạn” thường gắn với quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước ở Việt Nam thuộc về nhân dân, Nhà nước trao quyền lực nhân dân cho cơ quan, tổ chức, cán bộ công chức thực thi để đảm bảo hoạt động của Nhà nước và lợi ích của nhân dân. [11] Như vậy, theo truyền thống ở Việt Nam, khi nói đến hối lộ chỉ được hiểu là hối lộ trong lĩnh vực công mà không có hối lộ trong lĩnh vực tư.

Mặt khác, xuất phát điều kiện kinh tế, xã hội và quy định của pháp luật Việt Nam những năm trước đây, “vấn đề hối lộ trong lĩnh vực tư” rất khó có thể xảy ra. Hành vi hối lộ, đặc biệt là hành vi nhận hối lộ liên quan đến dấu hiệu chức vụ, quyền hạn của người phạm tội. Chức là “danh vị thể hiện cấp bậc, quyền hạn và trách nhiệm của một người trong hệ thống tổ chức của nhà nước hay đoàn thể”. [12] Quyền là “điều do địa vụ hay chức vụ mà được làm”; [13] quyền hạn là “quyền định đoạt và điều hành công việc”. [14] Như vậy, người có “chức vụ”, “quyền hành”, “quyền hạn”, có thể dùng chức vụ, quyền hành của mình “làm lợi” cho người khác thường chỉ là người trong bộ máy nhà nước.  Món lợi “đáng kể” mà một người có thể được hưởng (trái pháp luật) từ hành vi sai trái, lạm quyền thường chỉ có thể xuất phát từ nguồn lực, tiềm lực hay sức mạnh của quyền lực nhà nước đem lại. Nói cách khác, món lợi về vật chất, tinh thần, quyền lực mà một người phải mua, trao đổi bằng tiền, của cải chỉ có thể được tạo ra từ bộ máy, sức mạnh của nhà nước. Bởi vì, nguồn lực ở “khu vực tư” của xã hội Việt Nam những năm trước đây thường rất nhỏ bé. Đây là điểm khác biệt cơ bản của Việt nam với nhiều nước trên thế giới nhất là các nước tư bản phát triển hiện nay. Ở các nước tư bản, tiềm lực kinh tế trong xã hội chủ yếu nằm trong tay cá nhân, các tập đoàn, tổ chức kinh tế “phi nhà nước”. Các công ty, tập đoàn - doanh nghiệp thuộc “khu vực tư” có vai trò to lớn đối với đời sống xã hội tư bản. Khu vực tư trong nền kinh tế tư bản không chỉ là đối tượng được cung cấp các dịch vụ của nhà nước mà còn là đối tượng cung cấp các dịch vụ cho nhà nước. Các công ty tư nhân, các tập đoàn kinh tế có thể trở thành các “đối tác” lớn của nhà nước trong việc cung cấp các dịch vụ hành chính công, giao thông, xây dựng, giáo dục, y tế cho đến việc cung cấp vật tư, hàng hóa, phương tiện kỹ thuật cho an ninh, quốc phòng, cũng như hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung. Trong mối quan hệ với nhà nước, nhà tư bản vừa là người được hưởng các dịch vụ, vừa có thể là người cung cấp dịch vụ. Đây là điểm khác biệt rất lớn về kinh tế, xã hội của Việt Nam so với nhà nước tư bản và cũng là đặc điểm làm cho hành vi hối lộ trong lĩnh vực tư đã xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới nhưng chưa xuất hiện hoặc chưa được thừa nhận ở Việt Nam.

Để có được những hợp đồng “béo bở” từ nhà nước, nhà tư bản có thể phải thực hiện hành vi hối lộ các quan chức nhà nước để được quyền cung cấp dịch vụ (hối lộ trong lĩnh vực công); và ngược lại, trong việc mua sắm tài sản công... những người có chức vụ hoặc được nhà nước giao quyền có thế phải thực hiện hành vi hối lộ các ông chủ hoặc người có chức vụ trong các công ty để “giảm giá” hoặc “hợp thức” các hợp đồng, chứng từ... để có thể “đục khoét”, “bòn rút” tài sản nhà nước... (hối lộ trong lĩnh vực tư).1

Từ những phân tích trên đây cho thấy do truyền thống pháp lý và các điều kiện kinh tế, xã hội chi phối mà hành vi hối lộ trong lĩnh vực tư được xác định trong Công ước là một trong những hành vi cần được hình sự hóa trong pháp luật quốc gia nhưng nó lại chưa được quy định là tội phạm trong BLHS Việt Nam.

*   Vấn đề trách nhiệm (hình sự) của pháp nhân (Điều 26 Công ước)

Vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân đã được quy định trong pháp luật hình sự của nhiều nước trên thế giới như: “Anh, Mỹ, Canada, Ôtxtraylia, Pháp, Hà Lan, Bỉ, Thụy Sỹ, Trung Quốc, Singapore, Malaixia, Nhật Bản...”. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, các pháp nhân, nhất là các doanh nghiệp có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, song cũng có nhiều pháp nhân có các hoạt động gây thiệt hại to đối với việc phát triển kinh tế, xã hội của đất nước như trốn thuế, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, gây ô nhiễm môi trường... Tuy nhiên, theo quy định của BLHS Việt Nam hiện nay, pháp nhân chưa được quy định là chủ thể của tội phạm, hành vi gây thiệt hại của pháp nhân cho xã hội cũng không bị coi là tội phạm. Việc pháp nhân chưa bị coi là chủ thể của tội phạm theo chúng tôi có các lý do sau đây:

-  Thứ nhất, về truyền thống pháp lý ở Việt Nam luôn quan niệm chủ thể của tội phạm chỉ có thể là con người. Nói cách khác, pháp nhân có thể là chủ thể của nhiều loại vi phạm pháp luật khác nhau (hành chính, dân sự, thương mại...) nhưng pháp nhân chưa từng được coi, được quy định là chủ thể của tội phạm.

-  Thứ hai, có một số vấn đề về cơ sở khoa học xác định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân hiện nay chưa giải quyết được, đặc biệt là vấn đề cơ sở khoa học của việc xác định lỗi đối với hành vi gây thiệt hại cho xã hội của pháp nhân. Theo quy định của BLHS Việt Nam, tội phạm phải là hành vi có lỗi. Căn cứ hay các dấu hiệu cho phép xác định lỗi (các biểu hiện về lý trí, ý chí) là những đặc tính tâm lý của con người, chỉ con người mới có. Nói một cách khác là không thể coi pháp nhân là có lỗi với ý nghĩa của luật hình sự.  Đây chính là vướng mắc lớn khiến cho pháp nhân dù có hành vi gây thiệt hại thậm chí rất lớn cho xã hội nhưng vẫn chưa được quy định là chủ thể của tội phạm.

- Thứ ba, theo quy định của BLHS Việt Nam, có một số loại hìnhphạt không thể áp dụng đối với pháp nhân (phạt tù, cải tạo không giam giữ...), có một số loại hình phạt có thể áp dụng đối với pháp nhân nhưng những hình phạt này khi áp dụng lại không căn cứ vào mức độ lỗi của từng người phạm tội, vì vậy hình phạt đã tuyên không có tác dụng răn đe, giáo dục đối với từng người phạm tội, không đảm bảo sự công bằng.

- Thứ tư, trong những trường hợp gây thiệt hại nhất định, theo quy định của pháp luật Việt Nam, pháp nhân có thể phải chịu các trách nhiệm pháp lý khác như trách nhiệm hành chính, dân sự... Điều này làm cho việc hình sự hóa các hành vi vi phạm của pháp nhân không phải là vấn đề “nóng bỏng”, không phải là đòi hỏi bức thiết của xã hội.

Những lý do đồng thời cũng là những khó khăn vướng mắc trên đây làm cho pháp nhân mặc dù có hành gây thiệt hại lớn cho xã hội nhưng chưa được quy định là tội phạm (bao gồm cả tội phạm về tham nhũng) trong BLHS Việt Nam

III.Hoàn thiện Bộ luật Hình sự để đảm bảo thực thi Công ước về chống tham nhũng ở Việt Nam.

Như đã phân tích ở phần trên, có 3 vấn đề trong 3 điều quy định của Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng đòi hỏi các quốc gia thành viên (trong đó có Việt Nam) cần xem xét quy định trong BLHS là tội phạm để đảm bảo hoạt động chống tham nhũng đạt hiệu quả. Nghiên cứu các quy định này đồng thời đối chiếu với các quy định của BLHS Việt Nam, chúng tôi có một số đề xuất sau:

1.Đối với hành vi làm giàu bất hợp pháp (Điều 20 Công ước)

Sau khi phân tích đặc điểm của hành vi làm giàu bất hợp pháp trong điều kiện kinh tế, xã hội cùng với những khó khăn, phức trong việc xác định hành vi

“làm giàu bất hợp pháp”, chúng tôi cho rằng việc hình sự hóa hành vi này là chưa cần thiết. Bởi vì việc xác định chính xác (có căn cứ) hành vi làm giàu bất họp pháp rất khó, tốn nhiều thời gian, công sức, và nếu xác định không chính xác dẫn đến việc oan, sai không những không có tác dụng đấu tranh chống tham nhũng mà còn làm cản trở sự phát triển của các hoạt động kinh tế, xã hội.

Theo quy định tại Điều 20 Công ước:... hành vi làm giàu bất hợp pháp, nghĩa là việc tài sản của một công chức tăng đáng kể so với thu nhập hợp pháp của công chức mà công chức này không giải thích được một cách hợp lý về lý do tăng đáng kể như vậy”. Việc yêu cầu công chức phải chứng minh nguồn gốc thu nhập của mình là không khả thi, không phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam về nguyên tắc suy đoán vô tội và quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo trong vụ án hình sự có quyền nhưng không có nghĩa vụ (không buộc) phải chứng minh là mình vô tội. [15] Mặt khác, đây chỉ là quy định mang tính tùy nghi nên Việt Nam không nhất thiết phải hình sự hóa hành vi này.

* Đối với hành vỉ hối lộ trong khu vực tư (Điều 21 Công ước)

Sau khi phân tích sự tác động của yếu tố pháp lý truyền thống, sự tác động của các điều kiện kinh tế, xã hội, chúng ta có thể nhận thấy rằng: hành vi hối lộ trong khu vực tư ở Việt Nam (những năm trước đây) chưa xảy ra hoặc xảy ra chưa nhiều hoặc chưa được thừa nhận.

Sự thay đổi lớn của nhiều chính sách kinh tế, xã hội của nhà nước Việt Nam trong những năm gần đây làm cho sự tăng trưởng, phát triển và đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân ngày càng nhiều vào quá trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước cũng như hoạt động của bộ máy nhà nước. Bên cạnh đó các đơn vị, pháp nhân, cá nhân còn tham gia ngày càng nhiều vào việc thực hiện các dịch vụ công như công chứng (tư), giám sát, giám định, phiên dịch, cung ứng cho việc mua sắm tài sản công... Không ít trường hợp cá nhân, doanh nghiệp “trong khu vực tư” nhận tiền, tài sản để làm những việc sai trái theo yêu cầu của người đưa tiền, tài sản. Trong các trường hợp cụ thể, hành vi sai trái của những người có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội danh- khác nhau (đồng phạm với người có hành vi đưa tiền của hoặc các tôi-dạnh độc lập khác).  Tuy nhiên, để xác định đúng bản chất pháp lý cho các hành vi này thì việc hình sự hóa quy định tại Điều 21 Công ước, tức là bổ sung thêm tội danh hối lộ trong khu vực tư là rất cần thiết. Vấn đề này hoàn toàn có thể thực hiện được trong điều kiện Việt Nam hiện nay.

Điều cần lưu ý là: Việc hình sự hóa đối với hành vi hối lộ trong khu vực tư phải được giới hạn đối với hành vi hối lộ (nhận, đưa hoặc môi giới hối lộ) mà hậu quả pháp lý của các hành vi này có liên quan đến “việc công” hoặc “tài sản công”.

3. Vấn đề trách nhiệm (hình sự) của pháp nhân (Điều 26 Công ước)

Như đã phân tích ở phần trên, vấn đề quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong BLHS Việt Nam là vấn đề rất phức tạp. Trong điều kiện có ngày càng nhiều pháp nhân thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, gây ra những hậu quả lớn thậm chí rất lớn cho xã hội, việc áp dụng trách nhiệm hành chính, dân sự đối với pháp nhân trong nhiều trường hợp không đủ sức răn đe thì việc quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân khi có hành vi vi phạm là rất cần thiết. Điều này không chỉ góp phần đấu tranh chống tham nhũng mà còn góp phần đấu tranh chống nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác...

Việc quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân, tạo cơ sở pháp lý, khoa học, đảm bảo tính thống nhất, chính xác trong việc xử lý hành vi phạm tội của pháp nhân đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành sửa đổi BLHS Việt Nam một cách tổng thể, toàn diện, trong đó đặc biệt chú ý các nội dung sau:

- Sửa đổi, bổ sung khái niệm tội phạm;

- Sửa đổi, bổ sung quy định về chủ thể của tội phạm;

-Sửa đổi, bổ sung quy định về lỗi của tội phạm;

- Sửa đổi, bổ sung khái niệm hình phạt;

- Sửa đổi, bổ sung quy định về mục đích của hình phạt;

- Sửa đổi, bổ sung khái niệm tội phạm về chức vụ;

- Giới hạn trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong một số lĩnh vực tội phạm cụ thể và định danh tội phạm một cách chính xác. [16]

Việc hình sự hóa các hành vi trên đây góp phần tạo cơ sở pháp cần thiết cho việc phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam, tạo ra sự tương đồng, phù hợp giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế, qua đó hỗ trợ hoặc tiếp nhận hỗ trợ của các nước, các tổ chức quốc tế trong việc đấu tranh chống tham nhũng có hiệu quả ở Việt Nam hiện nay


 [2]         Điều 3 Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam (năm 2005) quy định: „Việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế phải tuân thù những nguyên tắc sau đây: l).Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, cấm sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi và những nguyên tăc cơ bản khác của pháp luật quôc tê; 2).Phù hợp với các quy định cùa Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; 3).Phù hợp với lợi ích quốc gia, đường lối đối ngoại cùa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;...”

 [3]         Trong bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung phân tích các quy định cùa pháp luật hình sự liên quan đên vân đê “Hình sự hoá và thực thi pháp luật được quy định trong Chương III cùa Công ước.

[4]                Việc xác định các quy định của Công ước là quy định mang tính bắt buộc, tuỳ nghi hay khuyến nghị của tác gia có thể không đồng nhất vói các nhà nghiên cứu khác Điều 20 Công UÓC quy định: „Trên cơ sở tuân thủ Hiến pháp và các nguyên tắc cơ bản cúa luật pháp nước

mình, mỗi Quốc gia thành viên của Công ước áp dụng các biện pháp lập pháp và các biện pháp cần thiết khác nhằm quy định ¡à tội phạm, nếu được thực hiện một cách cố ỷ, hành vi làm giàu bất hợp phcip, nghĩa là việc tài sản của một công chức tăng đáng kế so với thu nhập hợp pháp cùa công chức mà cônẹ chức này không giải thích được một cách hợp lý về lý do tăng đáng kế như vậy“.

[6]   Điều 21 Công UÓC quy định: “Mỗi Quốc gia thành viên của Công ước xem xét áp dụng các biện pháp lập pháp và các biện pháp cằn thiết khác nhằm quy định những hành vi sau là lội phạm, nếu được thực hiện một cách cố ý trong hoạt động kinh tế, tài chính hoặc thưong mại:a). Hành vi hứa hẹn, tặng hay cho một lợi ích bất chính cho người điều hành hay làm việc, ở bất kỳ cương vị nào, cho tổ chức thuộc khu vực tư vì lợi ích của chính người đó hay của người hoặc to chức khác, đế người đó làm hoặc không làm việc gì vi phạm nhiệm VỊI của mình;b).Hành vi đòi hoặc nhận írực tiếp hay gián tiếp lợi ích bất chính bới người điểu hành hav làm việc, ờ bất kỳ cương vị nào, cho tố chức thuộc khu vực tư vì lợi ¡ch cùa bủn thân người đó hav của người khác đẻ làm hay không làm việc gì vi phạm nhiệm vụ của mình

 

[7]   Điều 26 Công uức quy định:”ỉ).Mỗi quốc gia thành viên áp dụng các biện pháp cần thiết, phù hợp với các nguyên tắc pháp luật của mình, đẽ quy định trách nhiệm của pháp nhân vể việc tham gia vào các lội phạm được quy định theo Công ước này. 2). Phụ thuộc vào các nguyên tắc pháp luật của quốc gia thành viên, trách nhiệm của pháp nhân có thể là trách nhiệm hình sự, dân sự hoặc hành chỉnh. 3). Trách nhiệm này không ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của thể nhân đã thực hiện tội phạm. 4). Đặc biệt, moi quốc gia thành viên phải đảm bào các pháp nhân chịu trách nhiệm theo quv định cùa Điều này phài chịu chế tài hình sự hoặc phi hình sự íhỉch đán%, lương xứng và có tác dụng ngăn ngừa, kê cá phạt tiền

 

[8]   Xem: Chỉ thị số 20/2007/TTg cùa Thù tướng Chính phù vê trả lưong qua tài khoản cho các đôi tượng hưởng lương từ ngân sách.

[9]   Điều 279 BLHS Việt nam quy định: „Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giả trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường họp sau đây đê làm hoặc khônẹ làm mộI việc vì lọi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hổi lộ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: a).Găy hậu quà nghiêm trọng; b).Đã bị xừ lý ký luật về hành vi nàv mà còn vi phạm; c).Đã bị kếl án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm

[10]              Xem thêm: Khái niệm tội phạm vê chức vụ được quy định tại Điêu 277 BLHS

[11]              - Điều thứ 1 Hiến pháp Việt Nam 1946 quy định: “Nước Việt Nam là một nước dân chù cộng hoà.

Tắt cá quyền binh trong nước là cúa toàn thê nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giông, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo

-                           Điều 2 Hiến plìap Việt Nam 1992 quy định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước cùa nhân dãn, do nhân dân, vì nhàn dân. Tãt cà quyền lực Nhà nước thuộc vê nhân dân mà rìên tảng ¡à liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tằng lớp trí thức1.                           

[12]              Viện Ngôn ngữ, Sđd tr.191

[13]              Viện Ngôn ngữ, Sđd tr.815

[14]              Viện Ngôn ngũ, Sđd tr.815

[15] Xem thêm: Điều 9, 10 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

[16] Các nội dung nêu trên đều là các vấn đề lớn, liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau mà chúng tôi không thế trình bày cụ thể trong bài viết này.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi