Quyền kháng cáo của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam- Thực trạng và các giải pháp đảm bảo

TS.Hồ Sỹ Sơn- Viện Nhà nước và Pháp luật

Tạp chí Tòa án nhân dân số 6/2010

  1. Khái niệm, bản chất ý nghĩa của quyền kháng cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tư pháp hình sự là lĩnh vực hoạt động đặc thù của Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền của mình nhằm thực hiện quyền tư pháp. Lĩnh vực hoạt động này mang tính phức tạp và nhạy cảm, bởi nó động chạm trực tiếp đến các quyền và tự do dân chủ (kể cả tính mạng) của công dân. Mọi sai lầm dù lớn hay nhỏ xảy ra trong quá trình xử lý tội phạm và người phạm tội đều dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, thậm chí, không thể khắc phục được. Bởi vậy, việc đề ra các hình thức, phương thức tối ưu để “phát hiện nhanh chóng, chính xác và xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội... bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân” (Điều 1 Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS 2003)) có ý nghĩa chính trị, pháp lý và xã hội hết sức to lớn. Một trong những phương thức như vậy là quy định và đảm bảo thực hiện có hiệu quả quyền của những người tham gia tố tụng hình sự được kháng cáo yêu cầu xét xử phúc thẩm tại Toà án cấp cao hơn. Xét xử phúc thẩm xét về bản chất là hình thức kiểm tra của Toà án cấp trên trực tiếp đối với hoạt động xét xử của Toà án cấp dưới trực tiếp nhằm phát hiện và khắc phục kịp thời những sai lầm thiếu sót có thể có trong bản án hoặc quyết định của Toà án cấp dưới trực tiếp chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị. Chính vì thế mà tất cả các Nhà nước văn minh đều thừa nhận chế độ hai cấp xét xử: Xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm đối với vụ án mà chưa có bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật. Tất nhiên, xét xử phúc thẩm chỉ đặt ra khi có kháng cáo, kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Toà án cấp dưới trực tiếp chưa có hiệu lực pháp luật. Vì vậy kháng cáo là một trong những cơ sở để mở phiên toà phúc thẩm.

Quyền kháng cáo trong tố tụng hình sự là phạm trù có thể được nhìn nhận duới nhiều góc độ khác nhau tuỳ thuộc vào vấn đề nghiên cứu. Dưới góc độ là quyền con người, quyền kháng cáo thể hiện khả năng của công dân - những nguời tham gia tố tụng hình sự (bị cáo, tức người bị buộc tội; người bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án hình sự) được bày tỏ trong đơn kháng cáo sự không đồng ý của mình đối với phán quyết của Toà án đã xét xử sơ thẩm và đ nghị Toà án cấp trên trực tiếp của Toà án đã ra phán quyết (bản án hay quyết định hình sự) đó xét xử lại theo trình tự phúc thẩm. Dưới góc độ pháp luật, quyền kháng cáo được hiểu là chế định của pháp luật tố tụng hình sự bao gồm tổng thể các quy định về các chủ thể có quyền kháng cáo; thủ tục kháng cáo; thời hạn kháng cáo; kháng cáo quá hạn; thông báo về việc kháng cáo; hậu quả của việc kháng cáo; bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo...

Sự hình thành và phát triển của quyền kháng cáo trong tố tụng hình sự gắn liền với sự hình thành và phát triển các tư tưởng, các nguyên tắc dân chủ và tiến bộ của tố tụng hình sự như công bằng; nhân đạo; suy đoán vô tội; bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, xét xử còng khai, trực tiếp và bằng lời nói v.v... Quyền kháng cáo hiểu theo đúng nghĩa của nó không tồn tại trong tố tụng hình sự của những chế độ xã hội không có nền dân chủ, không tôn trọng quyền con người. Bởi vậy, trong chế độ xã hội chiếm hữu nô lệ và chế độ xã hội phong kiến, bị cáo cũng như người bị hại không có quyền phản đối phán quyết củaToà án.

Bản chất dân chủ và tiến bộ là một trong những thuộc tính quan trọng của hệ thống tư pháp hình sự hiện đại. Sự ra đi của quyền kháng cáo trong tố tụng hình sự là nhu cầu tất yếu khách quan xuất phát từ bản chất của tố tụng hình sự là bảo vệ ngày càng có hiệu quả hơn quyền con người trong lĩnh vực hoạt động đặc thù - tố tụng hình sự. Quyền kháng cáo là biểu hiện của dân chủ và tiến bộ, bảo đảm pháp lý cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong tố tụng hình sự.

Công bằng là một trong những nguyên tắc rường cột của lĩnh vực áp dụng pháp luật hình sự. Công bằng chỉ có khi hình phạt đuợc quyết định đối với người phạm tội tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện, với các đặc điểm của nhân thân người phạm tội, với các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ, với dư luận xã hội, với ý thức pháp luật. Đồng thời chỉ có công bằng khi trong những điều kiện và hoàn cảnh phạm tội giống nhau thì người phạm tội phải bị kết án và xử phạt như nhau. Thế nhưng, những đòi hỏi đó của công bằng trong xét xử không phải lúc nào cũng đạt được do nhiều nguyên nhân như không có sự thống nhất giữa các thành viên trong Hội đồng xét xử, giữa các Toà án trong việc nhận thức và áp dụng pháp luật, đặc biệt là, khi cần áp dụng các quy định mang tính chất đánh giá hoặc mang tính cht tuỳ nghi... Việc quy định và tiến hành thủ tục phúc thẩm, xét đến cùng là đảm bảo công lý, công bằng xã hội, nhân đạo, quyền con nguời trong tố tụng hình sự.

Sự ra đời của quyền kháng cáo còn xuất phát từ quan niệm đúng đắn của các nhà lập pháp cho rằng, nhờ xét xử phúc thẩm các vụ án khi kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm Toà án cấp trên trực tiếp sẽ hạn chế được những sai sót về xét xử của các Thẩm phán Tòa sơ thẩm cấp dưới trực tiếp. Toà án cấp trên trực tiếp làm được điều đó bởi Toà án có những Thẩm phán giỏi hơn, có kinh nghiệm xét xử đúng và công bằng hơn. Đồng thời, do Toà án cấp trên ở xa các đương sự nên không chịu sự ảnh hưởng từ phía địa phương.

Rõ ràng, sự ra đời của quyền kháng cáo là một nhu cầu tất yếu khách quan của xã hội loài người phát triển đến một trình độ nhất định, gắn liền với sự hình thành và phát triển của các tư tưởng về nguyên tắc dân chủ và tiến bộ của tố tụng hình sự. Ngày nay, dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội đang trở thành xu hướng tất yếu của các quốc gia, vì vậy, quyền được kháng cáo trong tố tụng hình sự ngày càng đuợc hoàn thiện và trở thành một trong những hình thức, phương tiện bảo đảm và bảo vệ có hiệu quả quyền con ngưi trong tố tụng hình sự. Tựu trung lại, quyền kháng cáo có ý nghĩa vô cùng quan trọng thể hiện ở những điểm sau đây:

Một là, quyền kháng cáo tạo ra một trong những điều kiện làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án cấp trên trực tiếp đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án dưới trực tiếp. Thông qua việc xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp trên trực tiếp không chỉ kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp 1uật mà còn phát hiện, khắc phục kịp thời các thiếu sót, sai lầm về xét xử của Tòa án cấp dưới.

Hai là, quyền kháng cáo là một trong những phương tiện hữu hiệu để bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là của bị cáo trong tố tụng hình sự.

Ba là, thông qua việc xét xử các vụ án do công dân thực hiện quyền kháng cáo, Tòa án cấp phúc thẩm góp phần đảm bảo nhận thức và áp dụng thống nhất pháp luật, nâng cao chất lượng xét xử, tăng cường hiệu quả giáo dục pháp luật và củng cố niềm tin vào công lý, công bằng xã hội cho nhân dân, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

2.Quyền kháng cáo của người bị buộc tội bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành

Trước hết, cần nhấn mạnh rằng, quyền tự do kháng cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam không chỉ thuộc về người bị buộc tội là bị cáo, mà còn thuộc về người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ, người bào chữa trong những truờng hợp mà luật tố tụng hình sự quy định. Tuy nhiên, do khuôn khổ của bài viết có hạn, chúng tôi chỉ đề cập phân tích quyền kháng cáo của người bị buộc tội - bị cáo.

Quyền tự do kháng cáo của bị cáo theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, như đã nhấn mạnh, không chỉ thể hiện bản chất nhân đạo và dân chủ của tố tụng hình sự, mà còn là phương tiện để bị cáo có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Xuất phát từ tinh thần đó, trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, có nhiều quy định đảm bảo quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự được thực hiện một cách nghiêm chỉnh. Trước hết, đó là quy định khẳng đnh bị cáo là một trong nhng chủ thể tham gia tố tụng hình sự có quyền kháng cáo. Theo Điều 231 BLTTHS năm 2003, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm; người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. Đối với bị cáo, họ có phạm vi kháng cáo rất rộng: có thể kháng cáo về tội danh, về hình phạt, về mức bồi thuờng thiệt hại, thậm chí, kháng cáo cả phần lý do bn án sơ thẩm đã tuyên là họ không phạm tội. Kháng cáo là hành vi mang tính tố tụng, vì vậy tại khoản 1 Điều 233 BLTTHS quy định: “ Người kháng cáo phải gửi đơn đến Toà án đã xử sơ thm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm. Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam, Ban giám thị trại tạm giam phải bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền kháng cáo. Người kháng cáo cũng có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xử sơ thẩm về việc kháng cáo...”. Nhằm đảm bảo thực hiện kịp thời quyền kháng cáo của bị cáo, đồng thời tránh việc kháng cáo dây dưa kéo dài, BLTTHS quy định rõ thời hạn kháng cáo. Theo quy định của Điều 234 thì thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết. Nếu đơn kháng cáo gửi qua bưu điện thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu vào phong bì. Trong trường hợp đơn kháng cáo gửi qua Ban giám thị trại tạm giam thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày Ban giám thị trại tạm giam nhận được đơn”. Trong một số trường hợp, sau khi bị Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án, do bị ốm đau trầm trọng hoặc gặp rủi ro, tai nạn... bị cáo không thể thực hiện quyền kháng cáo của mình một cách đúng hạn mà pháp luật đã quy định. Để đảm bảo quyền kháng cáo của bị cáo trong những trường hợp đó được thực hiện đy đủ, BLTTHS sự tại Điều 235 quy định việc kháng cáo quá hạn, theo đó, đơn kháng cáo của bị cáo có thể được chấp nhận, nếu có lý do chính đáng. Trong những trường hợp như vậy, Tòa án cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán để xét lý do kháng cáo quá hạn. Đồng thời, BLTTHS còn quy định: Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn. Ngoài ra, nhằm đảm bảo quyền kháng cáo của bị cáo được thực hiện nghiêm chỉnh, BLTTHS hiện hành quy định một loạt quy phạm khác như thông báo về việc kháng cáo (Điều 236); hậu quả của việc kháng cáo (Điều 237); bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo (Điều 238); thời hạn xét xử phúc thẩm (Điều 242); thành phần của Hội đồng xét xử phúc thẩm (Điều 244); những người tham gia phiên tòa phúc thẩm (Điều 245); bổ sung, xem xét chứng cứ tại tòa án cấp phúc thẩm (Điều 246); thủ tục phiên tòa phúc thẩm (Điều 247); bản án phúc thẩm và thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm (Điẻu 248). Về cơ bản, các quy định trên đây không có gì khác biệt lắm so với các quy định tương ứng của BLTTHS năm 1988, ngoại trừ một số thuật ngữ được chỉnh sửa cho hoàn thiện hơn. Nhìn từ góc độ đảm bảo quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự, các quy định trên phản ánh bản chất dân chủ và nhân đạo của tố tụng hình sự Việt Nam thể hiện ở việc coi trọng và bảo vệ đến mức tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của “bên yếu thế” trong quan hệ pháp luật tố tụng hình sự giữa một bên là Nhà nước và bên kia là bị cáo - người bị tình nghi thực hiện tội phạm và đã bị Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án, Tuy nhiên, cũng nhìn từ góc độ đảm bảo quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự, cần hoàn thiện một số quy định của BLTTHS hiện hành mà chúng tôi đề cập xem xét ở phân tiếp theo.

3Thực trạng và các giải pháp đảm bảo quyền kháng cáo của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam

Trước khi trình bày thực trạng thực hiện quyền kháng cáo của bị cáo, xin nhấn mạnh rằng, thứ nhất, số vụ án thụ lý để xét xử phúc thẩm mà chúng tôi trình bày dưới đây là tổng hợp các vụ án bị kháng cáo bởi bị cáo, người bào chữa thuộc những trường hợp mà pháp luật quy định, nguời bị hại (hay người đại hợp pháp của họ) và bị kháng nghị bởi Viện kiểm sát có thẩm quyền; thứ hai, hiện nay, ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có các Tòa án sau đây có thẩm quyền xét xử phúc thẩm: Tòa án nhân dân cấp tỉnh; Tòa án quân sự cấp quân khu; Tòa án quân sự Trung ương; Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân tối cao (hiện nay có 3 tòa: 01 tòa ở TP. Hà Nội; 01 tòa đặt ở TP. Đà Nẵng và 01 Tòa đặt ở TP. H Chí Minh).

Thống kê của Viện kiểm sát các cấp về giải quyết án hình sự cho thấy, từ năm 2004 đến năm 2008, Tòa án cấp phúc thẩm đã xét xử 71.397 vụ gồm 113.462 bị cáo (Tòa các cấp sơ thẩm đã xét xử 159.116.884 vụ gồm 362.399.321 bị cáo) trong đó có 2.735 trường hợp hủy bản án sơ thẩm, 97 truờng hợp hủy và đình chỉ vụ án theo Điều 251 BLTTHS 2003, trong đó có 23 trường hợp đình chỉ theo căn cứ quy định tại khoản 1 và 2 Điều 107 BLT (không có sự việc phạm tội; hành vi khôn: thành tội phạm) và 74 trường hợp đình chỉ các khoản 3,4,5,6,7 Điều 107 BLTTHS (đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm sự; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết).

Từ những con số trên có thể thấy, quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam mặc dù đã, đang và sẽ được đảm bảo thực hiện ngày càng tốt hơn, nhưng vẫn chưa đảm bảo thực hiện một cách tuyệt đối.

Vậy thì đâu là nguyên nhân của thực trạng này. Chúng tôi cho rằng, có nhiều nguyên dẫn đến thực trạng đó, có thể kể đến:

Mt là, Một số Tòa án tỉnh có số Thẩm phán còn thiếu so với biên chế; số lượng Thẩm phán các Tòa Phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao cũng chưa đáp ứng với yêu cầu số lượng Thẩm phán cần phải có. Do thiếu Thẩm phán ở các Tòa phúc thẩm, nên trung bình mỗi Thẩm phán ở Tòa án nhân dân cấp tỉnh phải Chủ tọa 6,3 vụ/tháng và ở Tòa án nhân dân tối cao là 12 vụ/tháng (chưa kể các vụ tham gia trong Hội đồng xét xử theo các thủ tục khác)1. Trong điều kiện Tòa án nhân dân cấp huyện được tăng thẩm quyền xét xử đến các tội phạm rất nghiêm trọng (trừ các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh), số lượng các vụ án hình sự cần phúc thẩm do có kháng cáo, kháng nghị tăng lên, thì tình trạng thiếu Thẩm phán càng trở nên trầm trọng. Phát biểu tại Hội nghị triển khai công tác năm 2010 của ngành Toà án nhân dân ngày 25 tháng 01 năm 2010, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cũng bày tỏ lo ngại về việc thiếu nghiêm trọng đội ngũ cán bộ ngành Toà án. Theo Chủ tịch nước, có những nơi thiếu tới 1/3 biên chế2. Bên cạnh đó, do Toà án cấp phúc thm (cụ thể là Tòa Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao) chưa có đủ đội ngũ các thẩm phán để xét xử theo chuyên môn nên có những trường hợp trong Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự có cả những thẩm phán chuyên sâu về dân sự, kinh tế, hành chính...

Hai là, Một số Thẩm phán thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc có tác phong cẩu thả trong xét xử phúc thẩm, không nắm vững các yêu cầu, đặc điểm và kỹ năng xét xử phúc thẩm mà xét đến cùng là nhận thức không đúng về tính chất của phúc thẳm, vì vậy đã xét x không đảm bảo thời hạn luật định; xác định không đúng đơn kháng cáo hoặc nội dung kháng cáo; vi phạm về phạm vi xét xử phúc thẩm; khi xét xử thường lệ thuộc vào những gì đã thể hiện trong hồ sơ vụ án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử; xem nhẹ giá trị chứng cứ do bị cáo bổ sung tại phiên tòa phúc thẩm; không cân nhắc đến ý kiến của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa; không cân nhắc trong một tổng thể các chứng cứ buộc tội và gỡ tội v.v...

Ba là, do sự bất cập của một s quy định hiện hành và thiếu các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Những phân tích về thực trạng và nguyên nhân dẫn đến tình trạng nói trên là cơ sở để đề ra các giải pháp nhm đảm bảo đầy đủ quyền tố cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự. Cần lưu ý rằng, hiệu quả của việc đảm bảo quyền kháng cáo của bị cáo bị tác động bởi tổng thể các yếu tố khách quan, chủ quan và khách quan - chủ quan khác nhau. Do vậy, nói đến vấn đề đảm bảo quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự cần tiến hành đồng bộ các giải pháp khác nhau, đó là:

Thứ nhất, các giải pháp pháp lý bao gồm việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự v phúc thẩm (bao gồm về thụ lý và xét xử phúc thm vụ án) và ban hành kịp thời và đầy đủ các văn bản hướng dẫn áp dụng các quy định của BLTTHS nói chung và các quy định về thủ tục xét xử phúc thẩm nói riêng. Trong số những quy định về thủ tục phúc thẩm cần hoàn thiện Điều 235 BLTTHS hiện hành về “kháng cáo quá hạn” theo hướng quy định thêm: Tòa án đã xét xử sơ thẩm có trách nhiệm xác minh lý do kháng cáo quá hạn; hoàn thiện Điều 238 “Bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo, kháng nghị” theo hướng quy định thêm: Trước khi mở phiên tòa, bị cáo rút toàn bộ kháng cáo thì Thm phán được phân công chủ tọa phiên tòa, ra quyết định chấp nhận rút kháng cáo; nếu bị cáo rút toàn bộ kháng cáo tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm”; hoàn thiện Điều 240 “phạm vi xét xử phúc thẩm” theo hướng quy định thêm”. “Trong trường hp phát hiện có căn cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, thì Tòa án cấp phúc thẩm có thể xem xét cả các phần khác không có kháng cáo của bản án” v.v...

Thứ hai, các giải pháp v tổ chức bao gồm việc tổ chức lại các Tòa án cấp phúc thẩm phù hợp với điều kiện hoàn cảnh Việt Nam; kiện toàn biên chế của các Tòa án cấp phúc thẩm; phân công nhiệm vụ theo hướng chuyên môn hóa. Để tránh mất nhiều thời gian công sức đi lại xét xử phúc thẩm lưu động như hiện nay, cần tổ chức lại các Tòa Phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao theo hướng thành lập các Tòa Phúc thẩm khu vực thuộc Tòa án nhân dân tối cao; mỗi Tòa Phúc thẩm khu vực đó có thẩm quyền phúc thẩm theo quản hạt trong phạm vi từ 5 đến 7 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để giải quyết kịp thời các vụ án hình sự có kháng cáo. Việc đảm bảo đầy đủ biên chế cho các Tòa án cấp phúc thẩm là một trong những giải pháp mà chúng tôi cho là quan trọng đối với việc đảm bảo quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự.

Thứ ba, các giải pháp về con người bao gồm: Thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn và kỹ năng xét xử cho đội ngũ Thẩm phán phúc thẩm; sắp xếp, bố trí Thẩm phán phù hợp với năng lực và trình độ của họ. Các giải pháp cn phải được tiến hành thường xuyên, bởi lẽ trình độ, kiến thức, kỹ năng xét xử không phải là những thứ bất biến mà chúng cũng phát triển theo sự vận động và phát triển của xã hội. vậy, sẽ có những Thẩm phán nếu không được đào tạo, bồi dưỡng sẽ bị tụt hậu, không thể hoàn thành nhiệm vụ được giao và ngược lại, sẽ có những Thm phán vượt lên về mọi mặt nếu được đào tạo, bồi dưỡng và có ý thức phấn đấu vươn lên. Sự bố trí, sắp xếp họ cho phù hợp với trình độ, năng lực, vì vậy là một tất yếu.

Trong số những giải pháp đảm bảo quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự có các giải pháp mang tính vật chất - kỹ thuật bảo đảm đầy đủ cơ sở vật chất - kỹ thuật thiết yếu cho hoạt động xét xử phúc thẩm; cải tiến chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với Thẩm phán;

Theo chúng tôi, tất cả những giải pháp trên cn phải được thực hiện đồng thời và trong một tổng thể, bởi thiếu giải pháp nào trong đó thì quyền kháng cáo của bị cáo trong tố hình sự khó mà đảm bảo một cách đầy đủ.

1. Xem: Tòa án nhân dân tối cao, Báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án năm 2002 và phương hướng nhiệm vụ công tác Tòa án năm 2003, Tòa án nhân dân tối cao, Hà Nội, 2003.

2.  Xem: Báo Pháp luật, số ra ngày 26 tháng 01 năm 2010, tr. 12.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi