Tìm hiểu tội phạm rửa tiền- Một số vấn đề lí luận và thực tiễn áp dụng

TS. Lê Đăng Doanh - Trường Đại học Luật

Trần Thị Hồng Nhạn - Tòa án nhân dân tối cao

 Tội Rửa tiền về bản chất là hành vi hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có và tội phạm này luôn gắn liền với hành vi phạm tội khác, nhất là các tội phạm về kinh tế như buôn lậu, kinh doanh trái phép, trốn thuế... các tội phạm về tham nhũng, các tội phạm về ma tuý v.v... Do vậy, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội Rửa tiền có ý nghĩa quan trọng trong phòng, chống các loại tội phạm có tính chất kinh tế và một số loại tội phạm khác.

Trong khi nền kinh tế các quốc gia ngày càng phụ thuộc lẫn nhau và các loại tội phạm xuyên quốc gia xuất hiện ngày càng phức tạp, cho nên cộng đồng quốc tế đã có nhiều hiệp uớc Quốc tế về phòng, chống tội phạm. Điển hình là công ước Quốc tế về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Công uớc Palermo năm 2000) đã khuyến nghị các quốc gia tham gia Công ước cần hình sự hoá các hành vi có tính chất “rửa tiền” là hành vi phạm tội.

Ở Việt Nam, lần đầu tiên quy định trong Bộ luật Hình sự (BLHS) 1999 tội danh Hợp pháp hoá tiền, tài sán do phạm tội mà có (Điều 251 BLHS) với nội dung như sau:

“1.Người nào thông qua các nghiệp vụ tài chính, ngân hàng hoặc các giao dịch khác để hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có hoặc sử dụng tiền, tài sản đó vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động kinh tế khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến muời năm:

a)  Có tổ chức;

b)  Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c)   Phạm tội nhiều lần.

3.Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ tám năm đến mười lăm năm.

4.Nguời phạm tội còn có thể bị tịch thu tài sản, phạt tiền đến ba lần số tiền hoặc giá trị tài sản được hợp pháp hoá, cấm đảm nhiệm vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Đến ngày 19/6/2009, Điều 251 BLH: 1999 được Quốc hội Việt Nam sửa đổi thành  tội Rứa tiền quy định tại khoản 34 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS 1999 có hiệu lực từ ngày 1.1.2010 với nội dung:

1.      Nguời nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a. Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào giao dịch tài chính, ngân hàng hoặc giao dịch liên quan đến tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có nhằm che giấu nguồn gốc bất hợp của tiền, tài sản đó;

b.  Sử dụng tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động khác;

c.   Che giấu thông tin về nguồn gốc, bản chất thật sự, vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có hoặc cản trở việc xác minh các thông tin đó;

d. Thực hiện một trong các hành vi quy định tại các điểm a, b và c khoản này đối với tiền, tài sản biết rõ là có được từ việc chuyển dịch, chuyển nhượng, chuyển đổi tiền, tài sản do phạm tội mà có.

2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a.  Có tổ chức;

b.  Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c.  Phạm tội nhiều lần;

d.  Có tính chất chuyên nghiệp;

e.   Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

f.  Tiền, tài sản phạm tội có giá trị lớn;

g.  Thu lợi bất chính lớn;

h.  Gây hậu quả nghiêm trọng;

i.  Tái phạm nguy hiểm.

3.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ nãm năm đến mười lăm năm:

a.           Tiền, tài sản phạm tội có giá trị rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

b.          Thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

c.           Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

4.Nguời phạm tội còn có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt tiền đến ba lần số tiền hoặc giá trị tài sản phạm tội, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Với những nội dung mới được sứa đối, tội Rửa tiền có dấu hiệu pháp lí cơ bản sau đây:

Hành vi rửa tiền hiện nay đuợc xếp trong nhóm tội xâm phạm đến trật tự công cộng trong việc quản lý xã hội. Đối tượng tác động của tội phạm là tiền, các loại tài sản do phạm tội mà có, với bất kì loại tội gì mà người đó hoặc người khác đã thực hiện mang lại số tiền và tài sản bất hợp pháp.

Người thực hiện hành vi phạm tội có thể là bất cứ người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) và đạt độ tuổi theo luật định. Nguời đó hoặc người khác đã có hành vi phạm tội nên có được số tài sản bất hợp pháp mà người phạm tội muốn hợp pháp hoá.

Về ý thức chủ quan, người phạm tội có lỗi cố ý trực tiếp, họ nhận thức được đó là tiền, tài sản do phạm tội mà có hoặc nhận biết rõ tiền, tài sản do chuyển dịch, chuyển nhượng, chuyển đổi tiền, tài sản do phạm tội mà có và với mong muốn hợp pháp hoá số tiền, tài sản đó.

Với nội dung pháp lí cơ bản của tội Rửa tiền quy định tại khoản 34 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1999 so sánh với tội Hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có quy định tại Điều 251 BLHS năm 1999 chúng tôi nhận thấy một số điểm mới sau đây:

-  Trong cấu thành tội phạm cơ bản của tội Rửa tiền đã cụ thể hoá các loại hành vi phạm tội chi tiết và có nội dung đầy đủ hơn như các điểm a, b, c, d khoản 1 của tội Rửa tiền.

-   Cấu thành cơ bản đã quy định phạm vi rộng hơn so với quy định trước đây. Những hành vi “sử dụng tiền, tài sản mà biết rõ là có được do chuyển nhuợng, chuyển đổi tiền, tài sản do phạm tội mà có” cũng coi là phạm tội Rửa tiền. Nội dung này trước đây không có trong quy định của tội Hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có.

-  Qua lần sửa đổi này thể hiện rõ hơn hành vi rửa tiền có đối tượng là tiền, tài sản do chính người phạm tội mà có hoặc do người khác phạm tội mà có.

-   Trong cấu thành tội phạm (CTTP) tăng nặng có bổ sung một số tình tiết tăng nặng tại khoản 2 như: Có tính chất chuyên nghiệp; dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt; tiền, tài sản phạm tội có giá trị lớn; thu lợi bất chính lớn, gây hậu quả nghiêm trọng; tái phạm nguy hiểm. Đồng thời, cụ thể hoá tội phạm trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng tại khoản 3 Điều 251 BLHS 1999 với các tình tiết tăng nặng: Tiền, tài sản có giá trị rất lớn hoặc đặc biệt lớn; thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn; gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

 

Với nội dung sửa đổi vừa qua, về cơ bản tội Rửa tiền đã phù hợp với quy định chung trong Công ước Quốc tế và Nghị định 74/2005/NĐ- CP ngày 7/6/2005 của Chính phủ vẻ phòng chống rửa tiền, song về lí luận và thực tiễn vận dụng theo chúng tôi cũng còn những bất cập nhất định, mà cụ thể là các vấn đề sau đay:

-  Thứ nhất, tội Rửa tiền hiện nay coi là loại tội phạm trong nhóm tội xâm phạm trật tự công cộng của BLHS 1999, cho nên có thể coi khách thể loại của hành vi rửa tiền là xâm hại đến trật tự công cộng. Theo chúng tôi, nếu chỉ coi hành vi rửa tiền là xâm phạm đến trật tự công cộng là chưa phản ánh đúng tính chất của tội phạm. Bởi hành vi rửa tiền không chỉ xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn xâm phạm đến quan hệ xã hội quan trọng hơn, đó là trật tự quản lý kinh tế và mục đích phạm tội nhằm trốn tránh sự phát hiện và thu hồi lại tài sản và suy cho cùng cũng là nhằm mục đích kinh tế. Hơn nữa, hành vi rửa tiền còn có thể làm lũng đoạn thị truờng tiền tệ, làm mất cân đối nền tài chính quốc gia. Vì vậy, theo chúng tôi cần xếp tội Rửa tiền trong nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mới phản ánh đúng bản chất của tội phạm và do đó mới có đường lối xử lý phù hợp.

-   Thứ hai, khi xử lý người phạm tội Rửa tiền có nhất thiết bắt buộc phải chứng minh người này đã phạm những tội phạm cụ thể khác để có được tài sản bất hợp pháp đó hay không, hay chỉ cần xác định người đó phạm tội chung chung là được. Đây cũng là vấn đề vướng mắc hiện nay.

Nếu theo nội dung Điều 251 BLHS 1999 thì phải có cơ sở chứng minh người đó đã phạm những tội phạm cụ thể nhất định nên mới có tài sản, mà được coi là do “phạm tội mà có”. Những tội phạm này có thể đã hết thời hiệu truy cứu TNHS hoặc đang còn thời hiệu truy cứu TNHS. Do vậy, theo quy định hiện hành thì việc xử lí người phạm tội Rửa tiền luôn kèm theo việc phải chứng minh người đó phạm một hoặc một số tội phạm cụ thể (nếu rửa tiền, tài sản do người khác phạm tội mà có thì họ phải nhận biết rõ tiền, tài sản do đó phạm tội mà có). Đây là vấn đề rất phức tạp và nhiều khi không chứng minh được tội phạm mà người đó đã thực hiện trước đó, nhất là các tội phạm về hối lộ, các tội phạm được thực hiện ở nước ngoài... và cơ sở để người rửa tiền nhận biết được đó là tài sản do nguời khác phạm tội mà có là rất khó khăn. Mặt khác, có thể có trường hợp tội phạm đã hết hiệu truy cứu TNHS hoặc người phạm tội đã chết thì cơ quan Điều tra không thể khởi tố án, khởi tố bị can, nên không thể chứng minh nguồn gốc tài sản là do phạm tội mà có được. Và do đó, không có căn cứ vững chắc để truy cứu TNHS người có hành vi hợp pháp hoá tiền, tài sản nêu trên. Nhiều trường hợp trên thực tế, nguời thực hiện việc giao dịch... nhằm hợp pháp hoá số tiền, tài sản chỉ có thể nhận thức được tiền, tài sản bất hợp pháp hay tài sản bất minh mà thôi, chứ không thể nhận biết được đó là tài sản do phạm tội mà có. Đây cũng là một trong các lí do mà các vụ án về tội phạm Rửa tiền ít bị phát hiện và bị xử lý.

Trước đây, tội danh “Hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có” cũng như “tội Rửa tiền chưa được quy định trong BLHS 1985 và kể từ khi được quy định trong BLHS 1999 thì thực tiễn áp dụng những năm gần đây cũng rất ít. Theo thống kê của Toà án nhân dân tối năm 2004 đến 2008 có 11 vụ được xét xử với 12 bị cáo về tội danh “Hợp pháp hoá tiền sản do phạm tội mà có”(l). Như vậy, mỗi năm trung bình trong cả nước có khoảng 2 vụ xét xử. Tỷ lệ này là không đáng kể so với các tội phạm khác đã được xử lý.

Để tạo thuận lợi cho việc đấu tranh phòng chống tội phạm Rửa tiền, theo chúng tôi, trong CTTP cơ bản không nhất thiết buộc người phạm tội phải nhận thức được tài sản đó do phạm tội mà có, mà chỉ cần họ biết tài sản đó có được là bất hợp pháp mà có và các cơ quan tư pháp chỉ cần chứng minh tài sản do thu nhập bất hợp pháp chứ không buộc phải chứng minh là sản do "phạm tội mà có "... Như vậy, mới dễ ràng hơn trong việc xét xử loại tội phạm này. Giải quyết vướng mắc trên, học tập kinh nghiệm của Bộ luật Hình sự Liên Bang Nga chỉ quy định tội Hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm pháp mà có, không đòi hỏi phải là tiền, tài sản do "phạm tội mà có ". Đây là kinh nghiệm cần được nghiên cứu và có thể áp dụng trong thực tiễn ở Việt Nam.

- Thứ ba, vướng mắc khi vận dụng để phân biệt giữa tội Rửa tiền và tội Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Về bản chất tội Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Điều 250 BLHS 1999) cũng được coi là hành vi rửa tiền theo quy định của các công ước Quốc tế. Với nội dung pháp lý cơ bản trong CTTP của tội Rửa tiền cho thấy, nếu so sánh với tội Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, thì điểm giống nhau cơ bản là: Đối tượng tác động đều là tiền, tài sản do phạm tội mà có. Và cả hai tội đều có thể có hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản có được do phạm tội mà có. Vậy, khi có trường hợp cùng có hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thì định tội như thế nào. Đây là vấn đề cần có sự hướng dẫn của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thống nhất đường lối xử lý. Ví dụ: Anh Q biết rõ tiền của bố do buôn lậu mà có và đã cho anh Q số tiền 15 tỷ đồng. Q đã dùng số tiền này kinh doanh bất động sản và mở công ty để kinh doanh hàng hoá khác với mục đích vừa nhằm phát triển nguồn vốn, vừa nhằm hợp pháp hoá nguồn gốc tài sản, đề phòng nếu bố bị phát hiện việc buôn lậu thì Q vẫn bảo toàn được số tiền 1 5 tỷ đồng mà không thể bị tịch thu .

Hành vi của Q được coi là phạm tội Rửa tiền hay phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có hoặc cần phải xử lý Q về cả hai tội danh nêu trên.

Theo chúng tôi, trường hợp sử dụng tiền, tài sản khi biết rõ là tiền, tài sản do người khác phạm tội mà có nhưng không có mục đích hợp pháp hoá số tiền, tài sản đó thì không coi là phạm tội Rửa tiền mà chỉ coi là phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thuộc Điều 250 BLHS 1999. Đây là trường hợp đơn thuần người phạm tội có hành vi sử dụng tài sản, mua bán tài sản, dùng tài sản để thanh toán nợ nần, hoặc có thể sử dụng tài sản vào việc kinh doanh nhằm kiếm thêm lợi nhuận... nhưng cơ quan tiến hành tố tụng không chứng minh được mục đích nhằm hợp pháp hoá số tài sản do người khác phạm tội mà có.

Trường hợp, nếu có cơ sở để xác định người sử dụng tài sản do người khác phạm tội mà có vào việc kinh doanh nhằm hợp pháp hoá số tiền, tài sản hoặc hợp pháp hoá bằng các hình thức khác thì phải coi là phạm tội rửa tiền.

Như vậy, nội dung quan trọng nhất để phân biệt tội Rửa tiền với tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là có mục đích nhằm hợp hoá số tiền, tài sản đó hay không. Nếu có chứng cứ chứng minh người có hành vi tiêu thụ tài sản có tính chất kinh doanh... với mục đích hợp pháp hoá số tiền, tài sản đó thì được coi là hành vi phạm tội Rửa tiền.

Ví dụ nêu trên, theo chúng tôi Q phải bị xét xử về tội Rửa tiền vì hành vi khách quan của Q thoả mãn điểm b khoản 1 Điều 251 BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2009. Nhưng nếu định tội Q phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có cũng có những điểm hợp lý nhất định. Quan điểm định tội có thể khác nhau, do đó rất cần có sự hướng dẫn thống nhất của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

- Thứ tư, trong CTTP hiện nay tội Rửa tiền không quy định cụ thể hợp pháp số lượng tiền, tài sản có giá trị là bao nhiêu thì bị coi là tội phạm và cũng chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về loại tội phạm này. Vì vậy, thực tiễn cũng còn những vướng mắc nhất định và áp dụng thiếu thống nhất.

Theo chúng tôi, lấy mức 500 triệu đồng tiền mặt là mức giao dịch của cá nhân, tổ chức giao dịch trong một ngày phải báo cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định 74/2005/NĐ-CP ngày 7/6/2005 của Chính phủ về phòng, chống rửa tiền để quy định mức tiền, giá trị tài sản hợp pháp hóa bị coi là phạm tội Rửa tiền là hợp lý. Như vậy, theo chúng tôi khi hành vi hợp pháp hóa số tiền, tài sản trị giá từ 500 triệu đến dưới 5 tỷ đồng thì sẽ bị khởi tố theo khoản 1 Điều 251 BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Trên đây là nội dung cơ bản của tội Rửa tiền và một số vấn đề có tính lý luận cần được nghiên cứu để nâng cao hiệu quả đấu tranh, phòng chống tội phạm Rửa tiền nói riêng và các loại tội phạm khác có liên quan nói chung, trong điều kiện hội nhập kinh tế Quốc tế hiện nay.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi