Bàn về hoạt động kiểm sát việc thu thập, bảo quản, đánh giá và chuyển giao vật chứng

1. Hoạt động kiểm sát việc thu thập, bảo quản và đánh giá vật chứng   

Để góp phần nâng cao chất lượng hoạt động kiểm sát việc thu thập, bảo quản và đánh giá vật chứng, chúng tôi xin nêu một số ý kiến trao đổi và đề xuất sau:

a. Một số vấn đề về nhận thức các quy định của pháp luật liên quan tới hoạt động kiểm sát việc thu thập các vật chứng:

Khoản 4 Điều 81 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 quy định Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn việc bắt khẩn cấp trong thời hạn 12 giờ; và một trong những căn cứ bắt người trong trường hợp khẩn cấp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 81 Bộ luật Tố tụng Hình sự là: “Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ”. Theo Điều 36 và Điều 126 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, Viện kiểm sát có quyền phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra. Tuy nhiên, tại khoản 4 Điều 81 và khoản 4 Điều 126 Bộ luật Tố tụng Hình sự không quy định việc bắt buộc Cơ quan điều tra phải xuất trình vật chứng thu thập được cho Viện kiểm sát khi đề nghị xét phê chuẩn các quyết định nói trên mà chỉ quy định Cơ quan điều tra gửi văn bản (hoặc quyết định bắt khẩn cấp), quyết định khởi tố bị can, văn bản đề nghị phê chuẩn và “tài liệu liên quan” đến việc bắt khẩn cấp và việc khởi tố bị can đó... Ngay tại tiểu mục 5.2 Mục 5 Thông tư số liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP ngày 07/9/2005 về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 05), cũng chưa có quy định cụ thể về việc Cơ quan điều tra phải xuất trình vật chứng thu thập được (đối với vật chứng gọn nhẹ dễ vận chuyển). Chúng tôi cho rằng khái niệm “tài liệu liên quan” không phản ánh, bao gồm cả vật chứng của vụ án và không cụ thể, toàn diện bằng khái niệm “Chứng cứ vụ án”: Đối với vụ án phức tạp có thể không thu thập được ngay các vật chứng một cách kịp thời, đầy đủ nhưng những vụ án mà người phạm tội bị bắt quả tang cùng với vật chứng thì việc xuất trình vật chứng (ngoại trừ vật chứng không có điều kiện đưa về cơ quan tiến hành tố tụng) cùng với hồ sơ bao gồm các tài liệu liên quan để đề nghị Viện kiểm sát xét phê chuẩn là rất cần thiết, đáp ứng yêu cầu tất yếu trong việc giải quyết vụ án, đồng thời giúp cho Kiểm sát viên đánh giá nguồn chứng cứ để ra các quyết định phê chuẩn đúng đắn, đồng thời giám sát việc xử lý vật chứng theo quy định.  

- Tại điểm b khoản 2 Điều 75 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định đối với vật chứng là tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ “phải được giám định ngay sau khi thu thập và phải chuyển ngay để bảo quản tại ngân hàng hoặc các cơ quan chuyên trách khác”. Song, thực tế hiện nay nhiều tỉnh chưa có tổ chức giám định chuyên trách đối với loại vật chứng này, do đó, vật chứng thu giữ đã được Cơ quan điều tra niêm phong và đưa đi kiểm định tại một cơ sở kinh doanh hay tổ chức có tư cách pháp nhân để xác định trọng lượng, chủng loại.v.v. Việc trưng cầu giám định đối với loại vật chứng vừa nêu tại một cơ sở, tổ chức có tư cách pháp nhân mặc dù phù hợp với thực tiễn và theo quy định tại Điều 24 Pháp lệnh Giám định tư pháp (về trưng cầu giám định tư pháp) nhưng chúng tôi thiết nghĩ, trong tương lai, các cơ quan có thẩm quyền cần thành lập cơ quan giám định chuyên trách của cấp tỉnh đủ khả năng giám định đối với tài sản là các vật chứng nói chung, đặc biệt là đối với các loại vật chứng đã nêu ở trên để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giải quyết vụ án; đảm bảo nguyên tắc khách quan, bí mật trong hoạt động điều tra; đồng thời Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán sẽ chủ động, kịp thời hơn trong việc đánh giá vật chứng, giải quyết đúng thời hạn tố tụng đối với vụ án hình sự, đặc biệt là những vụ án phức tạp và chuyên án.   

- Nếu như Điều 57 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988 quy định rõ: “Hồ sơ vụ án ở cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm bảo quản vật chứng” thì đến Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, tại điểm đ khoản 2 Điều 75 quy định như sau: “Đối với vật chứng đưa về cơ quan tiến hành tố tụng bảo quản thì cơ quan Công an có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố; Cơ quan thi hành án có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai đoạn xét xử và thi hành án”. Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân không phải xây kho vật chứng để bảo quản vật chứng hoặc phải gửi giữ tại cơ quan khác. Tuy nhiên, từ việc này đã dẫn đến tình trạng ở không ít địa phương, Kiểm sát viên đã chủ quan, lơ là trong việc đánh giá vật chứng và thiếu sự kiểm tra vật chứng đang bảo quản với tài liệu có trong hồ sơ vụ án để chuẩn bị luận tội và tranh luận tại phiên toà.

b. Một số vấn đề Kiểm sát viên cần chú ý khi kiểm sát việc thu thập, bảo quản vật chứng:

Một là, Kiểm sát viên phải trực tiếp tiến hành kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường theo quy định tại Điều 150 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Cần khắc phục trường hợp việc Kiểm sát viên chỉ kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường các vụ án tai nạn giao thông, cháy nổ, giết người mà không chú trọng kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường các vụ án trộm cắp tài sản, cố ý gây thương tích.v.v. Qua công tác kiểm sát điều tra, Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên thu thập đầy đủ vật chứng hoặc nhanh chóng tổ chức truy tìm vật chứng, cũng như cách thức bảo quản và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Đồng thời khi cần thiết, Kiểm sát viên đề ra các yêu cầu điều tra để công tác thu thập, bảo quản vật chứng ngay từ ban đầu được chặt chẽ.

Hai là, Kiểm sát viên cần thiết phải kiểm tra thủ tục tố tụng và nội dung của biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi do Điều tra viên lập. Các biên bản này phải được lập theo quy định tại Điều 95 và khoản 3 Điều 150 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Khi thu thập vật chứng, Kiểm sát viên cần lưu ý Điều tra viên phải mô tả vào biên bản đúng thực trạng của vật chứng về giá trị đo lường, kích cỡ, hình thể, đặc điểm.v.v. tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý đúng đắn vụ án và đề phòng sự tráo đổi, hư hỏng trong quá trình bảo quản vật chứng. Khắc phục tình trạng vật chứng thu thập được rồi nhưng phản ánh trong biên bản cẩu thả, không đúng thủ tục. Đó cũng là một bước chuẩn bị của Kiểm sát viên cho thủ tục tranh tụng tại phiên toà; đáp ứng quy định tại Điều 212 Bộ luật Tố tụng Hình sự về xem xét vật chứng: Vật chứng, ảnh hoặc biên bản xác nhận vật chứng được đưa ra xem xét tại phiên toà; và khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể cùng với Kiểm sát viên, người bào chữa và những người khác tham gia phiên toà đến xem xét tại chỗ những vật chứng không thể đưa đến phiên toà được; hoặc đến xem xét nơi đã xảy ra tội phạm và những địa điểm khác có liên quan đến vụ án (Điều 213 Bộ luật Tố tụng Hình sự). Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày nhận xét của mình về vật chứng để bảo vệ quan điểm truy tố của Viện kiểm sát, bác bỏ chứng cứ không chân thực do bị cáo đưa ra và đó cũng là để thực hiện tốt quá trình tranh tụng tại phiên toà.

Ba là, Kiểm sát viên phải kiểm tra, đối chiếu thực tế vật chứng thu thập được với biên bản do Điều tra viên lập; xem xét loại vật chứng nào phải niêm phong, giám định ngay và phải bảo quản theo chế độ riêng (như vật chứng là tiền, vàng, kim khí, đá quý, chất phóng xạ.v.v.). Đối với loại vật chứng này đòi hỏi Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ, đảm bảo đúng thủ tục trong việc lập và mở niêm phong. Kiểm sát viên lưu ý Điều tra viên khi thu giữ vật chứng là tiền đồng Việt Nam và ngoại tệ phải gửi kho bạc đúng quy định (trường hợp vật chứng là tiền Việt Nam và ngoại tệ có mang dấu vết tội phạm khi thu giữ nhất thiết phải lập biên bản ghi số sê-ri bảo quản và được xử lý riêng); với những vật chứng mà Cơ quan điều tra quyết định bán thì chuyển tiền đến tài khoản tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước (đối với vật chứng là hàng hoá mau hỏng, khó bảo quản); đối với vật chứng không thể đưa về cơ quan tiến hành tố tụng thì Kiểm sát viên phải kiểm sát việc giao cho cơ quan nào bảo quản hoặc hợp đồng gửi giữ ra sao?

Bốn là, Kiểm sát viên phải là người có năng lực nghiệp vụ, am hiểu tri thức khoa học và không được chủ quan, ỷ lại vào Cơ quan điều tra trong việc thu thập và đánh giá vật chứng. Kiểm sát viên không được có định kiến khi kiểm sát việc thu thập, bảo quản, đánh giá vật chứng, vì nó là nguồn gốc dễ nảy sinh tiêu cực trong xử lý vụ án hình sự; Kiểm sát viên cần làm tốt công tác phối kết hợp với Điều tra viên, cùng Điều tra viên bàn bạc hướng điều tra, phương cách thu thập, bảo quản vật chứng, cảm hoá đối tượng điều tra, truy tố để họ tự giác giao nộp hoặc khai báo về nơi cất giấu vật chứng, đấu tranh với tội phạm giả mạo vật chứng làm lạc hướng điều tra.v.v.

Năm là, Kiểm sát viên lập kế hoạch kiểm sát định kỳ kho vật chứng của cơ quan Công an và Cơ quan thi hành án về việc thực hiện Quy chế quản lý kho vật chứng (ban hành kèm theo Nghị định số 18/2002/NĐ-CP ngày 18/2/2002 của Chính phủ). Trong đó, cần chú ý kiểm sát về chế độ quản lý kho vật chứng quy định tại Chương III của Quy chế, yêu cầu Thủ kho vật chứng áp dụng các biện pháp, chế độ quản lý kho vật chứng để đảm bảo vật chứng không bị mất mát, tráo đổi, hư hỏng; kiểm tra việc phân loại vật chứng, tình trạng niêm phong vật chứng và các sổ sách, tài liệu liên quan.v.v.

2. Hoạt động kiểm sát việc chuyển giao vật chứng

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, các hình thức chuyển giao vật chứng được thực hiện giữa các Cơ quan điều tra với nhau (khi chuyển vụ án để điều tra theo thẩm quyền - Điều 116 Bộ luật Tố tụng Hình sự); giữa Cơ quan điều tra với Viện kiểm sát, giữa Cơ quan điều tra với Cơ quan thi hành án, giữa Viện kiểm sát với Cơ quan thi hành án (khi đề nghị truy tố; khi quyết định truy tố quy định tại Điều 162 và khoản 1 Điều 166 Bộ luật Tố tụng Hình sự); giữa các cơ quan Viện kiểm sát với nhau (khi chuyển vụ án để truy tố theo thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều 166 Bộ luật Tố tụng Hình sự); giữa các cơ quan Toà án với nhau (khi chuyển vụ án để xét xử theo thẩm quyền quy định tại Điều 174 Bộ luật Tố tụng Hình sự). Tuy nhiên, thời gian qua ở một số địa phương vẫn tồn tại vi phạm trong việc chuyển giao vật chứng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với nhau và với Cơ quan thi hành án. Cụ thể như: Vi phạm trong việc chuyển giao vật chứng từ Cơ quan điều tra cấp huyện đến Cơ quan điều tra cấp tỉnh hoặc ngược lại. Vi phạm mang tính phổ biến thể hiện ở việc không chuyển giao vật chứng kịp thời, đúng thủ tục. Thậm chí có tình trạng án đưa ra xét xử nhưng không rõ vật chứng ở đâu, ai quản lý? Nguyên nhân của một số vi phạm vừa nêu có phần trách nhiệm của Kiểm sát viên, do kiểm sát không chặt chẽ, không kiến nghị tác động kịp thời đến Cơ quan điều tra để khắc phục vi phạm pháp luật.  

Để triển khai thực hiện điểm đ, khoản 2 Điều 75 Bộ luật Tố tụng Hình sự, ngày 26/7/2004, Cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp đã ban hành Công văn số 390/THA “về việc hướng dẫn chế độ bảo quản vật chứng, tài sản từ ngày 01/7/2004”; theo đó điểm 1.1 mục 1 của Công văn nêu rõ: “Từ ngày 01/7/2004, các Cơ quan thi hành án dân sự chịu trách nhiệm tiếp nhận, bảo quản vật chứng, tài sản do cơ quan Công an chuyển sang khi hồ sơ vụ án có quyết định truy tố của Viện kiểm sát”. Song, thực tế hầu hết các Cơ quan thi hành án cấp tỉnh và cấp huyện đều chưa bố trí kho vật chứng riêng, do đó, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý, bảo quản vật chứng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Quy chế quản lý kho vật chứng ban hành kèm theo Nghị định số 18/2002/NĐ-CP ngày 18/02/2002 của Chính phủ. Cụ thể là Cơ quan thi hành án chưa có điều kiện tiếp nhận vật chứng hoặc tiếp nhận không đầy đủ từ Cơ quan điều tra để quản lý, bảo quản; nhiều trường hợp vật chứng phải gửi giữ tại cơ quan Công an hoặc cơ quan có trách nhiệm khác để được tiếp tục quản lý, bảo quản đến khi bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật thì mới được chuyển giao cho Cơ quan thi hành án xử lý.

Theo quy định tại tiểu mục 21.2, mục 21 Thông tư số liên tịch số 05 thì vật chứng đi kèm hồ sơ là những vật chứng có thể đưa vào hồ sơ vụ án như séc giả, bằng giả, phơi đề… những vật gọn nhẹ, dễ vận chuyển và bảo quản như con dao, cái búa, con dấu.v.v. Như vậy, Viện kiểm sát phải có trách nhiệm bảo quản loại vật chứng này trong giai đoạn truy tố và sau đó khi quyết định truy tố, tuỳ trường hợp vật chứng là những vật như con dao, cái búa.v.v. Viện kiểm sát lập biên bản chuyển giao cho Cơ quan thi hành án, còn loại vật chứng là phơi đề, bằng giả.v.v. Viện kiểm sát chuyển giao cùng hồ sơ vụ án đến Toà án nhân dân (trường hợp chuyển giao này chưa có văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền). Khi Viện kiểm sát trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung thì không phải trả vật chứng đi kèm hồ sơ vụ án trừ khi Cơ quan điều tra có yêu cầu; trong mọi trường hợp việc giao nhận vật chứng phải được lập thành biên bản có chữ ký của bên giao, bên nhận. Khi có quyết định truy tố, nếu vật chứng được bảo quản tại kho vật chứng của cơ quan Công an, thì Viện kiểm sát ra quyết định chuyển vật chứng từ kho vật chứng của cơ quan Công an sang kho vật chứng của Cơ quan thi hành án, đồng thời thông báo bằng văn bản cho Cơ quan thi hành án (tránh việc Viện kiểm sát không ra quyết định mà yêu cầu Cơ quan điều tra chuyển giao bằng miệng). Và theo quy định của Thông tư nêu trên, trong thời hạn 2 ngày, cơ quan Công an phải thực hiện quyết định chuyển giao vật chứng của Viện kiểm sát, chuyển giao vật chứng đến Cơ quan thi hành án và chuyển biên bản bàn giao vật chứng giữa hai cơ quan cho Viện kiểm sát đưa vào hồ sơ vụ án, như vậy sẽ khắc phục được tình trạng Viện kiểm sát không ra quyết định chuyển giao vật chứng và cơ quan Công an chậm trễ trong chuyển giao vật chứng.

Để phù hợp với Điều 9 Quy chế quản lý kho vật chứng (ban hành kèm theo Nghị định số 18/2002/NĐ-CP ngày 18/02/2002 của Chính phủ) và đối với vật chứng không có điều kiện đưa về cơ quan tiến hành tố tụng quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 75 Bộ luật Tố tụng Hình sự đã đề cập, chúng tôi cho rằng Thông tư liên tịch số 05 cần bổ sung thủ tục chuyển giao vật chứng theo hướng khi ban hành bản kết luận điều tra và chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát đề nghị truy tố thì Cơ quan điều tra phải làm phiếu xuất vật chứng và lập biên bản bàn giao vật chứng với Viện kiểm sát tại kho vật chứng của cơ quan Công an do Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp quản lý. Viện kiểm sát có trách nhiệm làm thủ tục gửi vật chứng tại kho của Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp. Thủ tục này được thực hiện, đảm bảo cho bước chuyển tiếp của thời hạn truy tố, đến khi Viện kiểm sát có quyết định truy tố và ra quyết định chuyển vật chứng từ kho vật chứng của Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp sang kho của Cơ quan thi hành án. Ngoài việc thực hiện chặt chẽ về thủ tục, thời hạn chuyển giao vật chứng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với nhau và với Cơ quan thi hành án nêu trên; Viện kiểm sát nhân dân còn phải thực hiện trách nhiệm kiểm sát về thời hạn, thủ tục chuyển giao vật chứng khi quyết định chuyển vụ án để điều tra, truy tố, xét xử theo thẩm quyền. Vật chứng được chuyển giao theo vụ án hình sự và đối tượng phạm tội mà nước khác yêu cầu dẫn độ theo Hiệp định tương trợ tư pháp mà nước ta đã tham gia ký kết./.

Nguyễn Ngọc Kiện

(VKSND huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương - nguồn TCKS số 7/2007)

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi