Tìm hiểu các quy định về Nguyên tắc Tố tụng trong Hiến pháp Hoa Kỳ

1.                  Vài nét khái quát về Hiến phá Hợp chủng quốc Hoa kỳ.

Hiến pháp Hoa Kỳ được thông qua tại Hội nghị lập hiến ngày 17/9/1787. Đó là bản hiến pháp đầu tiên của nhân loại, tồn tại từ năm 1787 đến nay. Hiến pháp 1787 của Hoa kỳ gồm lời nói đầu và 7 điều.

Điều 1 gồm 10 khoản, quy định về Nghị viện – cơ quan lập pháp; Điều 2 gồm 4 khoản, quy định về chính quyền hành pháp mà định chế trung tâm là Tổng thống; Điều 3 gồm 3 khoản, quy định về Tòa án – hệ thống cơ quan tư pháp; Điều 4 gồm 4 khoản, quy định về vị trí của các bang trong quan hệ với nhau và với nhà nước liên bang; Điều 5 quy định về thủ tục sửa đổi hiến pháp; Điều 6 ghi nhận nguyên tắc ưu tiên Hiến pháp Liên bang và điều ước quốc tế do Nhà nước liên bang ký kết so với Hiến pháp và luật của các bang; Điều 7 quy định về hiệu lực của Hiến pháp.

Mặc dù chỉ có 7 điều nhưng nếu tính cả nội dung của những tu chính án (sửa đổi, bổ sung) thì Hiến pháp Hoa kỳ có dung lương khá dài. Hiến pháp Hoa kỳ đã trải qua 27 lần tu chính án. Việc tu chính án hiến pháp không phải bao giờ cũng diễn ra suôn sẻ. Nhiều tu chính án đã góp phần làm cho Hiến pháp Hoa Kỳ trở nên hoàn thiện hơn và đảm bảo cho sự tồn tại lâu dài của nó, đặc biệt là 10 điều tu chính án đầu tiên, quy định về địa lý của công dân Mỹ, được Nghị viện thông qua năm 1791. Song cũng có những tu chính án đã gây ra những cuộc tranh cãi lâu dài, thậm chí gây ra những bất đông trong xã hội Mỹ, ví dụ như quy định cho phép công dân Mỹ được mang súng.

Là bản Hiến pháp ra đời sớm nhất và tồn tại lâu nhất trên thế giới, điều đó khẳng định sự thành công của các nhà lập hiến Hoa Kỳ. Đánh giá về Hiến pháp Hoa Kỳ, nhiều nhà nghiên cứu đã có chung một nhận đính, đó là bản Hiên pháp không chi là của riêng người Mỹ, mà là sản phẩm cùa quá trình phát triển văn minh nhân loại, trong đó kết tinh những tư tưởng triết học tiến bộ. Công lao của người Mỹ chính là đã pháp điển hoá, chế định hoá những tinh hoa của nhân loại qua nhiều thế kỷ. Đặc biệt là việc phát triển chế định về Toà án và về quyền dân chủ.

Nội dung cơ bản của Hiến pháp Hoa Kỳ quy định về tổ chức bộ máy Nhà nước. Đó là mô hình tổ chức dựa trên cơ sở học thuyết phân chia quyền lực, thực hiện nguyên tắc kiềm chế và đối trọng. Hiến pháp Hoa kỳ thể hiện rõ nét nguyên tắc phân chia quyền lực, kiềm chế đối trọng giữa 3 nhánh quyền lực: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Song đó là sự phân chia vừa có tính chất “tĩnh” lại vừa có tính chất “động”. Những quy định cứng về thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ của từng nhánh quyền lực, từng cơ quan trong bộ máy nhưng cũng có những vấn đề trong quy định không thể hiện mà quá trình vận hành của bộ máy nhà nước mới bộc lộ ra. Sự phân chia quyền lực không chỉ thể hiện theo hệ thống dọc mà còn thể hiện cả ở chiều ngang. Các tiểu bang ở Hoa Kỳ có hệ thống bộ máy chính quyền rất phức tạp và trong tổ chức, hoạt động có nhiều sự khác nhau giữa tiểu bang này với tiểu bang khác.

Hiến pháp Hoa Kỳ còn thể hiện khá rõ đường ranh giới, giới hạn sự can thiệp của công quyền, của bộ máy hành pháp đối với xã hội công dân, lĩnh vực thuộc phạm vi điều chình của luật tư. Đó là ranh giới mà quyền lực công không thể vượt qua, phía trong ranh giới đó thuộc lĩnh vực tư mà quyền lực công không thể can thiệp một cách tuỳ tiện. Khi chạm đến giới hạn này, quyền lực công phải dừng lại, nếu không sẽ vi phạm Hiến pháp.

2. Môt số nguyên tắc về hoạt động tố tụng theo quy định của Hiến pháp Hoa Kỳ.

Điều dễ nhận thấy đó là những quy định về hoạt động tố tụng của Mỹ là rất chặt chẽ. Điều này có lẽ bắt nguồn từ trình độ phát triển cao của nền dân chủ và ý thức luôn luôn đề cao tính độc lập của tư pháp. Sự giới hạn, ngăn chặn bởi các quy định của Hiến pháp đối với quyền lực công khi tác động vào xã hội công dân được thể hiện ở những quy định hết sức phức tap về măt thủ tục. Chính quyền buộc phải tuân theo những đòi hỏi nghiêm ngặt về thủ tục khi thực hiện một hoạt động liên quan đến lợi ích của công dân. Hay nói cách khác, các quy định hết sức chặt chẽ về thủ tục, được sử dụng như là biện pháp nhằm hạn chế sự lộng hành của công quyền, mục tiêu cuối cùng lả bảo vệ quyên dân chù.

Một nguyên tắc cao nhất đối với các hoạt động tố tụng ở Mỹ đó là: Không được tước đoạt tự do, tính mạng, tài sản của công dân mà không tuân theo những trình tự nhất định. Trinh tự đó chính là các quy định về thủ tục tố tụng và cơ bản được thực hiện bởi hệ thống Toà án. Nguyên tắc đó là nhằm đảm bào các quyền tự do cơ bản của công dân được ghi nhận ttong Hiến pháp. Chi có Toà án mới có quyền tước đoạt các quyền của công dân. Nghị viện không thể làm điều đó. Không thể tước đoạt những quyền tự nhiên của con người bằng một đạo luật.

Những quy định rất quan trọng và điển hình thể hiện vai trò của tố tụng ở Mỹ như: Quy định về quyền được im lặng của đương sự trong quá trình điều tra, tiến hành tố tụng. Đó chính là quyền không buộc tội chống lại tội. Nói cách khác đương sự không có nghĩa vụ phải chứng minh hành vi phạm pháp của mình mà nghĩa vụ đó thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Khi kết tội phải có mặt của Bồi thẩm đoàn. Việc xét xử có Bồi thẩm đoàn là bắt buộc đối với các vụ án hình sự, còn các loại án khác thì không bắt buộc. Việc lựa chọn Bồi thẩm đoàn hết sức ngẫu nhiên và vai trò của Bồi thẩm đoàn là rất lớn. Chế độ xét xử có Bồi thẩm đoàn cũng như vai trò của Bồi thẩm ở Mỹ hoàn toàn khác với chế độ hội thẩm ở Việt Nam cũng như chế độ giúp đỡ Thẩm phán ờ Đức. Có thể hiểu, Bồi thẩm đoàn ở Mỹ không phải là thành viên của Hội đồng xét xử mà nó là một cơ quan tiến hành tố tụng độc lập với Thẩm phán. Bồi thẩm đoàn xem xét, cân nhắc và đưa ra quyết định đối với vụ án, trên cơ sở quyết định của Bồi thẩm đoàn mà Thầm phán đưa ra phán quyết cuối cùng. Tổng thống Mỹ Thomas Jefferson từng nói: “Nếu tôi được yêu cầu lựa chọn để quyết định cho phép các công dân tham gia vào quá trình lập pháp hay tư pháp, thì tôi sẽ trả lời có lẽ tốt hơn cả là để họ tham gia vào quá trình tư pháp. Thực thi pháp luật là một công việc còn quan trọng hơn nhiều so với xây dựng pháp luật”..

Quy định về việc chống kết tội hai lần. Một người không thể bị kết tội lần thứ hai về cùng một hành vi. Nguyên tắc này đảm bảo tính có lợi cho đương sự, họ không thể chịu hậu quả do những sai sót của cơ quan tiến hành tố tụng.

Một sự mở rộng nữa là hiện nay ờ Mỹ ( áp dụng chế độ xét xừ có Bồi thầm đoàn đối với các vụ kiện dân sự, tuy nhiên là chi mới áp dụng ở Toà án tối cao Liên bang.

Vai trò của tố tụng còn thể hiện ở tính độc lập và vai tò của Thẩm phán, Toà án tối Cao Liên bang Hoa Kỳ hiện có 9 Thẩm phán được Tổng thống bổ nhiệm và Thượng Nghị viện phê chuẩn. Sau khi được Nghị viện phê chuẩn các Thẩm phán sẽ giữ chức vụ suốt đời, không có nghỉ hưu. Việc thực hiện chế độ bổ nhiệm đối với Thẩm phán là nhằm hạn chế khả năng Thẩm phán sẽ phải chịu nhiều áp lực về chính trị nếu thực hiện theo chế độ bầu cử. Thẩm phán ờ Mỹ cũng không phải chịu áp lực của việc tái bổ nhiệm. Lương và các chế độ đãi ngô khác của Thẩm phán luôn được đảm bảo ở mức cao, mức lương được tăng không hạn chế và không thể bị giảm lương. Tất cả những quy định đều nhằm đảm bảo tính độc lập của Thẩm phán và qua đó đảm bảo tính độc lập trong hoạt động của hệ thống các cơ quan tư pháp ở Hoa Kỳ.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi