Chính phủ Việt Nam với những hoạt động thúc đẩy việc thưc hiện và tuân thủ công ước liên hợp quốc về chống tham nhũng

TS. Trần Nho Thìn

Bộ Tư pháp

1. Tham nhũng từ đâu?

Tham nhũng đã trở thành một vấn đề nhức nhối, là mối quan tâm hàng đầu của toàn nhân loại, vấn nạn này đã làm tốn không biết bao nhiêu giấy mực, công sức của mọi người, nhưng vẫn không được giải quyết một cách triệt để, ngược lại còn có chiều hướng gia tăng. Vậy tham nhũng là gì và làm cách nào để đẩy lùi tham nhũng?

Tổ chức minh bạch thế giới (TI) đã nêu một định nghĩa về tham nhũng của Klitgaard, MacLean, Abaroa và Parris, được nhiều định chế quốc tế và học giả sử dụng như sau: "Tham nhũng có nghĩa là lạm dụng chức vụ cho lợi ích riêng. Chức vụ là một vị trí công tác dựa trên cơ sở niềm tin, mà từ đó một người được nhận một thẩm quyền hành động nhân danh một định chế nào đó”.

Như vậy, tham nhũng luôn gắn với một số đối tượng nhất định, đó là những người có chức, quyền trong xã hội. Nạn tham nhũng tồn tại trên tất cả các quốc gia trên thế giới, nhưng ở mức độ rất khác nhau tuỳ thuộc vào cơ chế tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước của các quốc gia đó.

Theo các chuyên gia chuyên nghiên cứu về tham nhũng thì có ba nhân tố chính tạo nên tham nhũng. Đó là lòng tham của con người, sự sơ hở của luật pháp và tính nghiêm minh của pháp luật.

Lòng tham của con người, chứ không phải là sự thiếu thốn vật chất, chính là cội nguồn của tham nhũng, số tài sản bị tham nhũng trong nhiều trường hợp vượt rất xa nhu cầu sinh hoạt cần thiết của một cá nhân. Trong các vụ tham nhũng lớn, những đối tượng tham nhũng khi nhìn thấy lợi ích vật chất trước mắt thì đều mong muốn chiếm đoạt chứ không vì nhu cầu vật chất thúc đẩy, nhiều khi họ chưa biết sẽ dùng số tài sản tham nhũng đó sử dụng vào việc gì. Trong những vụ nhỏ hơn có thể ban đầu là do sự thiếu thốn vật chất, do lương thấp,... nhưng cũng ở chính đối tượng này, sau khi hành vi tham nhũng được thực hiện, lại xuất hiện những tham vọng lớn hơn và sẽ không chỉ dừng lại ở đó. Chính lòng tham đã dẫn dắt một cách tự nhiên những hành vi tham nhũng.

Sự sơ hở của luật pháp là con đường mà các đối tượng tham nhũng dựa vào nhằm thu lợi bất chính. Mỗi quốc gia đều luôn phấn đấu xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp của mình, ở các nước phát triển hệ thống pháp luật đã rất chặt chẽ, tuy vậy vẫn luôn tồn tại những kẽ hở chính bởi nền kinh tế, xã hội trong quá trình phát triển luôn phát sinh những vấn đề mới, khía cạnh mới. Do vậy, công tác lập pháp ở các nước này rất được coi trọng, các đại biểu Quốc hội hầu hết là chuyên trách và soạn thảo hàng trăm đạo luật mỗi năm.

Nhân tố cuối cùng chính là tính nghiêm minh của luật pháp, thể hiện ở sự trừng phạt các hành vi tham nhũng theo đúng pháp luật. Mỗi cá nhân trước khi tham nhũng đều cân nhắc giữa mối lợi do tham nhũng mang lại với xác suất bị phát hiện và mức độ của sự trừng phạt. Một hệ thống pháp luật nghiêm minh có tác dụng rất to lớn, tác động đến mọi cá thể, làm đảo lộn mức so sánh tương quan lợi, hại khiến cho đối tượng không dám tham nhũng.

2. Hoạt động chống tham nhũng ở Việt Nam.

Theo kinh nghiệm của Chính phủ Singapore: Phải làm sao để các công chức trong bộ máy nhà nước không cần tham nhũng, không thể tham nhũng và không dám tham nhũng, tương ứng chính xác với ba nhân tố trên.

Tuy vậy, có thể nhận thấy rằng lòng tham luôn tồn tại trong mỗi con người, ít hay nhiều nhưng đều tồn tại, đó là một đặc điểm tự nhiên không thể phủ nhận. Cho đến nay nó vẫn thuộc một phạm trù sinh học - xã hội mà loài người còn khó có thể chế ngự. Do vậy, chống tham nhũng bằng biện pháp giáo dục tư tưởng là thiếu hiệu quả, ít nhất là trong thời đại ngày nay. Mọi người đều nhận thấy ở những nước phát triển, những nước có thành tích chống tham nhũng cao, các Chính phủ của họ đều hành động trên nền tảng pháp luật mà không phải tuân theo những quy định đạo đức, tinh thần nào, họ được toàn quyền lựa chọn quyết sách của mình, chỉ có điều kết quả sẽ được giám sát một cách triệt để. Ở các quốc gia này, họ đã coi sự suy thoái đạo đức của đội ngũ công chức nhà nước là một yếu tố khách quan, không tránh khỏi và tập trung vào khắc phục triệt để hai yếu tố còn lại: Sự sơ hở và tính nghiêm minh của pháp luật.

Ở Việt Nam, ngày 28-6-2007 Thanh tra Chính phủ cũng đã chính thức khai trương cổng thông tin điện tử phòng, chống tham nhũng. Đây là một trong những nỗ lực của Việt Nam nhằm mục tiêu đưa công cuộc phòng, chống tham nhũng chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa, làm trong sạch hơn môi trường đầu tư. Nằm tại địa chỉ http://chongthamnhung.thanhtra.sov.vn, cổng là nơi trao đổi thông tin với công chúng về phòng, chống tham nhũng của Thanh tra Chính phủ và các cơ quan chức năng có liên quan.

Các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp, nhà đầu tư và mọi tầng lớp nhân dân khi có thông tin hay dấu hiệu tham nhũng của cá nhân, đơn vị hay địa phương nào đều có thể liên hệ trực tiếp với Thanh tra Chính phủ thông qua Cổng thông tin này.

Tiếp đó, ngày 12- 5- 2009 Chính phủ Việt Nam ban hành Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020, kèm theo Nghị quyết số 21/NQ-CP. Phòng, chống tham nhũng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, lâu dài, xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới. Đó là quan điểm và mục tiêu của Chính phủ Việt Nam trong việc phòng, chống tham nhũng. Theo đó, để phòng, chống tham nhũng, vừa phải tích cực chủ động phòng ngừa, vừa phải kiên quyết trong phát hiện và xử lý. Bên cạnh đó, xây dựng lực lượng chuyên trách đủ mạnh, có phẩm chất chính trị, bản lĩnh đạo đức nghề nghiệp làm nòng cốt trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng, cần đặt quá trình phòng, chống tham nhũng trong điều kiện hội nhập, chủ động hợp tác hiệu quả với các quốc gia, tổ chức quốc tế; tiếp thu và chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài trong công tác phòng, chống tham nhũng.

Nghị quyết 21/NQ-CP đề ra mục tiêu, cần ngăn chặn, triệt tiêu các điều kiện và cơ hội phát sinh tham nhũng; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước, ngăn ngừa việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi.

Song song với đó là việc hoàn thiện thể chế, tạo lập môi trường kinh doanh cạnh tranh bình đẳng, công bằng và minh bạch. Từng bước xóa bỏ tệ hối lộ trong giao dịch thương mại và giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước. Đồng thời hoàn thiện chính sách xử lý, nhất là chính sách hình sự, tố tụng hình sự đối với tham nhũng.

Thúc đẩy sự tham gia chủ động của các tổ chức, đoàn thể xã hội, các phương tiện truyền thông và mọi công dân trong nỗ lực phòng, chống tham nhũng; xây dựng văn hóa và tạo ra thói quen phòng, chống tham nhũng trong đời sống của cán bộ, công chức và trong các tầng lớp nhân dân.

Nghị quyết đề ra 5 nhóm giải pháp cơ bản: Tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạch định chính sách, xây dựng và thực hiện pháp luật; hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện công khai, minh bạch trong hoạch định chính sách, xây dựng và thực hiện pháp luật; hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, xây dựng môi trường kinh doanh công khai, minh bạch; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm tóan, điều tra, truy tố, xét xử trong phát hiện và xử lý tham nhũng; nâng cao nhận thức và phát huy vai trò của toàn xã hội trong phòng, chống tham nhũng.

Phòng, chống tham nhũng là công việc lâu dài, đòi hỏi có sự tham gia của các ban ngành từ Trung ương tới địa phương. Vì vậy, Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 được thực hiện theo 3 giai đoạn.

Giai đoạn thứ nhất (từ năm 2009 - 2011), thực hiện đồng bộ các giải pháp như nâng cao năng lực phát hiện, xử lý các hành vi tham nhũng. Đẩy mạnh việc xử lý những vụ việc tham nhũng nổi cộm, gây bức xúc trong dân;

Giai đoạn thứ hai (từ năm 2011-2016), tiến hành mở rộng các biện pháp phòng ngừa như kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức. Tổng kết 10 năm thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng làm căn cứ cho việc sửa đổi, bổ sung Luật này phù hợp với tình hình mới;

Giai đoạn thứ ba (từ năm 2016-2020), tiếp tục làm tốt các giải pháp đã đề ra và đã thực hiện từ các giai đoạn trước.

Ngày 20- 6 -2009, Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Nguyễn Minh Triết đã phê chuẩn Công ước Liên hiệp quốc về chống tham nhũng và Công ước này bắt đầu có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 18/9/2009, đưa Việt Nam tham gia vào cộng đồng gần 140 thành viên chính thức đã phê chuẩn hoặc gia nhập công ước này. Bằng việc phê chuẩn Công ước này, Việt Nam đã tham gia vào khuôn khổ pháp lý toàn cầu cho sự hợp tác trong phòng, chống tham nhũng.

Cùng với việc phê chuẩn, Việt Nam ra thông báo bảo lưu không bị ràng buộc bởi khoản 2 Điều 66 Công ước. Khoản này quy định nếu có tranh chấp về cách giải thích, áp dụng Công ước mà không thương lượng hoặc giải quyết bằng con đường trọng tài được thì thành viên công ước có quyền đưa vụ việc ra tòa án tư pháp quốc tế để giải quyết.

Việt Nam cũng tuyên bố không bị ràng buộc bởi một số quy định mang tính tùy nghi, không bắt buộc áp dụng của Công ước. Chẳng hạn như hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp, hành vi tham nhũng trong khu vực tư; cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự với cả pháp nhân; áp dụng kỹ thuật điều tra đặc biệt. Đây là những nội dung mà pháp luật trong nước hiện thời chưa quy định. Ngoài ra, không coi công ước là cơ sở pháp lý trực tiếp để dẫn độ tội phạm về tham nhũng, việc này phải thực hiện trên cơ sở pháp luật Việt Nam.

Trước đó, đánh giá về khả năng đáp ứng của Việt Nam khi tham gia Công ước về chống tham nhũng, Thủ tướng có tờ trình nhận định pháp luật trong nước hiện hành thỏa mãn toàn bộ 135 quy định mang tính bắt buộc của Công ước, 61/64 quy định mang tính tùy nghi và 37/38 quy định mang tính khuyến nghị. Với thuận lợi cơ bản đó, việc trở thành thành viên chính thức của Công ước sẽ giúp Việt Nam tiếp thu nhiều kinh nghiệm, thông tin, hỗ trợ tài chính của quốc tế trong hợp tác phòng, chống tham nhũng. Song song đó, Việt Nam được thực hiện các quyền của thành viên Công ước, bao gồm cả quyền yêu cầu quốc gia thành viên khác tương trợ tư pháp trong điều tra, xử lý các vụ việc tham nhũng có yếu tố nước ngoài.

3. Tại sao chống tham nhũng Việt Nam ít hiệu quả?

Tại kỳ họp cuối Quốc hội khóa 12, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trình bày báo cáo công tác nhiệm kỳ 2007-2011 của Chính phủ cũng thẳng thắn nhận định công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí thời gian qua chưa đạt yêu cầu. Chưa khắc phục được những nguyên nhân làm phát sinh tham nhũng, lãng phí, nhất là những bất cập trong hệ thống thể chế quản lý kinh tế, công tác tổ chức cán bộ và chính sách tiền lương. Nhiều vụ việc đã được phát hiện nhưng điều tra xử lý còn chậm... Vậy nguyên nhân tại đâu?

Xét ở yếu t thứ hai thấy, công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật là việc mà Nhà nước Việt Nam đã và đang làm rất khẩn trương, Quốc hội các khóa gần đây đã thể hiện sự tiến bộ đáng kể trong công tác lập pháp. Hệ thống luật pháp trong công cuộc chống tham nhũng thực tế cho thấy, đã xây dựng được một cách tương đối. Mỗi lĩnh vực dễ dẫn đến tham nhũng đều có nhiều quy trình, thủ tục chặt chẽ và giám sát lẫn nhau. Bộ luật Hình sự của Nhà nước Việt Nam cũng thuộc hàng nghiêm khắc nhất thế giới, có thể kết án tử hình cho những ai có hành vi nhận hối lộ từ 300 triệu đồng trở lên.

Ngày 1/6/2006, Luật Phòng chống tham nhũng của Việt Nam chính thức có hiệu lực. Chính phủ còn thành lập một cơ quan chuyên trách về chống tham nhũng do một Phó Thủ tướng đặc trách chống tham nhũng đứng đầu. Nhưng vì sao tham nhũng ở Việt Nam vẫn xẩy ra và tính chất ngày càng nghiêm trọng?

Đó chính là do yếu t thứ ba, tính nghiêm minh của pháp luật. Mỗi cá nhân khi tham nhũng đều tính toán cái lợi trước mắt và hậu quả cũng như xác suất bị phát hiện xem có hơn việc không tham nhũng hay không. Luật pháp nghiêm minh thì mỗi cá nhân đều nhìn thấy sự trừng phạt ghê gớm mà mối lợi tham nhũng không bù đắp nổi, và ngược lại.

Ở Việt Nam thời gian qua thấy nổi lên một tình trạng khá phổ biến là ở một bộ phận lớn cán bộ, công chức vụ việc tham nhũng đã bị phát hiện nhưng không bị xử lý hoặc không thể xử lý, hay nói cách khác là tồn tại một bộ phận đang đứng trên pháp luật. Điều đáng lo ngại là số cán bộ, công chức này nằm cả ở cấp cao, khi đã không chịu sự kiểm soát của pháp luật thì họ lại là “ô dù” cho những cán bộ, công chức dưới quyền, do vậy mà tham nhũng lan toả đến mọi ngành, mọi cấp. Một khi pháp luật không được thực thi nghiêm chỉnh, thì dẫn đến tham nhũng là đương nhiên. Để chống nạn tham nhũng có hiệu quả, không đơn giản là cứ giải quyết xong vấn đề kinh tế (tăng lương để cán bộ, công chức đủ sống..) và có hệ thống tuyển dụng nhân tài công bằng là tham nhũng sẽ được giảm bớt hay loại bỏ. Đối với Việt Nam hiện nay, biện pháp khẩn cấp và hệ trọng là phải khắc phục bằng được tình trạng thiếu tôn trọng luật pháp, bằng cách đưa mọi cá nhân, tổ chức vào trong quỹ đạo của pháp luật. Đây chính là tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền mà Đảng, Nhà nước Việt Nam đang tiến hành. Để xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền, trước hết phải nhìn lại chính mình, vì sao Nhà nước của ta chưa thực hiện tốt chức năng của nó? Phải chăng có những tồn tại, bất cập ở ngay trong tổ chức và hoạt động của hệ thống bộ máy.

Là lực lượng lãnh đạo đất nước, là cốt lõi của hệ thống chính trị, Đảng đã nhìn ra và đang tiến hành sửa đổi. Cụ thể là đang nghiên cứu, đổi mới hệ thống chính trị; cải cách, kiện toàn bộ máy nhà nước; khắc phục những bất cập trong quản lý, điều hành giữa các bộ, ngành, địa phương v.v. theo xu hướng xác định rõ, cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của từng ngành, từng cấp để không tạo ra tình trạng lạm quyền, tạo môi trường cho tham nhũng. Đặc biệt nguy hiểm là tình trạng lạm quyền trong những cơ quan bảo vệ pháp luật: Công an, Toà án, Kiểm sát. Đây chính là nơi mà những đối tượng tham nhũng tập trung nhằm vô hiệu hoá tính nghiêm minh của pháp luật. Trường hợp PMU 18 Vinaxim là một ví dụ điển hình, khi mà những vi phạm đã được phát hiện từ rất lâu nhưng không xử lý được, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng về sau.

Đổi mới hệ thống chính trị đi đôi với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế chính là nhiệm vụ lớn nhất mà Đảng và toàn dân Việt Nam đang phải triển khai thực hiện. Với vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị và để phù họp với xu thế phát triển của thời đại, cần đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng. Phạm vi lãnh đạo của Đảng phải được điều chỉnh, cụ thể hoá bằng văn bản, phải được luật hoá thậm chí ghi rõ trong Hiến pháp. Lãnh đạo phải được hiểu là hoạch định đường lối, đề ra chính sách chứ không can thiệp vào quản lý, điều hành của Nhà nước.

Tóm lại, chống tham nhũng, xây dựng Nhà nước pháp quyền và đổi mới hệ thống chính trị thực chất là ba mặt của một vấn đề, một bản chất. Đổi mới hệ thống chính trị để đáp ứng được nhiệm vụ sống còn này là thực tế của Việt Nam. Không thể chống tham nhũng nếu như không xây dựng một hệ thống luật pháp nghiêm khắc, một Nhà nước pháp quyền hiệu quả. Và cũng không thể xây dựng một Nhà nước pháp quyền, nếu như những mối quan hệ trong hệ thống chính trị đã lỗi thời không được sửa đổi /.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi