Thấy gì từ những đổi mới của cơ quan bảo hiến ở Thái Lan?
  1. Vài nét về hệ thống pháp luật Thái Lan

Là một quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á chưa bao giờ bị các cường quốc châu Ấu chiếm làm thuộc địa hay nô dịch hoá, Thái Lan có bề dày lịch sử của chính phủ độc tài và hệ thống pháp luật chịu sự ảnh hưởng của truyền thống Civil Law và của Nhật Bản từ cuối thế k XIX.(1)

Về mặt lịch sử, cội nguồn cổ xưa của pháp luật Thái Lan trước thế kỉ XIII bị ảnh hưởng mạnh bời Bộ luật Hindu của Manu. Vài thế k sau đó, Bộ luật được sửa đổi và cùng vi những quy phạm được phát triển từ những quyết định của Vua trong thực tiễn quản lí đã làm nên hệ thống pháp luật Thái Lan. Giai đoạn từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX, cải cách pháp luật ở Thái Lan đã lên đến cực điểm và kết qu là sự ra đời của các bộ luật dân sự - thương mại, tố tụng dân sự„tố tụng hình sự và hình sự được soạn thập dựa trên các nguyên tắc hình mẫu của châu Âu trong đó Bộ luật dân sự - thương mại được xây đựng dựa trên kinh nghiệm của châu Âu lục địa và Nhật Bản và Bộ luật hình sự kế thừa kinh nghiệm của Pháp và B còn hệ thống toà án được tổ chức theo mô hình của Pháp.(2)

Hiện tại, hệ thống toà án Thái Lan được tổ chức độc lập vi chính phủ, trong đó thẩm phán xét xử độc lập, tuân th Hiến pháp và pháp luật dưới danh nghĩa Vua Thái Lan.(3) Các toà án trong hệ thống thuộc một trong bốn nhóm: Toà án hiến pháp, toà án hành chinh, toà án tư pháp và toà án quân sự.(4)

Phần dưới đây của bài viết sẽ xem xét những bước phát triển ch yếu của cơ quan bảo hin ở Thái Lan, từ đó đưa ra một vài gợi mở cho việc xây dựng cơ quan bào hiển ở Việt Nam.

  1. Cơ quan bảo hiến của Thái Lan trong quá khứ

Trong lịch sử, chức năng bảo hiến ở Thái Lan đã được trao cho những cơ quan khác nhau trong bộ máy tư pháp, lập pháp và hành pháp. Hiến pháp đầu tiên của Thái Lan, Hiến pháp năm 1932 không có điều khoản nào quy định về quyền giám sát bằng thủ tục tư pháp đối với tính hợp hiến của các văn bản luật và của các hành vi của chính phủ (judicial review). Vấn đề này đã gây tranh cãi suốt hơn một thập kỉ đầu của lịch sử hiến pháp Thái Lan. Sau đó, toà án đã được chính quyền quân sự trao cho cơ hội để phát triển khái niệm “judicial review” và coi đó như một yếu tố trọng tâm của nền quản lí hợp hiến. Toà án tối cao của Thái Lan lần đầu khẳng định quyền “judicial review” của mình vào năm 1946, khi Toà tuyên Luật tội phạm chiến tranh năm 1945 là vi hiến. Phán quyết của toà bị Nghị viện Thái Lan lên án là đã làm lung lay nền tng dân chủ và vì vậy, Nghị viện đã ngay lập tức thành lập một uỷ ban để xem xét lại vụ việc này. Kết quả là các nhà soạn thảo Hiến pháp năm 1946 đã thiết lập nên Ủy ban tư pháp về Hiến pháp (Judicial Committee for the Constitution, gọi tắt là Ủy ban tư pháp) vi quyền “judicial review” tuyệt đối. Như vậy, quyền “judicial review” đã chuyển từ tay Toà án tối cao sang Uỷ ban tư pháp.

Sau khi U ban tư pháp ra đi, nếu toà án thấy luật nào đó vi hiến, toà sẽ ngừng xét xử và gửi ý kiến lên Uỷ ban này để Uỷ ban ra phán quyết về tính hợp hiến của luật đó.(5) Tuy nhiên, Hiến pháp năm 1946 lại trao cho Nghị viện Thái Lan quyền giải thích hiến pháp, theo đó các câu, từ trong hiến pháp như đã được Nghị viện giải thích ch có hiệu lực khi giành được sự tán thành của một nửa số ngh sĩ của cả hai viện.(6) Như vậy, theo Hiến pháp năm 1946, quyền giải thích hiến pháp và quyền bảo vệ hiến pháp bị tách rời vì cơ quan bảo hiến ở Thái Lan lúc đó (Ủy ban tư pháp) không có thẩm quyền giải thích hiến pháp. Kết quả là nếu Uỷ ban tư pháp ra phán quyết chống lại Clúnh phủ, Nghị viện luôn luôn có thể phủ nhận phán quyết ca U ban tư pháp với lí do là Ủy ban đã giải thích hiến pháp không đúng cách khi đưa ra phán quyết.

Những bản hiến pháp được ban hành trong gần nửa thế kỉ tiếp theo ở Thái Lan vẫn tiếp tục trao cho Nghị viện quyền giải thích hiến pháp. Mãi tới khi Hiến pháp năm 1991 được thông qua, sự bất thường này mới được chnh sửa và quyền giải thích hiến pháp mới được trao cho Cơ quan tài phán hiến pháp.(7) Tuy nhiên việc làm này cũng không đạt được mục tiêu nhằm phi chính trị hoá quá trình “judicial review” do Cơ quan tài phán hiến pháp vẫn bị khối hành pháp kiểm soát chứ không được phép hoạt động như một cơ quan tư pháp(8) độc lập.

Mặc dù cách thức thực hiện quyền bo hiến và phạm vi quyền lực của cơ quan bảo hiến ở Thái Lan đã thay đổi từ hiến pháp này sang hiến pháp khác trong những thập ki vừa qua nhưng theo một s nhà bình luận, vấn đề cơ bản không hề thay đổi, đó là cơ quan bảo hiến Thái Lan vẫn tổ chức chính trị đúng hơn là một bộ phận của ngành tư pháp.(9) Thậm chí các cán bộ xét xử của cơ quan này không phải là những người làm việc toàn thời gian mà chi là những cán bộ kiêm nhiệm, làm việc toàn thời gian các cơ quan khác như là Chủ tịch Thượng nghị viện, chưởng lí, hoặc chánh toà ca các toà án khác.

Tuy nhiên, Hiến pháp năm 1997 cố gắng hạn chế sự can thiệp chính trị vào quá trình “judicial review” bng cách thành lập ra Toà án hiến pháp độc lập với chức năng giải thích hiến pháp. Để tạo điều kiện m rộng cơ hội cho Toà thực thi trách nhiệm giải thích hiến pháp, Hiến pháp năm 1997 đã quy định thêm một số tình huống để Toà xúc tiến th tục “judicial review”. Ví dụ: Điều 198 trao quyền cho Thanh tra Nghị viện được chuyển bất cứ vụ nào mà Thanh tra đã coi là vi phạm hiến pháp tới Toà án hiến pháp. Điều 28 thậm chí còn sáng kiến hơn chỗ lần đầu tiên, cho phép những công dân có quyền và sự tự do hiến định bị vi phạm, có thể viện dẫn điều khoản đó của hiến pháp để khiếu kiện tại toà nhm bo vệ quyền và lợi ích của mình... .Những quy định này cũng đồng nghĩa với việc tước b quyền tuỳ tiện xúc tiến thủ tục “judicial review” của toà án; đồng thời mở rộng phạm vi tiến hành “judicial review” vì thông qua khiếu nại của công dân, tính hợp hiến của bất kì văn bàn pháp luật nào cũng có thể bị đưa ra xem xét tại toà.

  1. Toà án hiến pháp đương thi của Thái Lan

Hiến pháp hiện hành của Thái Lan, tương tự như Hiến pháp năm 1997, vẫn tiếp tục trao quyền giải thích hiến pháp và quyền xem xét tính hợp hiến của các văn bản pháp luật cho Toà án hiến pháp.(10) Cùng với phán quyết của Toà án tối cao, từ năm 1997, phán quyết của Toà án hiến pháp cũng có giá tri ràng buôc.(11)

3.1. Nhân sự của Toà án hiên pháp Thái Lan

Từ khi mới ra đời theo Hiến pháp năm 1997, Toà án hiến pháp đã hoạt động độc lập với 15 thẩm phán làm việc toàn thời gian, do Hoàng đế Thái Lan bổ nhiệm trên cơ sở kiến nghị của Thượng nghị viện. Trong s15 thẩm phán, 7 thẩm phán đến từ Toà án tối cao và Toà án hành chính tối cao; 8 thẩm phán còn lại đại diện cho giới trí thức thuộc hai chuyên ngành: khoa học luật và khoa học chính trị. Lần đầu tiên trong lịch sử, các thẩm phán của Toà án hiến pháp được pháp luật coi là quan chức tư pháp chứ không phải các chính trị gia hay công chức.(l2) Hiến pháp năm 2007 đã giảm thiểu số lượng thẩm phán của Toà án hiến pháp xuống còn 9 thẩm phán và dành đa số ghế (5 ghế) cho các thẩm phán là thành viên của ngành tư pháp và số ghế ít hơn dành cho các thẩm phán đại diện cho giới trí thức. Tuy nhiên, Hiến pháp năm 2007 vẫn tiếp tục trao thẩm quyền b nhiệm thẩm phán cho Hoàng đế và quyền tư vấn bổ nhiệm thẩm phán cho Thượng nghị viện.(13)

Tương tự như Hiến pháp năm 1997, Hiến pháp năm 2007 cũng yêu cầu các thẩm phán Toà án hiến pháp phải vượt lên trên các vấn đề chính trị. Theo đó, các ứng cử viên vào chức thẩm phán Toà án hiến pháp có thể không phải là hoặc đã từng là thượng nghị sĩ, hạ nghị sĩ; hoặc có thể không phải là đảng viên của bất kì đng phái chính trị nào trong vòng ba năm trước khi tr thành thẩm phán Toà án hiến pháp; không phải là cán bộ chính trị hoặc thành viên của bất kì cơ quan quyền lực hay cơ quan qun lí nhà nước nào ở địa phương.(l4) Các thẩm phán phải thực sự coi công việc tại Toà án hiến pháp là sự nghiệp của họ trong vòng chín năm. Trong vòng 15 ngày kể từ khi được bầu, thẩm phán Tòa án hiến pháp phải từ bỏ cương vị đã và đang nắm giữ trong các cơ quan chính ph hoặc tại các doanh nghiệp, các hợp danh hay các tổ chức hoạt động vì lợi nhuận (nếu có); họ cũng không được phép hành nghề độc lập.(15) Cùng với việc phải đáp ứng được những tiêu trí trên, quá trình tuyển cử phức tạp sẽ đảm bảo các thẩm phán của Toà án hiến pháp không bị chi phi bi các lợi ích chính trị và kinh tế. Ba thm phán của Toà án hiến pháp lấy từ thẩm phán Toà án tối cao và hai thẩm phán lấy từ thẩm phán Toà án hành chính tối cao, được lựa chọn bi đại hội thẩm phán của mỗi toà bằng hình thức bỏ phiếu kín. Bốn thẩm phán còn lại được đề cử từ các ứng cử viên thuộc tầng lớp trí thức gồm các nhà khoa học trong hai lĩnh vực pháp luật và chính trị.(16)

Sự ra đời ca Toà án hiến pháp là một trong những sự kiện quan trọng nhất của quá trình ci t chính trị ở Thái Lan. Quyền giải thích hiến pháp gắn liền với các cuộc cải tổ nằm trong tay của 15 thẩm phán theo Hiến pháp năm 1997 và 9 thẩm phán theo Hiến năm 2007. Nếu họ dao động trong việc thực thi nhiệm vụ của mình hoặc nếu họ cho quan điểm chính trị chi phối việc giải thích đúng đắn hiến pháp thì Hiến pháp năm 1997 trước đây và Hiến pháp năm 2007 hiện nay khó có thể làm nền tảng cho một chế độ chính trị dựa trên những nguyên tắc pháp trị (rule of law).

3.2. Thẩm quyền của Toà án hiến pháp Thái Lan.(17)

Toà án hiến pháp Thái Lan ra đời với sứ mệnh phán xét hiệu lực của các văn bản pháp luật và các quyết định hành chính căn cứ vào các điều khoản của hiến pháp với thẩm quyền hết sức rộng. Toà án có quyền xem xét khả năng áp dụng ca một luật trên thực tế và xem liệu luật đó có được áp dụng phù hợp vi hiến pháp. Khi một luật được áp dụng để giải quyết một vụ việc đang được xem xét, toà án thụ lí vụ việc để giải quyết sẽ áp dụng các điều khoản của luật đó trừ khi toà thấy luật đó có thể trái với quy định của Hiến pháp. Khi đó, toà có nghĩa vụ chuyển vụ việc đang xem xét tới Toà án hiến pháp để Toà phán xét liệu có sự xung đột giữa luật nói trên với một quy định nào đó trong Hiến pháp.

Toà án hiến pháp có quyền ra phán quyết về tính hợp hiến của một dự luật, một luật, một hoặc một số điều khoản của một luật. Toà có quyền tuyên một luật hay một phần của luật vô hiệu và tính không thể cưỡng chế ca luật hay một phần của luật đó.

Toà cũng có quyền xem xét lại việc áp dụng bất kì luật nào đó có liên quan tới bất kì vụ việc nào mà toà án nào đó đã xử trong quá khứ. Toà án hiến pháp có thể dùng thẩm quyền của mình để giao vụ việc đó cho toà án khác với toà án trước đó đã xử hoặc để phản đối bất kì bên nào trong vụ kiện với lí do các quy định của luật có liên quan không phù hợp với hiến pháp. Trường hợp bị Toà án hiến pháp phản đối, toà án đang xử vụ việc phải đình chi việc xét xử và chuyển vụ việc đó lên Toà án hiến pháp.

Tương tự như Hiến pháp năm 1997, Hiến pháp 2007 (Điều 212) cũng cho phép cá nhân công dân Thái Lan - những người có quyền và sự tự do hiến định bị vi phạm, có thể khởi kiện để bảo vệ quyền lợí của minh. Tuy nhiên, điểm mới của Hiến pháp năm 2007 là quyền khởi kiện nói trên được trực tiếp thực hiện tại Toà án hiến pháp. Như vậy, Hiến pháp mới đã bãi bỏ việc hạn chế quyền công dân trong việc khiếu kiện lên Toà án hiến pháp và bằng cách đó đã mở rộng khả năng tiếp cận trực tiếp vi quá trình “judicial review” của công dân Thái Lan.

Phán quyết của Toà án hiến pháp được coi là chung thẩm và có giá trị ràng buộc Nghị viện, Hội đồng bộ trưởng, các toà án khác và các cơ quan nhà nước. Điều đó có nghĩa là phán quyết của Toà án hiến pháp không thể bị kháng cáo, kháng nghị lên Toà án tối cao Thái Lan và là phán quyết cuối cùng mà tất c các cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan quản lí nhà nước, các toà án và các cơ quan, tổ chức khác của nhà nước phải tuân thủ.

4. Bài học nào cho Việt Nam từ kinh nghiệm cải cách cơ quan bảo hiến của Thái Lan?

Những phân tích trên về một số cải cách trong cơ quan bảo hiến của Thái Lan trong hơn nửa thế ki qua đã phn nào cho thấy mặt tích cực và tiêu cực của các mô hình cơ quan bảo hiến khác nhau mà quốc gia này đã trải nghiệm.

Là quốc gia Đông Nam Á có nhiều điểm tương đồng với Thái Lan, Việt Nam cũng coi hiến pháp là luật cơ bản (Điều 146 Hiến pháp năm 1992), có hiệu lc pháp lí cao nhất và cũng thiết lập nên một cơ chế bảo hiến để bảo vệ vị trí tối cao đó của hiến pháp. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa có cơ quan chuyên trách bảo vệ hiến pháp vì vậy trên thực tế, hiếm khi vấn đề vi hiến, hợp hiến được đưa ra xem xét tại Việt Nam. Vvấn đề này, giới nghiên cứu khoa học pháp lí của Việt Nam đã bàn luận khá nhiều. Tuy nhiên, từ việc nghiên cứu kinh nghiệm của Thái Lan - quốc gia suốt nhiều thập k đã từng trăn tr trong việc kiếm tìm một mô hình cơ chế bảo hiến thích hợp, có thể thấy, để bảo vệ tính tối cao của hiến pháp, Việt Nam cũng cn thành lập cơ quan chuyên trách. Có lẽ, tên gọi của cơ quan này không phải là vấn đề quan trọng cần bàn bạc, có thể là “Toà án hiến pháp”, “Hội đồng hiến pháp”, hay “Cơ quan tài phán hiến pháp”... Điều quan trọng hơn là cần làm rõ vị trí pháp lí của cơ quan này trong cơ cấu tổ chức bộ máy của nhà nước: Cơ quan bảo hiến tương lai ca Việt Nam nm ở đâu, trong khối cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp hay nm ngoài cả ba khối cơ quạn này?

Có lẽ đặt cơ quan bảo hiến trong khối cơ quan lập pháp không phải là sự lựa chọn hợp lí vì làm như vậy chẳng khác nào để Quốc hội vừa làm luật lại vừa tự đánh giá, phán xét sản phẩm lập pháp của chính mình. Thái Lan cũng đã có giai đoạn gần như lựa chọn mô hình bảo hiến này khi trao chức năng xem xét tính hợp hiến cho Uỷ ban tư pháp nhưng lại dành quyền giải thích hiến pháp cho Nghị viện. Và như vậy, thực chất Nghị viện Thái Lan mới là cấp xét xử cuối cùng đối với tính hợp hiến của các văn bản pháp luật vì Nghị viện có quyền tuyên cách giải thích hiến pháp của Uỷ ban tư pháp không chuẩn xác để bãi b bản án đã tuyên của Uỷ ban tư pháp.

Đặt cơ quan bảo hiến trong khối hành pháp, theo kinh nghiệm của Thái Lan, cũng không phải là sự lựa chọn sáng suốt vì cơ quan bảo hiến sẽ bị cơ quan hành pháp kiểm soát, can thiệp và vì vậy, khó có thể độc lập trong xét xử, đặc biệt khi đối tượng được đưa ra xét xử lại là văn bản pháp luật do chính cơ quan hành pháp ban hành. Kinh nghiệm của Thái Lan và nhiều quốc gia khác trên thế giới cho thấy cơ quan bảo hiến độc lập hoặc thuộc khối cơ quan tư pháp vẫn là sự lựa chọn đúng đắn vì bản thân Toà án hiến pháp cần có sự độc lập cao trong quá trình giải thích hiến pháp, đặc biệt khi xem xét tính hợp hiến một văn bản pháp luật do chính Quốc hội hay Chính phủ ban hành. Sự độc lập này không ch là độc lập khỏi sự chi phối của các ý kiến từ các đảng phái chính trị nằm trong Nghị viện mà còn là độc lập khỏi sự can thiệp của Chính phủ. Nói cách khác, cần tránh mọi khả năng can thiệp từ phía khối hành pháp và lập pháp (vốn là những cơ quan có nhiều quyền lực trên thực tế) vào hoạt động của  tòa án hiến pháp. Ch khi đó, việc giải thích hiến pháp của Toà án hiến pháp mới thực sự tiến hành một cách khách quan.

Như vậy, độc lập với các cơ quan lập pháp và hành pháp xem ra là yêu cầu tối cần thiết để cơ quan bảo hiến có thể thực hiện chức năng bảo hiến của mình. Có lẽ, tiếp theo cần bàn bạc là liệu Việt Nam có cần quan bảo hiến độc lập với cả cơ quan tư pháp theo kinh nghiệm của các nước châu lục địa hay ch cần trao thêm chức năng bảo hiến cho Toà án nhân dân tối cao của Việt Nam giống như mô hình bảo hiến của Mỹ?

các nước thuộc châu Âu lục địa (có hệ thống pháp luật thuộc truyền thống Civil law), cơ quan bảo hiến thường được tổ chức độc lập nằm ngoài hệ thống toà án truyền thống (tòa án có thẩm quyền chung). Lí do chủ yếu cho việc lựa chọn mô hình tổ chức cơ quan bảo hiến kiểu này được cho là do sự khác biệt hoàn toàn về văn hoá chính trị và văn hoá lập hiến (political and constitutionl culture) giữa các nước châu Âu lục địa với Mỹ,(l8) nơi mà khái niệm "judicial review" lần đầu tiên đưc nhận như một thành tố của hệ thống pháp luật và nơi mà Toà án tối cao đầu tiên trên thế giới bắt đầu thực thi quyền kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản pháp luật do cơ quan lập pháp và hành pháp ban hành từ năm 1803.(l9) Hơn nữa, việc trao chức năng bảo hiến cho một cơ quan bảo hiến nm ngoài hệ thống toà án truyền thống các nước châu Âu lục địa còn được cho là phù hợp hơn với kiểu tư duy của châu Âu lục địa về tam quyền phân lập, về vai trò của án lệ, về quyền lực ca toà án và tâm lí của thẩm phán trong truyền thống Civil Law. Mặt khác, ở nhiều nước châu Âu, "judicial review" còn được thừa nhận như một trong những biện pháp dân chủ hoá, được sử dụng sau giai đoạn tồn tại của chế độ độc tài, các toà án truyền thống khi đó không có đủ sự độc lập về mặt cơ cấu t chức cũng như về tư duy để đủ sức gánh vác thêm chức năng bo hiến.(20)

Vận dụng kinh nghiệm ca các nước châu Âu lục địa, Việt Nam có thể lựa chọn mô hình cơ quan bảo hiến độc lập với cả cơ quan lập pháp, hành pháp và cơ quan tư pháp truyền thống bng cách thành lập một cơ quan bảo hiến nằm ngoài hệ thống toà án nhân dân hiện hữu. Phương án này, nếu được áp dụng, sẽ làm hình thành nên nhánh thứ tư ca quyền lực nhà nước, đứng trên cả ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp vì cơ quan bảo hiến có quyền xem xét tính hợp hiến của tất cả các văn bản pháp luật do cơ quan lập pháp, hành pháp ban hành và thậm chí cả tính hợp hiến ca các bn án do các toà án khác tuyên. Khi đó, Việt Nam cần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, đặc biệt sửa Điều 127 và Điều 134 và đưa thêm quy định làm nền tảng hiến định cho sự tồn tại và hoạt động của cơ quan bảo hiến mới.

Tuy nhiên, mô hình trên không phải là sự lựa chọn duy nhất cho Việt Nam. Một phương án khác, không nhất thiết đòi hỏi phải thiết lập cơ quan bảo hiến độc lập, nm ngoài cả ba khối lập pháp, hành pháp và tư pháp là có thể giao cho Toà án nhân dân tối cao của Việt Nam thẩm quyền xem xét tính hợp hiến của các văn bản pháp luật và các hành vi của Chính phù cũng như các phán quyết của toà án cấp dưới. Đây là mô hình tổ chức cơ quan bo hiến có khả năng phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam và hoàn toàn khả thi vì thực chất Toà án tối cao vẫn là cấp xét xử cuối cùng trong hệ thống toà án, việc xem xét tính hợp hiến của các hành vi của các cơ quan lập pháp, hành pháp hay tư pháp là điều hoàn toàn hợp lí. Hơn nữa, với mô hình bảo hiến này, Việt Nam cũng không đơn độc và cũng không phải là quốc gia tiên phong trong việc thử nghiệm lựa chọn mô hình bảo hiến này. Như trên đã đề cập, người Mỹ đã sáng tạo ra khái niệm “judicial review” từ đầu thế ki XIX và từ đó tới nay, Toà án tối cao của Mỹ đã, đang và vẫn đóng vai trò là cơ quan xem xét tính hợp hiến của các văn bản pháp luật do Quốc hội và Chính phủ Mỹ ban hành. Ch có điều, vận dụng kinh nghiệm của Mỹ trong trường hợp này đòi hỏi các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) ở Việt Nam phải có sự phân chia quyền lực rạch ròi và mỗi cơ quan trên đều phải có khả năng kiềm chế và đối trọng với hai cơ quan còn lại ở mức độ cần thiết để đảm bảo sự hoạt động hiệu qu của bộ máy nhà nước.(2l) Khi đó, vấn đề sa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 vẫn cần đặt ra để trao chức năng bảo hiến cho Toà án nhân dân tối cao, đồng thời để đảm bảo sự độc lập hiến định cho các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, cũng như nhằm tạo điều kiện cho mỗi cơ quan nói trên có thể kiểm tra và can thiệp mức độ cần thiết vào hoạt động của hai cơ quan còn lại, tránh tình trạng chuyên quyền, độc đoán ca các cơ quan này.

Trao quyền hạn và nghĩa vụ bảo vệ hiến pháp vào tay một cơ quan chuyên trách trong lĩnh vực xét xử là việc làm hết sức cần thiết, giúp loại bỏ được tình trạng nhiều cơ quan cùng chia sẻ chức năng bo hiến, từ đó dẫn đến thực tế là không cơ quan nào coi đó là nhiệm vụ của mình. Hệ quả là văn bản pháp luật vi hiến nhưng lại không được phán xét và vì vậy tính tối cao của hiến pháp thực chất ch được thừa nhận trên giấy. Thiết nghĩ đã đến lúc các nhà làm luật Việt Nam cần nghiên cứu một cách nghiêm túc để xác định khuôn khổ và thiết lập cơ s pháp lí vững chắc cho việc giao phó chức năng bảo hiến cho một cơ quan cụ thể trong bộ máy tư pháp nhằm đảm bảo Hiến pháp thực sự là luật cơ bản, luật gốc và được triệt để tôn trọng Việt Nam./.

 TS. Nguyễn Thị Ánh Vân, Giám đốc Trung tâm Luật So sánh thuộc Trường Đai học Luật Hà Nội
Tạp chí Luật học, Đại học Luật Hà Nội, 2011, Số 5(132), tr.55-61.

(1).Xem: Pearlie M.c. Koh, “Foreign Judgements in ASEAN - A Proposal”, International & Comparative Law Quaterly ( 1996) 844, at 844.

(2).Xem: Pearlie M.c. Koh, Sđd, at 852.

(3).Xem: Section 197, Constitution of the Kingdom of Thailand 2007 (gọi tắt Constitution 2007), at http://www.asianlii.org.

(4).Xem: Chapter X, Parts: II - V, Constitution 2007.

(5).Xem: Điều 87, Điều 89, The Constitution of the Kingdom of Thailand of 1946 (gọi tắt là Hiển pháp năm 1946).

(6).Xem: Điều 86, Hiến pháp năm 1946.

(7).Xem: Điều 207, The Constitution of the Kingdom of Thailand of 1991 (gọi tt: Hiến pháp năm 1991).

(8).Có ý kiến cho rng theo quan điểm phố biến các nước Châu Âu, toà án hiến pháp không phải là cơ quan tư pháp... Thực ra để xác định liệu toà án hiến pháp có phải là cơ quan tư pháp hay không cần căn cứ vào khái niệm "cơ quan tư pháp". Theo Đại từ điển tiếng Việt, thuật ngữ “tư pháp” có nghĩa là “xét xử” và như vậy, cơ quan tư pháp chính là cơ quan xét xử. Do toà án hiến pháp được lập ra để phán xét tính hợp hiến ca một văn bn pháp luật do cơ quan lập pháp và hành pháp ban hành thông qua phiên toà do thẩm phán ca toà chủ toạ, vì vậy cũng được xếp vào hàng cơ quan xét xứ, tức thuộc loại cơ quan tư pháp. Cũng cần phi thấy rng ngay c khi khái niệm "cơ quan tư pháp" ở các nước châu Âu lục địa không bao hàm “toà án hiến pháp” thì cũng chưa thể khẳng định rằng trên thế giới này, toà án hiến pháp không thể đại diện cho c thế giới. hầu hết các châu lục khác (từ Châu Mỹ, Châu Âu đến châu Á), các quốc gia như Mỹ, Canada, Úc và Nhật Bn..., toà án tối cao, cấp phúc thẩm cuối cùng trong hệ thống cơ quan tư pháp ca các nước này, đều có chức năng bảo hiến. Nói cách khác, các quốc gia này, toà án tư pháp cao nhất cũng đồng thời là toà án hiến pháp. Vì vậy, khó có thể khẳng định rằng trên thế giới hiện nay, toà án hiến pháp không th là cơ quan tư pháp.

(9).Xem: James R. Klein, “The Constitution of the Kir of Thailand, 1997: A Blueprint for Particif Democracy” at 19. The Asia Foundation Working Series, March 1998, http://www.as ¡afoundation.c

(10).Xem: Constitution of the Kingdom of Thailand 1997 (gọi tắt là Constitution 1997), Chapter VIII II; Constitution 2007, Chapter X, Part [I.

(1l).Xem: Section 262, 264 & 268 Constitution 1997, Sđd; xem thêm: Frank Munger, “Globalization, Inv in Law, and the Careers of Lawyers for Social c: taking on Rights in Thailand”, New York Law s Law Review (2008/2009), 745, at 764.

(12).Xem:Section 259 Constitution 1997, Sđd.

(13).Xem: Section 204 Constitution 2007, Sđd.

(14).Xem: Section 256 Constitution 1997, Sc Section 205 Constitution 2007, Sdd.

(15).Xem: Section 258 Constitution 1997, Sc Section 207 Constitution 2007, Sđd.

(16).Xem: Section 204 Constitution 2007, Sđd.

(17).Xem: Sections: 211 - 216 Constitution 2007,

(18).Xem: Lech Garlicki, "Constitutional Court Supreme Courts”, International Journal of Constitu Law (2007) 44 at 45.

(19).Xem:Maburyvs. Madison, 5 U.S. 137 (180:

(20).Xem: Lech Garlicki, Sđd, at 45.

(21).Xem thêm những phân tích về hệ quả của thừa nhận học thuyết tam quyền phân lập và kiềm chế đối trọng trong Hiến pháp Hoa Kỳ ở Mục 3 (tr. 68), bài cùa TS. Nguyễn Thị Ánh Vân, "Bàn v thuyết tam quyền phân lập và kiềm chế, đối trong hiến pháp Hoa Kỳ", Tạp chi luật học số 12/2010, tr. 60.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi