Một số vấn đề về hoạt động tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm

Th. Võ Thị Hồng Luyến

VKSND tỉnh Quảng Ngãi       

Trong nội dung bài viết này, tác giả đề cập một số vấn đề cơ bản của hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà xét xử hình sự sơ thẩm, trong đó, tác giả góp phần làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà xét xử hình sự sơ thẩm, qua đó đưa ra một số điều kiện nhằm đảm bào hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà xét xử hình sự sơ thẩm.

1.     1.  Khái niệm “hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà xét xử hình sự sơ thẩm”

Trong khoa học pháp lý về tố tụng hình sự cho đến nay, chưa có khái niệm chính thống về “hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà xét xử hình sự sơ thẩm”. Theo chúng tôi, để đưa ra được khái niệm “hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm” thì chúng ta phải xem mục đích, phạm vi, vai trò của hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà xét xử hình sự sơ thẩm là gì?

-  Mục đích hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà xét xử hình sự sơ thẩm là: Khi tham gia phiên tòa, hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên trước hết phải có các mục đích giống như những mục đích chung của hoạt động tranh tụng tại phiên tòa, như: Nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án, làm cơ sở cho Tòa án ra phán quyết về vụ án... Ngoài ra, hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên còn có mục đích riêng, đó là bảo vệ quan điểm của Viện kiểm sát trong cáo trạng, thuyết phục Hội đồng xét xử ra các quyết định theo ý kiến đề nghị của mình mà không theo ý kiến đề nghị có tính chất đối lập của Luật sư bào chữa.

-  Phạm vi tranh tụng của Kiểm sát viên phiên toà xét xử hình sự sơ thẩm, theo chúng tôi, không giống như phạm vi tranh tụng phiên tòa xét xử hình sự: Phạm vi tranh tụng tại phiên tòa xét xử hình sự được xác định bởi thời điểm bắt đầu từ khi khai mạc phiên tòa kết thúc sau khi Tòa án công bố phán quyết nhưng phạm vi hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà xét xử hình sự sơ thẩm được tiến hành từ giai đoạn khai mạc phiên tòa đến khi kết thúc giai đoạn tranh luận. Vì theo chúng tôi, trong giai đoạn nghị án và tuyên án, Kiểm sát viên không thực hành quyền công tố  (trong đó có hoạt động tranh tụng) nữa mà thực hiện hoạt động kiểm sát xét xử, vì Vậy, Kiểm sát viên không thực hiện tranh tụng trong hai giai đoạn này.

-  Vai trò của Kiểm sát viên khi tham gia tranh tụng tại phiên toà xét xử hình sự sơ thẩm: Chúng tôi cho rằng, vai trò của Kiểm sát viên khi tham gia tranh tụng tại phiên tòa hình sự trước hết với tư cách là người thay mặt Nhà nước thực hành quyền công tố trong việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa án nhằm buộc tội bị cáo. Ngoài vai trò chính yếu nêu trên, phiên tòa, Kiểm sát viên còn có trách nhiệm bảo vệ công lý, cùng Hội đồng xét xử làm mọi tình tiết của vụ án, áp dụng đúng pháp luật để giải quyết vụ án một cách khách quan, công bằng, nghiêm minh, không bỏ lọt tội phạm không làm oan người vô tội.

Tóm lại, từ mục đích, phạm vi, vai trò như phân tích trên chúng ta có thể đưa ra khái niệm “Hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên phiên toà xét xử hình sự sơ thẩm” đó là: Toàn bộ hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên khi khai mạc phiên tòa cho đến khi kết thúc phần tranh luận nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan, làm rõ tất cả các tình tiết của vụ án, bảo vệ quan điểm của Viện kiếm sát trong bản cáo trạng, thuyết phục Hội đồng xét xử ra các quyết định theo ý kiến đề nghị cùa mình giúp cho Hội đồng xét xử ra một bàn án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  1. Đặc điểm hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà xét xử hình sự sơ thẩm

Hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà xét xử hình sự sơ thẩm là một hoạt động đặc biệt, thể hiện ở một số đặc điểm sau đây:

-  Khi tham gia phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm, Kiểm sát viên là một chủ thể tranh luận đặc biệt. Bởi vì, Kiểm sát viên tranh luận với tư cách nhân danh công quyền, đua ra sự cáo buộc công khai đối với bị cáo về hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm. Trong khi đó, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, nguời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi của đương sự là người tham gia tranh luận với tư cách là cá nhân công dân, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân họ hoặc người họ đại diện mà thôi.

Sư đặc biêt còn thể hiện ở chỗ bắt buộc có mặt tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm của Kiểm sát viên. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) thì tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm, sự có mặt của những người tham gia tố tụng là không bắt buộc 100%, trong nhiều trường hợp tuy họ vắng măt nhưng phiên tòa vẫn đuợc tiến hành xét xử. Nhưng sự có mặt của Kiểm sát viên là bắt buộc, nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì trong mọi trường hợp phải hoãn phiên tòa.

-  Nếu như hoạt động tranh tụng là quyền của những người tham gia tố tụng (Điều, 50, 51,52,53 và Điều 54 BLTTHS), thì với Kiểm sát viên, tranh tụng không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ. Điểm đ khoản 1 Điều 37 BLTTHS đã quy định Kiểm sát viên có quyền hạn và trách nhiệm: “Tham gia phiên toà; đọc cáo trạng, quyết định của Viện kiểm sát liên quan đến việc giải quyết vụ án; hỏi, đưa ra chứng cứ và thực hiện việc luận tội; phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án, tranh luận với những người tham gia tố tụng tại phiên toà”. Điều 218 BLTTHS quy định "... Kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến... Chủ toạ phiên toà có quyền đề nghị Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những ngưòi tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận”.

- Tại phiên toà xét xử hình sự sơ thầm, Kiểm sát viên không chỉ là chủ thể tranh tụng mà còn là chủ thể kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tranh tụng tại phiên toà. Những chủ thể tranh tụng khác như bị cáo, người bào chữa, người bị hại... là đối tuợng của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên toà. Như vậy, khi tranh tụng tại phiên toà, Kiểm sát viên là người áp dụng và tuân thủ pháp luật, đồng thời giám sát việc tuân thủ pháp luật của các chủ thể khác.

3. Nội dung hoat động tranh tụng của Kiểm sát viên tai phiên toà xét xử hình sự sơ thẩm

Chúng tôi cho rằng, nội dung hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thầm được chia thành 03 giai đoạn chính: Giai đoạn chuẩn bị tranh tụng, giai đoạn kiểm tra công khai các chứng cứ về vụ án, giai đoạn thực hành tranh tụng.

- Giai đoạn chuẩn bị tranh tụng:

Có hai ý kiến về hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn này. Ý kiến thứ nhất cho rằng, trong giai đoạn chuẩn bị tranh tụng, Kiểm sát viên phải chuẩn bị tốt một số nội dung để thực hiện tranh tụng đạt chất lượng, có nghĩa là sự chuẩn bị này được thực hiện trước khi mở phiên tòa, như: Kiểm sát viên phải nắm bắt hồ sơ chặt chẽ, sâu sắc; lựa chọn và lập danh sách những người cần triệu tập đến phiên tòa; dự thảo đề cương luận tội...

Ý kiến thứ hai (cũng là ý kiến của chúng tôi) cho rằng, đây là giai đoạn mở đầu chuẩn bị cho hoạt động tranh tụng. Nó được bắt đầu từ thời điểm khai mạc phiên tòa và kết thúc trước khi Kiểm sát viên công bố cáo trạng. Ở đây, giai đoạn này, Chủ tọa phiên tòa tiến hành các thủ tục cần thiết trưóc khi tiến hành tranh tụng. Theo quy định tại Điều 20 Quy chế về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì trong giai đoạn này, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa với trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc chấp hành thủ tục tố tụng tại phiên toà, cụ thể là: Kiểm sát viên phải kiểm sát việc chấp hành các thủ tục tố tụng tại phiên tòa của Hội đồng xét xử (về việc khai mạc phiên tòa, kiểm tra căn cước của những người tham gia tố tụng được Tòa án triệụ tập (Điều 201 BLTTHS), giải quyết việc đề nghị thay đổi những người tiến hành tố tụng (Điều 202 BLTTHS), giải thích quyền và nghĩa vụ cho những người tham gia tố tụng (Điều 203 và Điều 204 BLTTHS)... nhằm bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, bảo đảm cho việc xét xử được công minh, đúng quy định của pháp luật.

-  Giai đoạn kiểm tra công khai các chứng cứ về vụ án:

Giai đoạn này được bắt đầu từ thời điểm Kiểm sát viên công bố cáo trạng và kết thúc trước khi Kiểm sát viên trình bày bản luận tội. Theo quy định tại Điều 206 BLTTHS và Điều 21 Quy chế về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì trước khi tiến hành xét hỏi, Kiểm sát viên đọc cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn và qụyết định khác của Viện kiểm sát liên quạn đến việc giải quyết vụ án và trình bày ý kiến bổ sung làm rõ thêm nội dung cáo trạng (nếu có). Trong giai đoạn này, Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ xét hỏi những người tham gia tố tụng, xem xét vật chứng, nhận xét việc trình bày, công bố các tài liệu của vụ án, nhận xét, báo cáo của cơ quan, tổ chức (nếu có) (tại các Điều 207, 208, 209, 210, 211, 212, 213, và Điều 215 BLTTHS).

Trong giai đoạn này, với vị thế là người buộc tội, Kiểm sát viên phải chủ động, tích cực tham gia xét hỏi bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Việc xét hỏi của Kiểm sát viên ngoài mục đích làm rõ các tình tiết của vụ án còn nhằm thẩm tra lại lời khai của những người tham gia tố tụng để phục vụ cho việc luận tội và đối đáp trong giai đoạn tranh luận.

-  Giai đoạn thực hành tranh tụng:

Đây là giai đoạn thể hiện rõ nét nhất, trung nhất tinh thần tranh tụng tại phiên tòa.Giai đoạn này được bắt đẩu từ thời điểm Kiểm sát viên trình bày lời luận tội và kết thúc khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án. Theo chúng tôi, nội dung hoạt động của Kiểm sát viên trong giai đoạn này bao gồm hai phần Trình bày luận tội và tranh luận với những nguời tham gia tố tụng.

*          Phần thứ nhất, trình bày luận tội của Kiểm sát viên.

Điệu 217 BLTTHS và Điều 23 của Quy chế về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định: Sau khi kết thúc việc xét hỏi, Kiểm sát viên trình bản luân tội đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc luận tội về tội nhẹ hơn. Luận tội của Kiểm sát viên chỉ căn cứ vào những tài liệu đã được kiểm tra tại phiên toà.

Phần này bao gồm 02 giai đoạn: Viết luận tội và trinh bày luận tội. Theo chúng tôi khi viết luận tội, Kiểm sát viên phải đạt được một số yêu cầu sau đây:

+ Luận tội phải có căn cứ, chính xác, khách quan, cụ thể;

+ Luận tội phải có tính thuyết phục, giáo dục, phòng ngừa tội phạm;

+ Luận tội phải được viết với văn vẻ trong sáng, dễ hiểu; bố cục chặt chẽ, từ chuẩn xác.

+ Nội dung của luận tội phải phân tích, đánh giá chứng cứ; phân tích, đánh giá chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò của bị cáo; đề xuất quan điểm, đường lối xử lý vụ án.

Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định Kiểm sát viên phải “trình bày lời luận tội” chứ không phải “đọc” bản luận tội đã có sẵn. Khi trinh bày lời luận tội, Kiểm sát viên phải sử dụng phương pháp “nói” là chủ yếu chứ không sử dụng phương pháp “đọc” là chủ yếu. Kiêm sát viên nói phải rõ ràng, mạch lạc; cách diễn đạt sao cho lôi cuốn, thuyết phục người nghe.

*          Phần thứ hai, tranh luận của Kiểm sát viên (hạy còn gọi là đối đáp của Kiểm sát viên).

Theo quy định tại Điều 218 BLTTHS thì đối đáp là quyền, không phải là nghĩa vụ của người tham gia tranh luận nhưng đối với Kiểm sát viên thì đối đáp là quyền đồng thời là nghĩa vụ.

Theo chúng tôi, việc đối đáp tranh luận của Kiểm sát viên phải đảm bảo các yêu cầu sau: Tôn trọng sự thật khách quan; tôn trọng quyền bào chữa của bị cáo, Luật sư và những người tham gia tố tụng khác; bảo đảm văn hoá ứng xử trong đối đáp tranh lụận và đối đáp, tranh luận cần phải đảm bảo yếu tố có căn cứ, thuyết phục và hợp lý... Theo quy định tại Điều 217 và Điều 218 BLTTHS, khi những người thạm gia tố tụng có ý kiến đối với luận tội của Kiểm sát viên thì Kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến. Và Chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận. Kiểm sát viên phải căn cứ vào kết quả điều tra được thể hiện trong hồ sơ và kết quả điều tra công khai tại phiên tòa để lập luận, đối đáp trở lại.

4. Những điều kiện đảm bảo cho hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên thực hiện có hiệu quả

Để hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên đạt hiệu quả, theo chúng tôi phải có những điều kiện sau đây:

* Điều kiện chính trị - pháp lý

- Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trong thời gian gần đây, Đảng quan tâm rất nhiều đến hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử. Quan điểm của Đảng về hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên được thể hiện trong các Nghị quỵết của Đảng, nhưng đặc biệt là Nghị quyết số 08-NỌ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị. Nghị quyết số 08-NQ/TW đã chỉ ra những quan điểm chỉ đạo và một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tớị là:... Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác...

Vấn đề tranh tụng tại phiên tòa tiếp tục đuợc đề cập trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị như sau: “Nâng cao chất lưọng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”.

Căn cứ vào các Nghị quyết của Đảng, hàng năm, Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương đều có Chương trình trọng tâm công tác tư pháp để các cơ quan tư pháp thực hiện theo, trong đó đều có yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử.

- Những quy định của pháp luật về hoạt động tranh tụng của Kiếm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm

+ Những quy định của BLTTHS năm 2003: Nghiên cứu luật tố tụng hình sự Việt Nam cho thấy, tuy nguyên tắc tranh tụng chưa được nhà làm luật ghi nhận như là một nguyên tăc cơ bản trong tố tụng hình sự Việt Nam, nhưng tinh thần đó đã được thể hiện ở một số điều của BLTTHS năm 1988. Đến BLTTHS năm 2003, nhiều điều luật được sửa đổi, bổ sung đã thể hiện rõ nét hơn yếu tố tranh tụng trong tố tụng hình sự, phản ánh chủ trương cải cách tư pháp của Nhà nước ta trong thời kỳ mới. Tại Điều 10 BLTTHS quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có Viện kiểm sát nhân dân. Điều 23 BLTTHS quy định  nhiệm vụ, trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự. Điều 36 BLTTHS quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát. Điều 37 BLTTHS quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên, trong đó quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm.

Những quy định về hoạt động tranh tụng của Kiêm sát viên được quy định rõ, cụ thể hơn tại các Chương XVIII, XIX, XX và Chương XXI. Điều 189 BLTTHS quy định sự có mặt của Kiểm sát viên tại phiên toà là bắt buộc. Kiểm sát viên có quyền yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu xem xét (Điều 205); để bắt đầu hoạt động tranh tụng Kiểm sát viên phải đọc bản cáo trạng và trinh bày ý kiến bổ sung (nếu có) (Điều 206); Kiểm sát viên có quyền và nghĩa vụ xét hỏi (các Điều 207, 209, 210, 211 và Điều 215 BLTTHS); Kiểm sát viên có quyền công bố lời khai tại phiên tòa (Điều 208), có quyền xem xét vật chứng (Đièu 212), có quyền xem xét tại chỗ (Điều 213), có quyền nhận xét, báo cáo của cơ quan, tổ chức về những tình tiết của vụ án do đại diện của cơ quan, tổ chức đó trình bày (Điều 214).

Hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên được thể hiện rõ nét tại Điều 217 và Điều 218 Chương XXI “tranh luận tại phiên tòa”. Điều 217 quy định trình tự phát biểu khi tranh luận và Điều 218 quy định đối đáp trong tranh luận.

Như vậy, BLTTHS năm 2003 đã có nhiều quy định tạo cơ sở pháp lý cho Kiểm sát viên thực hiện hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử của mình. Theo những quy định đó thì BLTTHS đã bước đầu tạo ra sự khách quan trong quá trình tranh luận cũng như những tiền đề để quá trình tranh tụng tại phiên tòa, đặc biệt là hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên đạt hiệu quả.

Theo quy định tại Điều 1 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 thì “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật”. Điều 3 quy định những công tác cụ thể của Viện kiểm sát nhân dân: thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử vụ án hình sự...”. Điều 16 quy định: “Trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm nhân dân có trách nhiệm thực hành quyền tố, bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội; kiểm sát việc xét xử các vụ án hình sự, nhằm bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật, nghiêm minh, kịp thời”. Điều 17 quy định thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: 1. đọc cáo trang, quyết định của Viện kiểm sát dân liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên toà; 2. Thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên toà sơ thẩm,... tranh luận với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm.

+ Quy định của pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân:

Tại Điều 1 Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quy định: Kiểm sát viên là người được bổ nhiêm theo quy định của luật để làm nhiệm vụ thực hành quyền tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Điều 12 quy định: Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát các động tư pháp thuộc thẩm quyền Viện kiểm sát cấp mình theo phân công của Viện trưởng và chịu trách nhiệm trước Viện trưởng. Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp do pháp luật quy định.

 Theo chúng tôi, cơ sở pháp lý chủ yếu để Kiểm sát viên thực hiện tranh tụng tại toà là BLTTHS, Luât tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân. Tuy nhiên, trong ngành Kiểm sát còn có những quy định cụ thể, đó là Quy chế vê công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự và những văn bản hướng dẫn, thông báo rút kinh nghiệm chung.

* Điều kiện về cơ sở vật chất và phương tiện làm việc

Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc là điều kiện không thể thiếu để bảo đảm cho hoạt động của một cơ quan, tổ chức. Nghị quyết số 08-NQ/TW  ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị đã khẳng định: “Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất bảo đảm cho các cơ quan tư pháp có đủ điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ. Tăng cường đầu tư về cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện làm việc, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, từng bước hiện đại hóa các cơ quan tư pháp...”. Hiện nay, điều kiện làm việc của Kiểm sát viên chưa cao, chưa đồng đều. Có nhiều địa phương, nhất là các huyện miền núi, hải đảo điều kiện làm việc của Kiểm sát viên còn nhiều hạn chế, điều đó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hoạt động của Kiểm sát viên nói chung và chất lượng tranh tụng nói riêng. Chính vi vậỵ, để đảm bảo cho hoạt động tranh tụng của Kiềm sát viên đạt chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp thì Đảng, Nhà nước cũng như ngành Kiểm sát nhân dân cần phải quan tâm nhiều hơn, tạo điều kiện nhiều hơn nữa đảm bảo điều kiện làm việc cho Kiểm sát viên để Kiểm sát viên hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.

* Điều kiện nhân tố con người

Trên thực tế, công việc điều tra, truy tố, xét xử có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào năng lực đội ngũ cán bộ. Vì vậy, việc kiện toàn đội ngũ Kiểm sát viên có vị trí, vai trò rất quan trọng để đảm bảo hoạt động tranh tụng tại phiên tòa. Một trong những bài học kinh nghiệm của 50 năm hoạt động của ngành Kiểm sát nhân dân đã chỉ rõ: Xây dựng đội ngũ cán bộ Kiểm sát (chủ yếu là Kiểm sát viên) theo những tiêu chuẩn do Đảng và Nhà nước quy định là điều kiện bảo đảm tính chiến đấu và tính khoa học cùa công tác kiểm sát và là vấn đề cơ bản quyết định việc hoàn thành nhiệm vụ của Ngành.

Một cán bộ ngành Kiểm sát muốn được bổ nhiệm làm Kiểm sát viên thì phải hội tụ đủ tiêu chuẩn được quy định tại Điều 2 Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân sau: Là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức liêm khiết và trung thực, có trình độ Cử nhân Luật, đã được đào tạo về nghiệp vụ kiểm sát, có tính thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, có thời gian làm công tác thực tiễn theo quy định, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Ngành Kiểm sát muốn có một đội ngũ Kiểm sát viên đáp ứng được yêu cầu thì công tác đào tạo nguồn là vô cùng quan trong. Chúng ta có đào tạo cán bộ nguồn tốt thì có được đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên tốt. Khi lựa chọn cán bộ, phải cương quyết lựa chọn đội ngũ cán bộ có đủ tiêu chuẩn, đồng thời phải xử lý kịp thời nghiêm minh những cán bộ tha hóa, biến chất. Chế độ tuyển chọn phải công khai, công bằng, minh bạch. Trong quá trình hoạt động, ngành Kiểm sát phải thường xuyên có kế hoạch đào tạo, bồi duỡng đội ngũ Kiểm sát viên để Kiểm sát viên cỏ đủ năng lực thực sự đảm nhiệm vai trò, trách nhiệm của mình.

Nói tóm lại, hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà xét xử hình sự sơ thẩm không phải là vấn đề mới. Trên thực cũng có một số bài viết liên quan đến vấn đề này, nhưng phần lớn các tác giả chỉ đề cập những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng tại phiên toà xét xử hình sự sơ thẩm. Theo chúng tôi, để nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng của Kiểm sát tại phiên toà xét xử hình sự sơ thẩm thì trước hết chúng ta phải nghiên cứu lý luận về hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà xét xử hình sự sơ thẩm, từ đó mới có thể đưa ra những giải pháp khoa học, chính xác.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi