Thông tin kết quả chuyến nghiên cứu về tố tụng hình sự tại Cộng hòa Liên bang Đức

Trong khuôn khổ Chương trình hợp tác 3 năm (2009 – 2010) về lĩnh vực pháp luật và tư pháp giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Cộng hòa liên bang Đức, nhận lời mời của Qũy Hợp tác pháp luật CHLB Đức, ngày 11/8/2011 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ra Quyết định số 247/QĐ-VKSTC-V9 cử một đoàn công tác gồm 08 thành viên do đồng chí Hoàng Nghĩa Mai, Phó Viện trưởng thường trực VKSNDTC làm Trưởng đoàn đi nghiên cứu và làm việc tại CHLB Đức từ ngày 05/9 đến ngày 09/9/2011.

Trong thời gian làm việc tại CHLB Đức, Đoàn đã được ông Christian Hueck, Trưởng Đại diện Văn phòng Quỹ hợp tác pháp luật Đức tại Berlin và bà Angela Scheink, Giám đốc Dự án tại Việt Nam đón tiếp. Qua trao đổi, Quỹ hợp tác pháp luật Đức đã khẳng định sự mong muốn được tiếp tục hợp tác trong lĩnh vực tư pháp và pháp luật với Viện kiểm sát nhân tối cao trong thời gian tới, đặc biệt là trong việc hỗ trợ xây dựng Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi) của Việt Nam.

Đoàn đã có ba ngày hội thảo về tố tụng hình sự cùng với hai chuyên gia Đức là Giáo sư, tiến sĩ Robert Esser của Trường Đại học Passau và Ông Jurgen Dehn, nguyên Tổng Công tố trưởng của bang; một buổi đến thăm Trại giam Bernau thuộc bang Bavaria miền Nam nước Đức.


Nội dung nghiên cứu, trao đổi trong thời gian hội thảo giữa đoàn nghiên cứu của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các chuyên gia pháp luật Đức như sau:

1. Về hoạt động điều tra án hình sự

Ở CHLB Đức, cơ quan Cảnh sát và Cơ quan Công tố là hai cơ quan được tiến hành điều tra án hình sự. Riêng với các vụ trốn lậu thuế do Bộ Tài chính, các vụ về ma túy do Cơ quan Hải quan tiến hành điều tra.

Hoạt động điều tra được áp dụng theo mô hình điều tra thống nhất. Toàn bộ hoạt động điều tra từ khi bắt đầu đến khi kết thúc đều thuộc trách nhiệm của Viện Công tố. Về mặt lý thuyết, Viện Công tố chỉ đạo hoạt động điều tra, nhưng trong thực tế Viện Công tố không thể bám sát được tất cả các vụ việc hình sự, nên đến 80% số vụ việc hình sự nhỏ do Cảnh sát tự làm, chỉ báo cáo Viện Công tố trong trường hợp cần thiết, như phải tiếp tục theo dõi đối tượng tình nghi, những vụ việc Viện Công tố yêu cầu điều tra thêm, hay cơ quan Cảnh sát thấy cần phải bắt giam, khám nhà… để Viện Công tố xem xét hoặc đề nghị Tòa án quyết định. Nhưng tất cả hồ sơ các vụ án hình sự mà Cảnh sát đã tự điều tra, xử lý đều phải được chuyển đến Viện Công tố. 20% số vụ án hình sự còn lại, thường là những vụ án nghiêm trọng (như các vụ án giết người, cướp của, lậu thuế lớn…) thì ngay từ đầu Cảnh sát phải báo cáo và có sự tham gia, chỉ đạo của Viện Công tố để phối hợp, xây dựng kế hoạch làm việc cũng như để bàn phương pháp chiến thuật điều tra.

CHLB Đức có 16 bang. Công tác Cảnh sát là công việc của các bang, chịu sự chỉ đạo, quản lý của Bộ trưởng Bộ Nội Vụ bang. Cảnh sát liên bang chịu sự quản lý, chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Nội Vụ liên bang. Ở liên bang có bộ phận cảnh sát hình sự làm công tác bảo hiến. Công tố viên là công chức nhà nước, xếp vào ngạch tư pháp; còn Cảnh sát được xếp theo ngạch nội vụ.

Công tố viên chỉ được ra lệnh cho Cảnh sát trong vụ việc cụ thể. Công tố viên chỉ đạo công tác điều tra, được quyền tùy nghi truy tố, đứng ra đại diện cho Viện Công tố để thực hành quyền công tố. Việc chỉ thị cho Cảnh sát bao giờ cũng mang mang tính khách quan để điều tra cả nhân tố có lợi và bất lợi đối với người bị tình nghi.

Thẩm phán điều tra chỉ xuất hiện khi có các quyết định ảnh hưởng đến quyền hiến định của công dân, nhưng không có quyền điều tra mà chỉ có quyền xem xét các đề nghị của Viện Công tố gửi tới để quyết định. Tuy vậy, kể từ khi cáo trạng của Viện Công tố được chuyển tới Tòa án thì trách nhiệm điều tra thuộc về Thẩm phán. Thẩm phán xem xét hồ sơ và có quyền trả lại hồ sơ điều tra bổ sung nếu thấy chưa đủ chứng cứ.

Ở CHLB Đức có hai loại điều tra: Điều tra công khai và điều tra bí mật. Pháp luật cũng quy định cụ thể danh mục hai loại điều tra này, như quy định “chỉ được nghe lén điện thoại trong trường hợp sau…”. Không có phân định ra giai đoạn điều tra bí mật hay điều tra công khai, mà khi có lý do cần thiết thì tiến hành điều tra bí mật. Bên cạnh còn có điều tra tuyệt mật (nhưng rất ít). Về mặt nguyên tắc, kết quả điều tra dù công khai hay bí mật khi đã ra xét xử đều phải công khai, một số bằng chứng có thể giữ bí mật nếu có lý do chính đáng. Tuy vậy, cũng có cơ chế để tránh sự lạm dụng của Tòa án đối với việc giữ bí mật.

Do khối lượng công việc ngày càng nhiều nên luật cho phép các Công tố viên áp dụng “biện pháp ưu tiên” trong giải quyết vụ án hình sự. Thời hạn điều tra kéo dài từ 6 đến 9 tháng, nếu không có kết quả thì nhân viên Cảnh sát đã tiến hành điều tra phải có bản báo cáo giải trình. Viện Công tố có quyền đưa ra gợi ý để Cảnh sát đã tiến hành điều tra khắc phục vi phạm, hoặc có thể tự tiến hành điều tra, hoặc chỉ định nhân viên Cảnh sát của đơn vị khác tiến hành điều tra mà không cần một cơ quan trung chuyển. Thủ trưởng cơ quan Cảnh sát chịu trách nhiệm trước Bộ Tư pháp và Việc Công tố về hoạt động điều tra, nhưng không trực tiếp tiến hành điều tra và Viện Công tố cũng không có quyền chỉ định cho Thủ trưởng cơ quan Cảnh sát tiến hành điều tra.

Thủ trưởng cơ quan Cảnh sát và những người mới tốt nghiệp trường cảnh sát không phải là Điều tra viên. Tuy vậy, đại đa số Cảnh sát ở CHLB Đức là điều tra viên, vì dựa theo trình độ được đào tạo, quá trình công tác của nhân viên Cảnh sát và theo quy định của pháp luật về bổ nhiệm công chức thì từ trung sỹ cảnh sát trở lên là Điều tra viên.

Pháp luật không cho phép một người vừa là Thẩm phán điều tra vừa là Thẩm phán xét xử. Người dân Đức có tâm lý tin tuyệt đối vào Thẩm phán và tin rằng hành vi của Thẩm phán là dựa trên luật pháp. Trường hợp Công tố viên và Thẩm phán điều tra không thống nhất ý kiến về giải quyết vụ án thì Công tố viên có quyền gửi kiến nghị lên Tòa án cấp cao hơn xem xét quyết định.

Ở CHLB Đức không có Viện Công tố hay Công tố viên trong quân đội. Viện Công tố chỉ có ở cấp bang và cấp liên bang, nên việc nắm và quản lý thông tin về tội phạm chủ yếu do cơ quan Cảnh sát làm. Mỗi bang có cơ cấu hành chính riêng, việc phân cấp hệ thống cơ quan Cảnh sát theo địa giới hành chính hay theo địa giới tư pháp tùy thuộc vào quy định của từng bang khác nhau, mà Cảnh sát làm việc theo nhu cầu của địa phương, nên để giải quyết mâu thuẫn về thẩm quyền giữa địa giới hành chính và địa giới tư pháp, có bang thành lập các đơn vị đặc nhiệm. Nếu người phạm tội là quân nhân hoặc Cảnh sát thì Viện Công tố quyết định lấy Cảnh sát của đơn vị khác tiến hành điều tra mà không có cơ quan điều tra riêng.


2. Về các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra

Biện pháp tạm giữ được áp dụng đối với các trường hợp phạm tội quả tang, hoặc không xác định được nhân thân, hoặc có nguy cơ cản trở quá trình điều tra như người phạm tội thủ tiêu bằng chứng, chạy trốn, nguy cơ tái phạm cao… Trường hợp phải tạm giam thì trong vòng 24 giờ phải có hồ sơ và đề nghị gửi tới Thẩm phán quyết định.

Thời hạn tạm giam tối đa là 6 tháng phải mở phiên tòa, nếu chưa điều tra xong thì phải chuyển toàn bộ hồ sơ và đề nghị gia hạn tạm giam cho Tòa án tối cao của bang, trong đó nêu rõ lý do và khẳng định khi nào có thể mở phiên tòa xét xử được. Thời hạn gia hạn tối đa 2 tháng, ngoại lệ có thể là 3 tháng. Khi đã có quyết định mở phiên tòa thì không tính đến thời hạn tạm giam nữa. Nếu vì lý do phải hủy phiên xét xử thì thời hạn tạm giam lại bắt đầu từ đầu, nhưng rất hiếm xảy ra, vì theo thống kê, trong 60 vụ thì chỉ có 2 đến 3 vụ có bị can bị tạm giam. Có thể nộp tiền để tại ngoại thay cho tạm giam nếu có lý do chính đáng.

3. Về vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể tố tụng  

Ở CHLB Đức, hệ thống cơ quan tư pháp được tổ chức ở cấp liên bang và cấp bang. Ở cấp liên bang có Tòa án tối cao liên bang và Viện Công tố tối cao liên bang.

Ở cấp bang, hệ thống Tòa án và Viện Công tố không đồng nhất với nhau.

- Hệ thống Tòa án ở mỗi bang được chia thành 3 cấp: Tòa án sơ thẩm, Tòa án bang và Tòa án tối cao của bang (có bang có tới 3 Tòa án tối cao của bang). Tòa án sơ thẩm xét xử cấp sơ thẩm đối với những vụ án hình sự có mức hình phạt dưới 4 năm tù, còn lại là do Tòa án bang xét xử sơ thẩm. Tuy vậy, có những trường hợp Công tố viên có quyền đưa lên Tòa án bang để xét xử sơ thẩm cả với những vụ có mức hình phạt dưới 4 năm tù. Tại Tòa án sơ thẩm, đối với những vụ án có mức hình phạt từ 2 năm từ trở xuống do một Thẩm phán chuyên nghiệp xét xử; với những vụ án có mức hình phạt từ 2 đến 4 năm do Hội đồng gồm một Thẩm phán chuyên nghiệp và 2 Thẩm phán nghiệp dư xét xử. Tại Tòa án bang, Hội đồng xét xử gồm một Thẩm phán chuyên nghiệp và hai Thẩm phán nghiệp dư; nhưng đối với những vụ án đặc biệt nghiêm trọng thì Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán chuyên nghiêp và hai Thẩm phán nghiệp dư tiến hành. Tòa án tối cao của bang làm nhiệm vụ xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm.

Thẩm phán nghiệp dư chỉ có ở cấp xét xử sơ thẩm, là người không học luật, không được trả tiền thù lao, chỉ được trả tiền xe đi lại và do Hội đồng nhân dân bầu ra. Họ không được tiếp cận thông tin vụ án trước khi xét xử để đảm bảo khách quan. Việc lựa chọn Thẩm phán nghiệp dư là sự lựa chọn tình cờ, không có sự sắp xếp trước. Nếu phát hiện có sự sắp xếp trước thì có thể khiếu nại.

Thẩm phán nghiệp dư nào tham dự phiên tòa khai mạc thì cũng phải tham dự đến phiên cuối cùng. Khi xét hỏi được hỏi như một Thẩm phán, khi bỏ phiếu nghị án có quyền ngang với Thẩm phán chuyên nghiệp. Thẩm phán nghiệp dư đóng vai trò tích cực ở CHLB Đức vì bên cạnh việc hoạt động là một Thẩm phán nghiệp dư, thì ngoài đời họ là những người tuyên truyền pháp luật tích cực và lấy được lòng tin của nhân dân.

- Hệ thống Viện Công tố ở mỗi bang chỉ được tổ chức ở hai cấp ngang hàng với Tòa án bang và Tòa án tối cao của bang. Đó là Viện Công tố bang và Viện Công tố tối cao của bang.

Khi có vụ án hình sự ở Tòa án sơ thẩm, Viện Công tố bang phải cử Công tố viên đến Tòa án sơ thẩm để thực hành quyền công tố. Khác với một số quốc gia khác, Công tố viên ở CHLB Đức đã tham gia trong giai đoạn điều tra thì thường cũng trực tiếp tham gia thực hành quyền công tố. Khi bản án đã có hiệu lực pháp luật thì Viện Công tố cũng là cơ quan thực hiện việc cưỡng chế và thi hành án.

Vì Công tố viên chỉ đạo điều tra nên khi ra tòa phát hiện lỗi trong quá trình điều tra thì Công tố viên sẽ là người chịu trách nhiệm. Viện trưởng Viện Công tố là người chịu trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra hoạt động điều tra. Không có quy định về thời hạn điều tra, nhưng nếu sau thời hạn 6 hoặc 9 tháng chưa kết thúc điều tra thì Công tố viên có nghĩa vụ giải trình tại sao vụ việc chưa kết thúc để Viện trưởng Viện Công tố quyết định có thay đổi Cảnh sát hay đơn vị Cảnh sát khác điều tra. Việc điều tra vụ án bị kéo dài thường chủ yếu vì lý do giám định về tài chính, kinh tế... Những vụ án có bị can bị tạm giam là những vụ được chú ý nhiều. Chỉ những vụ việc rất phức tạp mới có tạm giam đến 6 tháng. Nếu hết thời giam này mà Viện Công tố không lập được cáo trạng thì phải thả người bị tình nghi.

- Về bị can:

Ở CHLB Đức, bị can được pháp luật bảo vệ và có những quyền, như: Được biết thông tin về việc tại sao bị nghi vấn, bị nghi vấn trong trường hợp nào và bị áp dụng theo điều khoản nào trong Bộ luật hình sự…, được tạo cơ hội để thu thập những chứng cứ có lợi bảo vệ cho mình ngay từ đầu.

Khi thẩm vấn bị can, Cảnh sát phải thông báo cho bị can biết về việc họ có quyền im lặng, có quyền thu thập chứng cứ để bào chữa, có quyền mời luật sư bào chữa hoặc nếu không có hoặc không biết luật sư nào có thể bào chữa cho mình thì được cung cấp danh sách các luật sư để lựa chọn... Nếu Cảnh sát không thực hiện những nội dung này thì kết quả thẩm vấn sẽ không có giá trị. Nếu bị can là người nước ngoài thì phải thông báo cho Đại sứ quán hoặc cơ quan đại diện của nước đó tại Đức (quy định này mới được đưa ra từ năm 2010 tuy nhiên hiện vẫn đang còn nhiều ý kiến khác nhau).

Về quyền được im lặng: Khi bị cáo ra tòa có quyền im lặng mà không bắt buộc phải khai nếu không muốn. Khác với luật của Anh, Hoa Kỳ, luật của CHLB Đức không coi im lặng là dấu hiệu tiêu cực trừ trường hợp đang khai sau lại im lặng.

Ở CHLB Đức không có khởi tố bị can. Khi người bị tình nghi được mời đến để lấy lời khai thì chỉ với tư cách là nhân chứng, chỉ khi Cảnh sát đã điều tra làm rõ và có căn cứ thì thông báo với họ là bị điều tra. Kể từ khi nhận được thông báo bị điều tra thì người đó được coi là bị can. Thời điểm coi là bị can hoàn toàn phụ thuộc vào quyết định của Cảnh sát, nên để tránh sự lạm dụng, luật CHLB Đức quy định là phải công bố sớm nhất và phải báo ngay cho Viện Công tố. Sau khi kết thúc điều tra, hồ sơ điều tra phải được công khai cho bị can nắm được. Khi có một quyết định đình chỉ của Tòa án thì người đó không còn là bị can nữa.

- Về Luật sư bào chữa:

Tổ chức luật sư ở CHLB Đức là một tổ chức độc lập, có các đoàn luật sư. Đây là tổ chức nghề nghiệp. Chỉ có quy định chung của luật để điều chỉnh về mặt nguyên lý chứ không quy định cụ thể. Việc bổ nhiệm và quản lý luật sư do từng Đoàn luật sư quy định. Luật sư ở địa phương nào phải được ghi danh vào Đoàn luật sư ở địa phương đó.

Với các vụ án thông thường không cần có luật sư mà đa số bị cáo tự bào chữa, trừ những vụ án có tình tiết phức tạp, bị cáo không tự bào chữa được mà bắt buộc phải có luật sư thì Nhà nước bố trí luật sư chỉ định và sau khi xét xử nếu bị cáo thua kiện thì phải trả tiền chi phí cho luật sư. Các trường hợp bắt buộc phải có luật sư là: Khi bị can đang bị tạm giam, hoặc phạm trọng tội (từ 1 năm tù trở lên), hoặc trường hợp kiến thức pháp lý áp dụng trong vụ án quá phức tạp so với kiến thức pháp lý của một người dân bình thường.

Luật sư bào chữa có một số quyền ưu tiên, như: Có quyền im lặng đối với những thông tin mà thân chủ cung cấp cho họ. Nếu luật sư cung cấp thông tin mà không được thân chủ đồng ý thì có thể bị truy tố. Khi được cấp giấy chứng nhận làm luật sư bào chữa thì có quyền tiếp cận thân chủ của mình bất cứ lúc nào, hình thức nào (qua điện thoại, gặp trực tiếp…). Ở trong trại giam được bố trí có một phòng riêng để luật sư gặp bị can mà không bị các phương tiện nghe, nhìn theo dõi. Việc trao đổi giữa luật sư và thân chủ phải được tôn trọng; luật sư được tiếp cận hồ sơ vụ án bất cứ lúc nào, có quyền sao chụp hồ sơ vụ án. Đặc biệt trường hợp thân chủ đang tạm giam thì bắt buộc phải cho luật sư xem 100% hồ sơ vụ án trước khi kết thúc điều tra. Có thể bãi nhiệm luật sư bào chữa trong trường hợp người này dùng những kỹ xảo nhằm ngăn cản, trì hoãn quá trình điều tra, xét xử.

Luật sư làm việc độc lập, được nhận thù lao do thân chủ trả, nhưng không được nhận tiền “bẩn”. Việc chứng minh là tiền “bẩn”, tiền “sạch” đang là vấn đề khó khăn, nhất là với trường hợp liên quan đến việc rửa tiền, nên luật cũng quy định nếu luật sư không biết tiền thù lao nhận được là tiền “bẩn” thì không bị phạt.

Luật sư được đào tạo thống nhất và phải trải qua 2 kỳ thi quốc gia. Luật sư có thể trở thành Công tố viên, Thẩm phán, nhưng trường hợp Công tố viên, Thẩm phán bỏ nghề để làm luật sư thì rất hiếm. Để trở thành Công tố viên, Thẩm phán không phải qua giai đoạn làm luật sư như ở Anh, Hoa Kỳ.

- Về nạn nhân:

Nạn nhân được coi là nhân chứng và là nhân chứng chính. Do vậy, quyền và nghĩa vụ của nhân chứng cũng chính là của nạn nhân. Nạn nhân trong vụ án hình sự là chủ thể tham gia phiên tòa, đứng về phía Viện Công tố, có quyền đệ đơn để thu thập chứng cứ. Trước năm 1980 với tư cách là một nhân chứng thì xong phần trình bày của mình, nạn nhân phải rời khỏi phiên tòa, nay có quyền có mặt tại phiên tòa từ đầu đến cuối, có quyền nói lời cuối cùng trước khi nghị án; có quyền kháng cáo, dùng tiền của Nhà nước để thuê luật sư bào chữa đại diện cho mình (nhất là với những vụ lạm dụng tình dục)...

Theo luật, ở CHLB Đức, nạn nhân có quyền truy tố. Việc truy tố không dựa vào kết quả điều tra của Cảnh sát mà tự mình tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ. Các trường hợp đó chỉ là những vụ việc nhỏ nhặt như tát, chửi nhau…

Vấn đề bồi thường cho nạn nhân được tiến hành thông qua luật dân sự. Ở CHLB Đức không có sự liên hệ giữa tố tụng dân sự và tố tụng hình sự. Nhưng với những vụ án hình sự có yếu tố dân sự, thông thường Tòa án dân sự bao giờ cũng chờ Tòa án hình sự giải quyết xong mới giải quyết; vì trong hồ sơ và phán quyết hình sự đã bao gồm phần thiệt hại dân sự, thủ tục cũng chặt chẽ hơn.

- Về cơ chế bảo vệ nhân chứng:

Có 2 cách bảo vệ nhân chứng là bảo vệ ở cơ quan Cảnh sát và cơ quan Công tố. Thường chỉ áp dụng trong trường hợp nhân chứng là thành viên khai về những thông tin của băng đảng mình và sợ bị trả thù. Vì chi phí bảo vệ nhân chứng đắt và liên quan đến nơi ở, việc làm, đến bản thân cũng như gia đình nhân chứng được bảo vệ, nên ở CHLB Đức thường mới chỉ tiến hành bảo vệ nhân chứng ở mức thấp (ví dụ xe tuần tra cảnh sát thường xuyên tuần tra qua nhà nhân chứng, cảnh sát đón nhân chứng từ nhà đến phiên tòa…).

4. Vấn đề tùy nghi truy tố, mặc cả nhận tội

- Về vấn đề tùy nghi truy tố:

Ở CHLB Đức không có quy định về tùy nghi truy tố của Công tố viên. Việc đình chỉ không truy tố là với những vụ án khi thấy chứng cứ quá yếu. Công tố viên đình chỉ mà không cần giải thích với Cảnh sát lý do không truy tố. Ngoại lệ, có những vụ được đình chỉ vì lý do đặc biệt như: người bị tình nghi không có tiền án tiền sự, đã có sự đền bù trước hoặc ý nghĩa giáo dục không cần đến mức phải truy tố… nhằm làm giảm áp lực cho cơ quan Công tố và Tòa án. Tuy vậy, việc đình chỉ phải căn cứ theo quy định tại Điều 153 và 154 BLTTHS.

Khi có hồ sơ của Cảnh sát chuyển đến, Viện Công tố xem xét có truy tố hay không để đưa ra quyết định xử lý. Những trường hợp được phép đình chỉ: Theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 153 BLTTHS là các trường hợp: Đối với với các trường hợp kinh tội, những tội mà tính nguy hiểm cho xã hội nhỏ; những tội phạm mà chỉ cần phạt tiền là đủ hoặc nếu có phạt tù thì không quá một năm cải tạo không giam giữ. Khi đình chỉ Viện Công tố thường thống nhất với Tòa án, còn những vụ nhỏ thì không cần trao đổi. Nhưng nếu những vụ đáng đình chỉ mà Viện Công tố không đình chỉ thì Tòa án có quyền đình chỉ và trong trường hợp này thì thường trao đổi lại với Viện Công tố. Khi đình chỉ cần đặc biệt quan tâm đến các trường hợp vị thành niên và cần có sự trao đổi thống nhất với Tòa án vị thành niên.

Điều 154 BLTTHS có quy định một số trường hợp đình chỉ có tính ngoại lệ. Đó là: Trường hợp bị cáo đã bị kết án nhưng lại tiếp tục phạm tội tiếp nhưng tính chất nhỏ hơn nhiều so với tội phạm đã bị kết án (ví dụ một người phạm tội giết người đã bị kết án nhưng sau đó lại phạm tội trốn vé thì sẽ bỏ qua tội trốn vé). Trường hợp phạm tội nhiều lần cùng một loại tội hoặc phạm một lần nhiều tội, thì chỉ xem xét để xử lý với tội nặng nhất. Những hành vi phạm tội xảy ra ở nước ngoài mà đã bị nước sở tại xét xử rồi. Những ngoại kiều phạm tội ở CHLB Đức mà bị trục xuất thì không truy tố mà chỉ trục xuất khỏi Đức ngoại trừ trường hợp phạm tội tình báo… Trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng đã gây ra thiệt hại và có bồi thường thiệt hại cũng có thể được đình chỉ.

Ở Đức có tổng cộng 4.800 Công tố viên. Theo thống kê trong năm 2002, trung bình mỗi một Công tố viên phải xử lý 2.500 vụ bao gồm cả án đình chỉ. Mặc dù lượng án ngày càng nhiều nhưng với những quy định thuận lợi cho việc đình chỉ của Công tố viên, nên số lượng án đưa ra truy tố không phải là nhiều; mặt khác lại có chương trình đào tạo tốt nên Công tố viên Đức vẫn đảm đương được tốt công việc.

Thời hạn cần thiết kể từ khi nhận được hồ sơ/thông báo đến khi Viện Công tố quyết định truy tố hoặc đình chỉ, trong năm 2002 trung bình mỗi một vụ kéo dài 2 tháng. Đối với Tòa án cấp sơ thẩm trung bình xử lý một vụ án kể từ khi nhận được hồ sơ của Viện Công tố đến khi xong thường là 4 tháng; ở Tòa án bang thì thời hạn trung bình giải quyết là 4,1 tháng; các vụ phúc thẩm ở Tòa án bang là 3,5 tháng; các vụ giám đốc thẩm chuyển Tòa tối cao bang là 1,3 tháng. Do đó, trọng tâm công việc chủ yếu nằm ở Tòa án bang và ở đây là nơi có nhiều nhất việc mặc cả nhận tội.

Trường hợp nếu một người bị bắt tạm giam sau đó điều tra vô tội thì được Nhà nước đền bù 25 EUR/ngày. Người tiến hành tố tụng không phải bồi hoàn. Trong mọi trường hợp Thẩm phán đều không có lỗi, mà thường xác định lỗi là của Điều tra viên, Công tố viên và tùy vào mức độ sai phạm có thể bị kỷ luật.

- Về vấn đề mặc cả nhận tội:

Mặc cả nhận tội chính thức được đưa vào luật từ tháng 8 năm 2009. Lý do là trong những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước, các vụ án về kinh tế thường kéo dài, nên nhiều khi Công tố viên và luật sư bào chữa phải trao đổi để xác định lịch làm việc của mỗi bên. Luật sư thường khuyên thân chủ khi làm việc với các cơ quan tư pháp nên thông qua luật sư bào chữa. Do vậy, việc mặc cả nhận tội có thể xuất phát từ 2 phía (luật sư bào chữa hoặc Công tố viên). Trong cuộc đàm phán mặc cả nhận tội có mời thêm Thẩm phán. Việc mặc cả phải kèm theo lời hứa không kháng cáo. Theo quy định hiện hành, Công tố viên và bị can không được mặc cả cụ thể về mức hình phạt mà chỉ mặc cả về khung hình phạt, còn lại mức hình phạt cụ thể là do Thẩm phán, hoặc Hội đồng xét xử quyết định. Cuộc họp đàm phán mặc cả đó không phải là chính thức nên không có biên bản.

Hoạt động mặc cả nhận tội tiết kiệm được nhiều thời gian của người tiến hành tố tụng, nhưng nó cũng có nhiều mặt trái, nên đã có nhiều quy định nhằm hạn chế sự mặc cả. Dư luận cũng không đồng tình với quy định mặc cả nhận tội vì họ cho rằng không có sự minh bạch trong đó. Họ yêu cầu nhà lập pháp Đức phải có điều khoản riêng và phải có một Luật riêng quy định về loại thỏa thuận này. Theo đó, phải quy định rõ khi thấy có triển vọng tốt thì mới được phép thỏa thuận, những nội dung nào được thỏa thuận, nội dung nào không được thỏa thuận, bản nhận tội của bị can được quy định theo một hình thức chặt chẽ. Đồng thời, luật cũng quy định mức án phải tương ứng với hành vi phạm tội và không vi phạm nguyên tắc xác định sự thật của vụ án.

Khi đưa ra xét xử thì vẫn tiến hành theo thủ tục bình thường. Các nhà lập pháp đã đưa ra một số điều khoản thuận lợi cho việc thỏa thuận, quy định cách thức thỏa thuận. Ngay trong quá trình điều tra, Công tố viên đã có quyền thỏa thuận với bị can hoặc luật sư bào chữa; ngay khi nộp cáo trạng mà chưa xét xử, cũng có quyền thỏa thuận, thậm chí trong khi Tòa án xét xử họ cũng có quyền thỏa thuận riêng với nhau (thông qua việc lui vào phía sau để trao đổi). Khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán phải thông báo đã hay chưa từng tiến hành thỏa thuận, đã thỏa thuận đạt được mức nào.

Thỏa thuận mặc cả chỉ đạt được thành công khi tất cả các bên tham gia đồng ý và Tòa án chấp nhận thỏa thuận đó. Có quy định ngoại lệ để Tòa án không nhất thiết phải chấp nhận thỏa thuận giữa Công tố viên và bị can. Đó là khi phát hiện tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án mà bản nhận tội của bị can không thành khẩn thì Tòa án có quyền tuyên bố không đồng ý với thỏa thuận đó, và phiên tòa lại tiến hành như một phiên tòa bình thường. Vụ án đó phải được xử công khai và ghi biên bản, có sự giải thích rõ ràng để không có sự hiểu nhầm về một thỏa thuận.

5. Thủ tục xét xử án hình sự

- Về xét xử sơ thẩm:

Khi có quyết định truy tố thì cáo trạng và hồ sơ vụ án được chuyển đến Tòa án sơ thẩm, nếu mức hình phạt trên 4 năm tù thì chuyển đến Tòa án bang. Tòa án có trách nhiệm xem xét để quyết định có đưa vụ án ra xét xử hay không. Nếu đưa ra xét xử thì Tòa án chuyển cáo trạng cho bị can kèm theo đó là các câu hỏi, như: có đồng ý với cáo trạng hay không, có cần luật sư do Tòa án chỉ định không… Đồng thời, Tòa án cũng quyết định có mời thêm các nhân chứng, giám định viên… và xác định xem vấn đề gì còn thiếu.

Về quy trình xét xử, Điều 243 BLTTHS quy định: Trước tiên Hội đồng xét xử sẽ tuyên bố ai xét xử, xử ai, kiểm tra những người có mặt tại phiên tòa, sau đó tất cả nhân chứng rời khỏi phòng xử án. Chủ tọa hỏi bị cáo về nhân thân, đọc cáo trạng, bị cáo được phép phát biểu nếu muốn, luật sư và Công tố viên muốn phát biểu ở bất cứ thời điểm nào thì phải giơ tay. Thường luật sư hay lạm dụng quyền này để đưa ra các lý do đề nghị hoãn phiên tòa, thay đổi người tiến hành tố tụng. Nếu đề nghị thay đổi Thẩm phán thì phải đề nghị ngay từ khi bắt đầu phiên tòa. Chủ tọa có thể thay đổi tiến trình xét xử. Nếu có xung đột giữa ý kiến của Luật sư và Công tố viên thì có thể ghi vào biên bản.

Khi xét xử, 100% phiên tòa được mở công khai, xét xử bằng lời nói, hỏi và khai trực tiếp tại phiên tòa, trừ trường hợp nhân chứng không thể đến được, như đã chết, bị ốm nặng… thì có thể đọc lời khai của nhân chứng đã được lập trong quá trình điều tra.

Trong phiên xét xử, nếu Hội đồng xét xử gồm 3 Thẩm phán trở lên thì có 1 Thẩm phán làm Chủ tọa phiên tòa. Tòa án nắm vai trò chủ đạo trong giai đoạn xét xử, có thể tự mình tìm hoặc bổ sung chứng cứ, có quyền quyết định ai được phép phát biểu… Chủ tọa là người trực tiếp xét hỏi, sau đó mới đến lượt Công tố viên, luật sư. Các câu hỏi nêu ra không được trùng lặp. Chủ tọa phiên tòa có quyền điều khiển Cảnh sát tư pháp tại tòa và những người tham gia phiên tòa. Trong phiên tòa xét xử có 1 Thư ký tòa ghi lại biên bản.

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, Công tố viên có nhiệm vụ đọc bản cáo trạng. Đây là một thủ tục bắt buộc, mặc dù đã gửi trước bằng văn bản cho Tòa án. Cáo trạng nêu rõ truy tố ai, tội gì, các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội, áp dụng điều khoản nào của Bộ luật hình sự... Tuy vậy, Công tố viên tham dự phiên tòa trực tiếp đọc cáo trạng này không nhất thiết phải là người đã trực tiếp chỉ đạo hoạt động điều tra, mà chỉ đại diện cho cơ quan Công tố.

Kết thúc việc đọc cáo trạng, vai trò thẩm vấn (nhân chứng, bị cáo) chuyển sang Thẩm phán. Công tố viên có quyền đặt câu hỏi bổ sung, quyền đề nghị Tòa án thu thập thêm chứng cứ. Thứ tự thẩm vấn lần lượt từ Thẩm phán, Thẩm phán nghiệp dư, Công tố viên, luật sư, bị cáo. Công tố viên muốn đưa ra chứng cứ gì mới thì phải qua Thẩm phán. Trước khi nghị án, Công tố viên có quyền phát biểu, sau khi nghị án và tuyên án, Công tố viên có quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án.

Khi nghị án, ý kiến của thành viên Hội đồng xét xử đưa ra trước, Chủ tọa đưa ra ý kiến cuối cùng. Khi tuyên án, Chủ tọa phiên tòa sẽ tuyên án nhân danh nhân dân và đưa ra lời giải thích (bằng lời nói). Bản án bằng văn bản được đưa ra trong 5 tuần sau đó.

- Về thủ tục xét xử phúc thẩm:

Có hai hình thức kháng án là kháng cáo của bản thân bị cáo và kháng nghị của Viện Công tố. Phần lớn đơn kháng cáo, kháng nghị đều có xu hướng đề nghị tăng án. Có 2 loại kháng án:

+ Kháng cáo, kháng nghị đới với bản án sơ thẩm. Việc kháng án loại này được gửi tới Tòa án bang. Khi xét xử phúc thẩm sẽ xét xử lại từ đầu. Lấy lại lời khai các nhân chứng, tiến hành lại hoạt động giám định… và có quyền đưa thêm nhân chứng mới nhằm mục đích tìm ra sự thật. Vẫn có nghị án và tuyên án.

+ Kháng nghị xin xét lại: Có thể vượt cấp và gửi thẳng tới Tòa án tối cao bang, nhưng thực tế ít xảy ra.

Trường hợp kháng nghị việc Thẩm phán Tòa án sơ thẩm xét xử không đúng, Tòa án cấp trên có thể trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án sơ thẩm ban đầu nhưng phải do một Thẩm phán khác tiến hành theo quy trình xét xử hoàn toàn mới. Kháng nghị có thể không được Tòa án cấp trên chấp thuận, tỷ lệ phần trăm thành công khi kháng nghị ít (dưới 10% thành công). Nếu kháng nghị vì đã áp dụng sai luật bắt buộc phải ghi lý do và gửi tới Tòa án trong thời gian 4 tuần.

- Về thủ tục tái thẩm:

Tái thẩm áph dụng trong trường hợp đặc biệt để xét lại các thực tế mới xuất hiện (nhân chứng mới, chứng cứ mới…) hoặc luật thay đổi sau khi tuyên án. Phải có lý do rất đặc biệt mới tổ chức phiên tòa tái thẩm. Hiện nay, việc sử dụng kỹ thuật AND để xác định chứng cứ buộc tội bị cáo với những vụ án đã xảy ra cách đây lâu năm là vấn đề đang còn nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề thời hiệu. Việc xét xử tái thẩm không giao cho Tòa án trước đây đã từng giải quyết vụ án đó, mà thường là giao cho một Tòa án khác cùng cấp tiến hành và mức án được tuyên ở phiên tòa tái thẩm không được cao hơn án cũ.

Việc kháng án đến cấp tối cao rồi thì không được quyền kháng án nữa. Trường hợp vẫn không đồng ý với phán quyết cao nhất của quốc gia thì có thể đệ đơn lên Tòa án nhân quyền Liên Minh Châu Âu.

- Về biện pháp cưỡng chế để có mặt:

Khi có giấy triệu tập của Công tố viên, của Thẩm phán thì việc nhân chứng, bị can đến trụ sở Viện Công tố hoặc phiên tòa là bắt buộc. Hội đồng xét xử có quyền triệu tập hoặc bắt giam bị cáo tại chỗ (thực tế chưa xảy ra).

Nếu nhân chứng được triệu tập mà không đến thì có thể bị phạt tiền, hoặc bị Cảnh sát dẫn giải. Trường hợp không đến mà không có lý do chính đáng, thì toàn bộ phí tổn mở phiên tòa xét xử không thành đó sẽ là tiền phạt đối với nhân chứng. Nhân chứng có quyền không khai trong trường hợp người bị tình nghi là người thân thích hoặc nếu việc khai gây áp lực cho bản thân. Nếu không có lý do chính đáng mà không khai thì có thể bị phạt tiền, hoặc bị phạt tù đến 6 tháng.

Nếu người đang chấp hành án phạt tù được đưa ra làm nhân chứng mà họ không khai (trường hợp bắt buộc phải khai) thì sẽ bị tăng thời gian tù lên đến 6 tháng hoặc phí tổn mở phiên tòa xét xử hôm đó sẽ thành tiền phạt và trong thời hạn nhất định, nếu không nộp tiền thì sẽ bị chuyển thành hình phạt tù. Hình phạt tiền thay thế hình phạt tù được tính theo thu nhập của từng người theo ngày. Trên cơ sở số ngày bị phạt tù mà tính ra số tiền phạt tương ứng. Điều này sẽ dễ dàng áp dụng đối với người có thu nhập rõ ràng như công chức nhà nước, người có hợp đồng lao động, nhưng đối với người hoạt động độc lập thì khó xác định mức thu nhập nên thường dựa vào điều kiện sống của người đó.

Người bị tạm giam có quyền khiếu nại, yêu cầu đối chất. Người bị tình nghi có quyền đề nghị có ngay luật sư khi bắt đầu tạm giam. Ở CHLB Đức, tùy vào điều kiện mỗi bang mà có thể áp dụng biện pháp nương nhẹ đối với phụ nữ khác nhau (thường trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng). Theo thống kê tỷ lệ phạm tội nghiêm trọng ở phụ nữ rất ít, nếu có thì chủ yếu là tội phạm ma túy. 

6. Về thủ tục rút gọn:

Có 2 công cụ áp dụng trong thủ tục rút gọn là: Xét xử rút gọn và ra lệnh phạt.

Thủ tục xét xử rút gọn được áp dụng ở Tòa án sơ thẩm với một Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử gồm một Thẩm phán chuyên nghiệp và hai Thẩm phán nghiệp dư, do Viện công tố đề nghị đối với những trường hợp có chứng cứ rõ ràng, tình tiết đơn giản. Cáo trạng được thay bằng đơn đề nghị, đơn có thể được thay bằng lời nói, Tòa án không cần ra quyết định xét xử, giấy triệu tập đơn giản, xét chứng cứ cũng đơn giản có thể chỉ qua biên bản... Thủ tục này áp dụng đối với loại tội có mức hình phạt đến một năm tù.

Lệnh phạt được áp dụng để xét xử ở cấp sơ thẩm và với tội phạm nhẹ (loại khinh tội). Hình phạt chủ yếu là phạt tiền, hình phạt tù không giam giữ có mức án dưới một năm tù. Trường hợp đơn đề nghị áp dụng lệnh phạt của Viện Công tố không được Tòa án chấp nhận, Công tố viên có thể gửi kháng nghị lên Tòa án cấp cao hơn. Trường hợp chấp nhận đơn đề nghị thì Thẩm phán ký và Lệnh phạt đó có hiệu lực sau 14 ngày nếu không có kháng cáo. Trường hợp Thẩm phán không thống nhất với mức đề nghị của Viện Công tố thì sẽ mở theo phiên tòa bình thường, đơn đề nghị của Viện Công tố sẽ được coi như cáo trạng.

7. Về chứng cứ

Khi Viện Công tố chưa có cáo trạng, thì việc thu thập chứng cứ là trách nhiệm chủ yếu là của cơ quan Cảnh sát và Viện Công tố, trường hợp cần thiết có thể xin phép Thẩm phán điều tra cho phép áp dụng một số biện pháp điều tra bí mật như nghe lén điện thoại… Trong giai đoạn xét xử thì Tòa án đóng vai trò điều tra chính.

Trong giai đoạn đầu của quá trình điều tra chỉ có Cảnh sát và Viện Công tố được quyền thu thập chứng cứ; có thể cho phép luật sư bào chữa thu thập chứng cứ nếu việc thu thập chứng cứ đó không gây áp lực cho nhân chứng và được tiến hành theo quy định pháp luật. Luật sư thu thập chứng cứ về phải trình báo cho cơ quan Cảnh sát những chứng cứ đã thu thập được, không được giữ kín đến phiên tòa vì nếu không trình báo thì chứng cứ đó sẽ không được chấp nhận. Những chứng cứ có lợi cho thân chủ mới phải báo cáo, chứng cứ không có lợi cho thân chủ không buộc phải báo cáo.

Điều tra thám tử tư: Pháp luật tố tụng hình sự của CHLB Đức không quy định việc điều tra của thám tử tư. Mặc dù, thám tử tư được cấp giấy phép để hành nghề, nhưng họ không có quyền đặc biệt gì hơn so với công dân bình thường (khác với thám tử tư ở Mỹ có quyền rất rộng gần như điều tra viên).

Chứng cứ hợp pháp: Nhiệm vụ của tố tụng hình sự là đi tìm sự thật khách quan, nhưng “không phải tìm chân lý bằng mọi giá” vì thế, có quy định trong quá trình xét xử cấm Tòa án được sử dụng những chứng cứ có được bằng các biện pháp bất hợp pháp. Nếu có thì đây cũng là một trong những lý do để kháng nghị. Không có quy định cụ thể về việc đánh giá chứng cứ mà người áp dụng pháp luật sẽ suy từ các quy định của Hiến pháp ra. Có thể dựa vào 3 lý do chính để đánh giá chứng cứ: Việc thu thập chứng cứ được dựa trên căn cứ pháp luật nào; quyền cân nhắc của người điều tra thu thập chứng cứ; và dựa vào thuyết vị lợi, tức là sử dụng biện pháp để thu thập được chứng cứ, mà lợi ích của nó lớn so với lợi ích tổng thể.

Chứng cứ không hợp pháp: Là những chứng cứ thu thập bằng cách bất hợp pháp. Ví dụ, quy định trước khi thẩm vấn phải có sự giải thích trước về quyền của người bị thẩm vấn của cơ quan tiến hành tố tụng, nếu không có sự giải thích trước thì mọi lời khai đều bị coi là thu thập chứng cứ bất hợp pháp.

Người có quyền và nghĩa vụ thu thập chứng cứ tại phiên tòa: Kể từ khi Viện Công tố chuyển cáo trạng đến thì quyền hạn giải quyết vụ án chủ yếu thuộc về Tòa án. Viện Công tố và bị can có quyền thu thập chứng cứ thông qua đơn đề nghị. Đơn đề nghị phải nêu được 2 phần: Lý do sự việc cần thu thập và cách thức thu thập chứng cứ đó. Hai phần này phải có quan hệ nhân - quả.

Tòa án có quyền từ chối với một số điều kiện nhất định được quy định cụ thể trong danh mục. Các điều kiện từ chối đó là: Đơn đề nghị không có căn cứ (như đề nghị kiểm tra nói dối bằng máy); khi mà việc đó là cuộc sống bình thường (như đề nghị xác minh tiếng ồn ở lễ Giáng sinh); không có mối quan hệ với việc cần giải quyết; việc đó đã được điều tra; nhân chứng mà Tòa án biết rằng người đó sẽ giữ im lặng; đề nghị không thể thực hiện được (triệu tập nhân chứng khi người đó đang ở nước ngoài). Tuy vậy, luật của CHLB Đức cho phép trong một số trường hợp có thể lấy lời khai qua hình ảnh mà không nhất thiết phải gặp trực tiếp và nghe trình bày bằng lời nói qua kỹ thuật video... 

Khi chấm dứt phần đưa ra chứng cứ mà các bên vẫn còn nguyện vọng thu thập thêm chứng cứ thì Tòa án vẫn có thể chấp nhận để điều tra tiếp. Đề nghị này có thể bằng văn bản hoặc có thể bằng lời nói tại phiên tòa.

8. Về mô hình tố tụng và xu hướng cải cách Luật tố tụng hình sự của Đức

Cách đây trên 130 năm nước Đức đã đi theo mô hình tố tụng thẩm vấn. Trong lịch sử đã có nhiều lần cải cách. Từ năm 1924 đã có cuộc cải cách, đó là cuộc cải cách sâu rộng nhất với ý nghĩa thay đổi mô hình tố tụng hình sự, thử nghiệm mô hình có bồi thẩm đoàn, nhưng xét thấy không có hiệu quả, nên đã bỏ. Đến nay, có thể xác định mô hình tố tụng thẩm vấn là mô hình tối ưu, là mô hình lý tưởng và có lẽ nước Đức sẽ không có ý định thay đổi mô hình này, vì nó vừa bảo đảm được vị thế của luật sư vừa đạt được sự độc lập tuyệt đối của Thẩm phán, độc lập gần tuyệt đối của Công tố viên đó là điều người Đức tự hào.

Tuy vậy, việc cải cách tư pháp ở CHLB Đức vẫn diễn ra. Thời kỳ Đức quốc xã (1933 – 1945) quyền của người bị hại bị trà đạp, những người tiến hành tố tụng đã lợi dụng luật tố tụng hình sự để thực hiện nhiệm vụ chính trị. Từ sau thế chiến thứ hai (từ năm 1945), nước Đức bắt đầu xây dựng nhà nước pháp quyền, có thể nói là một nước tổ chức theo mô hình nhà nước pháp quyền nhanh nhất và kể từ đó những cải cách tư pháp có nhưng không có gì đáng kể. Tuy vậy, có thể thấy những nét chính của sự sửa đổi từ đó đến nay, như: Đã bỏ hình phạt tử hình, quy định lại chế độ tạm giam theo hướng có lợi cho người bị tạm giam, người bị hại, nâng cao vị thế của luật sư. Năm 1974 có cuộc cải cách tư pháp, nhưng chỉ tập trung vào sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự, đưa ra hình thức rút gọn và phân loại án kinh tế. Cuối những năm 1980 do có sự bùng nổ nạn khủng bố, nên có sửa đổi nhỏ trong Bộ luật tố tụng hình sự nâng cao thẩm quyền, vị thế của Cảnh sát và đến nay việc sửa đổi này vẫn còn hiệu lực. Năm 1988 có sửa đổi để nâng cao vị thế của nạn nhân, quy định trách nhiệm và mức bồi thường cho nạn nhân cao hơn. Đối với người bị tạm giam đã có sự thay đổi, có quyền mời luật sư ngay từ ngày đầu, khác với trước đây là sau 3 tháng mới được mời luật sư. Năm 2009 đã bổ sung Luật bảo vệ nhân chứng là vị thành niên, quy định độ tuổi vị thành niên là dưới 18 tuổi, không như trước đây quy định là dưới 16 tuổi. Khi xét hỏi nạn nhân dưới 18 tuổi (trước đó là 16 tuổi) thì những người tham dự phải ra ngoài để đảm bảo sự riêng tư cho vị thành niên.

Dự đoán trong thời gian tới chưa có sự cải cách gì mới. Nếu có cải cách tư pháp thì chủ yếu tập trung vào những khía cạnh sau:

+ Tập trung vào bình diện công nghệ do sự phát triển của công nghệ mới đã làm cho luật đã có trở nên bị lỗi thời.

+ Xu hướng quốc tế hóa và toàn cầu hóa nên những gì đưa ra để cải cách luật là do Hội đồng Châu Âu quy định, Quốc hội Đức chỉ có nhiệm vụ nội luật hóa để cho phù hợp. 

+ Việc sử dụng kỹ thuật video có thể mở rộng hơn. Hiện tại, trong quá trình điều tra có thể ghi lại bằng video để phục vụ trong phiên tòa trong một số trường hợp nhất định.

+ Hiện tại, đang có dự thảo sửa đổi quy định về thủ tục tố tụng rút gọn theo hướng linh động hơn, có thể rút gọn trước và ngay trong quá trình xét xử cũng có thể quyết định áp dụng thủ tục rút gọn

+ Tổ chức của bộ máy các cơ quan tư pháp hiện chưa có dự án sửa đổi gì, nhưng Hiệp hội Thẩm phán đang tranh luận về tính độc lập của các cơ quan tư pháp đặc biệt cơ quan Tòa án có thể có quyền tự bổ nhiệm và quyết định lương.

+ Hiện tại quy định khi nhận được giấy triệu tập của Cảnh sát, người bị triệu tập có thể không có mặt mà chỉ bắt buộc có mặt đối với giấy triệu tập của Công tố viên và Thẩm phán. Do vậy, có thể sửa theo hướng bắt buộc phải có mặt đối với cả giấy triệu tập của cơ quan Cảnh sát.

9. Nhận xét, đánh giá về Luật tố tụng hình sự Đức và kinh nghiệm rút ra

- Một số nhận xét, đánh giá

Luật tố tụng hình sự của CHLB Đức được đánh giá là tiên tiến, không có hành vi tố tụng nào là không được điều chỉnh trong luật. Đặc biệt đối với thủ tục rút gọn quy định về lệnh phạt là rất linh hoạt. Thực tế Tòa án phải xét xử rất ít. Các quy định về thủ tục và quy trình giải quyết án hình sự của Đức đã giúp cho việc xử lý các vụ án được giản lược và thu gọn dần, giống như cái phễu tinh lọc dần vụ việc.

Một thế mạnh trong luật của CHLB Đức là sự phối hợp hữu hiệu giữa cơ quan Cảnh sát, Viện Công tố, Tòa án. Luật quy định rất rõ nghĩa vụ, thẩm quyền của từng cơ quan, không có sự trùng lẫn nhau. Bản thân từng cơ quan tư pháp có ý thức được sự chế ước bởi cơ quan khác.

Mặt bằng giao lưu tốt, mỗi nhân viên chỉ biết một người chỉ đạo tố tụng cấp trên trực tiếp của mình, mà không biết đến cấp trên nữa. Cảnh sát chỉ biết Công tố viên trực tiếp, Công tố viên chỉ biết Tòa án mà không có sự đi thẳng từ Cảnh sát đến Tòa án.

Hệ thống thẩm vấn của CHLB Đức là hệ thống lý tưởng để tìm ra chân lý khách quan sự việc: Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, điều này đảm bảo được tính khách quan của Tòa. Hệ thống Tòa án độc lập về mặt tổ chức không có một cơ quan tổ chức nào có thể can thiệp.

Quyền được xin điều tra, được thu thập chứng cứ ở bất cứ giai đoạn nào giúp cho việc củng cố quyền của các chủ thể khi tham gia phiên tòa.

Tuy vậy, Luật tố tụng hình sự của CHLB Đức cũng bộc lộ những mặt hạn chế, như: Việc ghi biên bản trong tố tụng ở CHLB Đức từ cấp Tòa án bang trở lên còn sơ sài. Việc quy định trong danh mục cấm các chứng cứ được đem ra đánh giá còn chung chung; đặc biệt những danh mục chính chưa được đưa vào luật.

Thời gian giải quyết một vụ án còn dài. Việc tạm giam để tra cứu của các Thẩm phán điều tra còn biểu hiện sự dễ dàng khi xem xét, quyết định việc tạm giam, chỉ chủ yếu dựa vào nguy cơ tội phạm có thể bỏ trốn để quyết định bắt tạm giam người bị tình nghi.

Khả năng khiếu nại khi Viện Công tố đình chỉ vì lý do chứng cứ yếu mà không phải nêu rõ lý do, cần phải có một chế tài quy định cụ thể hơn để tránh việc khiếu nại tràn lan và nếu khiếu nại sai sẽ có hình thức xử phạt thích đáng.

Việc lạm dụng sử dụng quyền đề nghị thu thập chứng vào cứ bất cứ thời gian nào, kể cả lúc trước khi bắt đầu đọc tuyên án; việc nộp đơn đề nghị không cùng một lúc gây nên việc giải quyết vụ án bị kéo dài.

- Một số kinh nghiệm rút ra sau khi nghiên cứu, trao đổi

Luật tố tụng của CHLB Đức có nhiều điểm mạnh và mặt tích cực rất cần được nghiên cứu để vận dụng khi xây dựng Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi) của Việt Nam:

+ Quy định rất rõ vai trò của Công tố trong điều tra. Công tố hoàn toàn chỉ đạo hoạt động điều tra. Đây là vấn đề rất cần được cần nghiên cứu khi thực hiện chủ trương xây dựng một nền công tố mạnh;

+ Các giai đoạn tố tụng hình sự Đức, chỉ có 2 giai đoạn: tiền xét xử và xét xử. Trong giai đoạn tiền xét xử: Không quy định khởi tố vụ án mà tiến hành điều tra khi đủ chứng cứ thì chuyển sang Tòa án là một điểm tích cực giúp cho việc giảm tải sức ép của dư luận và áp lực về công việc cho cơ quan Cảnh sát điều tra và cơ quan Công tố.

+ Hệ thống giữa Tòa án và Công tố không đồng bộ nhau (cấp bang: Tòa án có 3 cấp, Viện Công tố chỉ có 2 cấp), nhưng khi truy tố thì Viện Công tố chỉ truy tố ra Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm, nên dù vụ án đó do Viện Công tố tối cao liên bang hay Viện công tố tối cao của bang truy tố thì cũng đều chuyển đến Tòa án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm là nội dung cần được nghiên cứu khi xây dựng mô hình hệ thống tổ chức Tòa án và Viện kiểm sát 4 cấp trong khi đó cơ quan điều tra vẫn theo 3 cấp ở Việt Nam.

+ Tòa án cấp phúc thẩm: Tòa án không hủy án để điều tra lại mà họ tự tiến hành điều tra theo một quy trình hoàn toàn mới, xét xử toàn bộ bản án chứ không chỉ những điểm có kháng cáo, kháng nghị.

+ Không giải quyết dân sự trong vụ án hình sự làm cho việc giải quyết vụ án hình sự được tập trung hơn.

+ Mô hình xử lý và giải quyết án được thực hiện theo quy trình “hình phễu”, chỉ truy tố khoảng 25 % số vụ án hình sự xảy ra, rất cần được nghiên cứu để có những quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi) của Việt Nam./.

Thúy Hòa

Vụ Hợp tác quốc tế - VKSNDTC

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi