Hiến pháp mới với vị trí, vai trò của Nguyên thủ quốc gia - Chủ tịch nước

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Khẩn trương nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) phù hợp với tình hình mới”1. Là một thiết chế không thể thiếu trong bộ máy nhà nước, chế định Chủ tịch nước đang dành được sự quan tâm rất lớn của toàn Đảng và toàn dân. Tính chất quan trọng của chế định Chủ tịch nước đã phần nào được thể hiện hết sức cô đọng trong Văn kiện Đại hội XI: “Nghiên cứu xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của Chủ tịch nước để thực hiện đầy đủ chức năng nguyên thủ quốc gia, thay mặt Nhà nước về đối nội, đối ngoại và thống nhất các lực lượng vũ trang; quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”2. Chúng tôi phân tích các quy định pháp luật hiện hành đồng thời đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định Chủ tịch nước trong cơ chế quyền lực nhà nước đổi mới.

1. Chế định chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001)

Hiến pháp năm 1992 dành 8 điều để quy định về Chủ tịch nước tại Chương VII. Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 đã sửa đổi, bổ sung 5 nội dung trong Điều 103 liên quan đến thẩm quyền của Chủ tịch nước (gồm các khoản 4, 6, 7, 9, 10). Theo đó:

a. Về vị trí, tính chất pháp lý thì:“Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại” (Điều 101 Hiến pháp).

b. Về trình tự thành lập: Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội (Điều 102). Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội.

c. Về thẩm quyền của Chủ tịch nước: Hiến pháp hiện hành quy định rõ các nhiệm vụ, quyền hạn của người đứng đầu nhà nước trong mối quan hệ với các nhánh quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với cơ quan lập pháp (Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội - UBTVQH) như: Công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh; đề nghị UBTVQH xem xét lại pháp lệnh trong thời hạn mười ngày kể từ ngày pháp lệnh được thông qua…

Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với cơ quan hành pháp mà đứng đầu là Chính phủ như: Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Thủ tướng Chính phủ; tham gia các phiên họp của Chính phủ khi xét thấy cần thiết...

Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với cơ quan tư pháp (Tòa án và Viện kiểm sát) như: Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Chủ tịch nước bằng quyết định của mình, thành lập Hội đồng đặc xá để tham mưu, tư vấn cho mình trong việc xem xét quyết định đặc xá.

Thông qua phần trình bày trên, có thể thấy rằng Chủ tịch nước có vai trò rất quan trọng trong việc điều phối nhịp nhàng mối quan hệ giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện có hiệu quả chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp. Tuy nhiên, trong tình hình mới này, quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đang phát sinh rất nhiều bất cập. Vì thế, việc hoàn thiện chế định Chủ tịch nước là một nhu cầu cấp thiết về mặt hiến định nhằm đảm bảo cho hoạt động của Chủ tịch nước có hiệu quả cao hơn.

2. Những vấn đề trong quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp 

- Trong mối quan hệ với cơ quan lập pháp

Chủ tịch nước chưa thực hiện có hiệu quả quyền đưa ra các sáng kiến lập pháp với tư cách là chủ thể có quyền trình các dự án luật, pháp lệnh theo quy định của pháp luật. Trong suốt các nhiệm kỳ từ năm 1992 đến nay, Chủ tịch nước chưa đưa ra bất kỳ một sáng kiến lập pháp nào trước Quốc hội. Theo quy định tại Điều 102 Hiến pháp hiện hành, Chủ tịch nước phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội. Bên cạnh đó, với tư cách là đại biểu Quốc hội, Chủ tịch nước có nghĩa vụ trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội. Đây là quy định nhằm ràng buộc trách nhiệm của Chủ tịch nước khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Tuy nhiên, trên thực tế, Chủ tịch nước chưa bao giờ báo cáo công tác trực tiếp trước Quốc hội cũng như trả lời chất vấn từ phía các đại biểu Quốc hội. Đặc biệt, Chủ tịch nước chưa bao giờ phải giải trình những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của mình mà tuy Hiến pháp chưa quy định nhưng Chủ tịch nước vẫn đang thực hiện (như quyền ân giảm án) và những thẩm quyền tuy Hiến pháp có quy định nhưng chưa có luật để cụ thể hóa về trình tự, thủ tục thực hiện (vấn đề cử, triệu hồi đại sứ)3.

Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định:“Luật, nghị quyết của Quốc hội phải được công bố chậm nhất là mười lăm ngày kể từ ngày được thông qua” (Điều 88) và “Pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH phải được công bố chậm nhất là mười lăm ngày kể từ ngày được thông qua, trừ trường hợp Chủ tịch nước trình Quốc hội xem xét lại” (Điều 93). Để làm rõ quy định này, tại Khoản 1 Điều 103 Hiến pháp hiện hành quy định “Chủ tịch nước có nhiệm vụ, quyền hạn công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh”. Xét dưới góc độ logic pháp lý thì ba điều 88, 93 và 103 đã có những điểm không nhất quán. Cụ thể, Điều 88 và 93 quy định “nghị quyết của Quốc hội và Nghị quyết của UBTVQH phải được công bố” nhưng ai công bố thì lại để ngỏ vì thẩm quyền của Chủ tịch nước trong Hiến pháp hiện hành không quy định vấn đề này. Điều này chỉ có thể được làm rõ thông qua Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) năm 2008. Theo đó, Điều 57 Luật Ban hành VBQPPL năm 2008 quy định:“Chủ tịch nước ban hành lệnh để công bố luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH trong thời hạn chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày luật, pháp lệnh, nghị quyết được thông qua”. Tuy nhiên, vấn đề cần nói ở đây là Luật Ban hành VBQPPL năm 2008 đã có dấu hiệu “vượt khung Hiến pháp”4. Dẫu biết rằng, Hiến pháp chỉ quy định những vấn đề ở tầm khái quát nhất nhưng với phạm vi điều chỉnh rộng nhất thì các văn bản pháp luật khác được ban hành phải dựa trên các nguyên tắc, nền tảng đã được quy định trong Hiến pháp chứ không phải “mở một lối đi riêng” hay “bổ sung cho Hiến pháp” vì các quy định trong văn bản pháp luật khác không thể thay thế cho quy định của Hiến pháp.

Bên cạnh đó, quy định như Khoản 1 Điều 103 Hiến pháp hiện hành rất dễ dẫn đến nhận thức sai lầm “công bố pháp lệnh là nghĩa vụ của Chủ tịch nước”. Dưới góc độ pháp lý thì thẩm quyền bao hàm các nhiệm vụ và các quyền hạn (các quyền và nghĩa vụ)5. Do đó, khi nghiên cứu Điều 103 Hiến pháp, chúng ta thấy có những quy định là quyền của Chủ tịch nước, ngược lại cũng có những quy định thuần túy là nghĩa vụ của Chủ tịch nước. Với tư duy đó thì “việc công bố Hiến pháp, luật của Quốc hội” là nghĩa vụ của Chủ tịch nước vì đơn giản Chủ tịch nước buộc phải làm điều này mà không có quyền phủ quyết. Tuy nhiên, đối với pháp lệnh thì việc công bố nó không phải là nghĩa vụ của Chủ tịch nước vì Chủ tịch nước có quyền “phủ quyết mềm”6 đối với pháp lệnh. Phải chăng, nhà làm luật đã “quên” quy định tại Khoản 7 Điều 103 Hiến pháp7. Đây là một vấn đề cần sớm được khắc phục.

Theo quy định tại Điều 88 và 93 Hiến pháp hiện hành và Điều 57 Luật Ban hành VBQPPL năm 2008 thì: “luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH phải được công bố chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày được thông qua”, tức là sau khi Quốc hội và UBTVQH biểu quyết thông qua thì Chủ tịch nước phải ký lệnh công bố chậm nhất là 15 ngày. Thực tế là tại các kỳ họp Quốc hội, sau khi dự án luật được thông qua toàn văn thì vẫn cần có nhiều thời gian hoàn thiện về mặt kỹ thuật, xem xét kỹ lưỡng trước khi có văn bản chính thức cuối cùng để Chủ tịch nước ký công bố8. Do đó, theo chúng tôi, quy định thời hạn chậm nhất là 15 ngày như trên là quá ngắn và tương đối cập rập.

- Trong mối quan hệ với cơ quan hành pháp

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì Chủ tịch nước chỉ đứng đầu Nhà nước mà không phải là thành viên của Chính phủ nên quyền lực của Chủ tịch nước trong lĩnh vực hành pháp còn khá khiêm tốn. Chủ tịch nước có quyền tham dự các phiên họp của Chính phủ nhưng không có quyền biểu quyết. Quy định như thế khác nào Chủ tịch nước chỉ họp “dự thính” mà không hề có thực quyền. Ngoài ra, để thực hiện tốt những thẩm quyền thuộc quyền tự quyết định của Chủ tịch nước thì pháp luật hiện hành cần có những quy định hợp lý nhằm bảo đảm cho Chủ tịch nước có cơ chế thực hiện các quyền này một cách có hiệu quả. Đơn cử, Chủ tịch nước có quyền quyết định tặng thưởng các danh hiệu nhà nước, danh hiệu thi đua nhưng chủ tọa các phiên họp của Chính phủ về tổng kết thi đua hàng năm đều do Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước chỉ tham dự mà không chủ tọa và không có quyền biểu quyết thì thật không hợp lý. Kinh nghiệm cho thấy, một khi Chủ tịch nước muốn có thực quyền thì Chủ tịch nước phải có nhiều quyền hành pháp và đặc biệt phải chỉ đạo, điều hành được hoạt động của Chính phủ - cơ quan hành chính cao nhất của nước ta.

Khác với Luật Ban hành VBQPPL năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)9, Luật Ban hành VBQPPL năm 2008 không quy định các cơ quan khi ban hành VBQPPL thuộc thẩm quyền của mình phải căn cứ vào những văn bản quy phạm nào, tuy nhiên, với quy định tại Điều 2 Luật Ban hành VBQPPL năm 2008 về “Hệ thống VBQPPL” thì tính thống nhất và thứ bậc hiệu lực của các văn bản đã được thể hiện rất rõ. Không phải ngẫu nhiên mà tên Điều 2 của Luật Ban hành VBQPPL 2008 không phải là “các VBQPPL” mà là “Hệ thống VBQPPL”10. Điều này không đơn thuần chỉ là việc kể tên các VBQPPL do các cơ quan nhà nước ban hành, mà còn thể hiện mối quan hệ về hiệu lực pháp lý của các văn bản đó trong một chỉnh thể thống nhất. Theo đó, công thức chung được xác định là “VBQPPL của UBTVQH không được trái với VBQPPL do Quốc hội ban hành” và với tư duy đó, thì “VBQPPL của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ không được trái với VBQPPL do Quốc hội, UBTVQH, Chủ tịch nước ban hành”. Trên thực tế, không hiếm trường hợp Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ ban hành ra các VBQPPL có sự mâu thuẫn với các VBQPPL của Quốc hội, UBTVQH, Chủ tịch nước. Vấn đề có tính thực tiễn quan trọng đặt ra là xử lý như thế nào đối với những VBQPPL có khiếm khuyết này của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, các VBQPPL của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nếu trái với các VBQPPL của Quốc hội thì sẽ bị Quốc hội bãi bỏ (Khoản 9 Điều 84 Hiến pháp hiện hành); nếu trái với VBQPPL của UBTVQH thì sẽ bị UBTVQH hủy bỏ (Khoản 5 Điều 91 Hiến pháp hiện hành). Tuy nhiên, nếu VBQPPL của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ trái với VBQPPL của Chủ tịch nước thì Chủ tịch nước lại không có quyền đình chỉ hay bãi bỏ các văn bản này. Chủ tịch nước không có quyền này, vậy ai có quyền này? Vấn đề này cũng chưa được đề cập đến trong pháp luật hiện hành.

- Trong mối quan hệ với cơ quan tư pháp

Trong mối quan hệ với cơ quan tư pháp, Chủ tịch nước có quyền rất quan trọng, đó là quyết định đặc xá. Đặc xá là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước do Chủ tịch nước quyết định tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù thỏa mãn những điều kiện nhất định nhân có một sự kiện trọng đại, nhân ngày lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt. Đây là chế định được ghi nhận trong Hiến pháp, thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước và truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam đối với người phạm tội, nhằm khuyến khích họ hối cải, rèn luyện để trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên, điều bất hợp lý nhất là Chủ tịch nước tự ban hành VBQPPL về điều kiện, đối tượng áp dụng... để rồi tự Chủ tịch nước lại ban hành quyết định đặc xá cho những đối tượng đáp ứng các điều kiện này11. Điều này hoàn toàn không phù hợp với nguyên tắc phân công thực hiện quyền lực nhà nước. Bất cập này, hiện nay, đã được loại bỏ với sự ra đời và có hiệu lực của Luật Đặc xá năm 2007.

Liên quan đến quyền tư pháp còn phải kể đến quyết định ân giảm án của Chủ tịch nước. Theo Từ điển Hán Việt và Từ điển Luật học, ân giảm là việc người bị kết án tử hình gửi đơn lên Chủ tịch nước để được Chủ tịch nước cho giảm hình phạt từ tử hình xuống chung thân12. Cơ sở để Chủ tịch nước xét ân xá là phải có đơn xin ân giảm từ án tử hình xuống chung thân của phạm nhân gửi đến Chủ tịch nước trong thời hạn luật định13. Nội dung trong đơn phải nêu rõ việc xin ân giảm tử hình kèm theo quyết định không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Chánh án Toà án nhân dân tối cao; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Với quy định này, một lần nữa các cơ quan tư pháp đã khẳng định việc kết án hoàn toàn đúng người, đúng tội. Việc Chủ tịch nước xét đơn ân giảm của phạm nhân không phải là xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp là đúng hay sai, mà chỉ xem xét dưới góc độ nhân đạo để quyết định đồng ý hay không đồng ý giảm từ án tử hình xuống chung thân cho phạm nhân. Hiện nay, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 chỉ quy định thời hạn phạm nhân gửi đơn cho Chủ tịch nước là 07 ngày, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (Khoản 1 Điều 258) mà không quy định thời hạn Chủ tịch nước phải trả lời đồng ý ân giảm hay bác đơn. Trên thực tế, trong cùng một vụ án, hai phạm nhân đều bị tuyên án tử hình và cả hai cùng có đơn xin ân giảm gửi Chủ tịch nước nhưng có phạm nhân thì được ân giảm, có phạm nhân lại bị bác đơn mà không có phản hồi nguyên nhân từ Chủ tịch nước14.


3. Hoàn thiện chế định Chủ tịch nước đáp ứng nhu cầu đổi mới bộ máy nhà nước

Hoàn thiện chế định Chủ tịch nước là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp đổi mới toàn diện bộ máy nhà nước mà Đảng và Nhà nước ta khởi xướng. Trên cơ sở những phân tích nêu trên, chúng tôi có một số ý kiến:

Trước hết, cần sửa đổi, bổ sung ngay các quy định về nhiệm vụ quyền hạn của Chủ tịch nước được quy định trong Hiến pháp. Cụ thể, Khoản 1 Điều 103 phải sửa lại theo hướng:“Chủ tịch nước công bố Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; Pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH”.

Nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, cơ chế kiểm soát quyền lực cần phải được thực hiện một cách rõ ràng, rành mạch hơn nên chúng tôi cho rằng, cần quy định cho Chủ tịch nước quyền yêu cầu Quốc hội xem xét lại một dự luật mà Quốc hội đã thông qua chứ không chỉ dừng ở quyền yêu cầu UBTVQH xem xét lại pháp lệnh như Hiến pháp hiện hành. Trong thời gian qua, nhiều đạo luật do Quốc hội ban hành có dấu hiệu “vượt khung Hiến pháp”15 hoặc nhiều đạo luật được ban hành nhưng hiệu lực thi hành thấp và khó đi vào cuộc sống16, đó là chưa kể đến những đạo luật được xây dựng vội vàng, không có chất lượng nên không được Quốc hội thông qua17. Ngay như Quốc hội Mỹ, quy trình ban hành một đạo luật rất chặt chẽ (một dự luật muốn được thông qua phải được đa số tán thành của Hạ viện trước, rồi sau đó là đa số Thượng viện tán thành (hoặc ngược lại), tiếp theo còn phải được Tổng thống kiểm tra, xem xét lại xem có cần phủ quyết hay không, nếu không phủ quyết dự luật mới được Tổng thống ban bố để thi hành). Vậy mà, trong khoảng 190 năm qua, Tòa án tối cao của Mỹ đã ra phán quyết tuyên bố 122 đạo luật của Quốc hội Mỹ (trong tổng số hơn 35.000 đạo luật được Quốc hội này ban hành trong thời gian nói trên) có toàn bộ hoặc một phần nội dung quy định vi phạm Hiến pháp Mỹ. Cũng trong thời gian nói trên có gần 950 đạo luật của Quốc hội các bang bị Tòa án tối cao Mỹ tuyên bố vi phạm Hiến pháp của Liên bang18. Thậm chí như ở Úc - quốc gia theo chế độ quân chủ lập hiến - “nguyên thủ quốc gia trị vì chứ không cai trị” thì quyền đồng thuận của Nữ hoàng đối với các dự án luật vẫn giữ vai trò tiên quyết19. Thiết nghĩ, quy định Chủ tịch nước ở nước ta có quyền yêu cầu Quốc hội xem xét lại một dự luật mà Quốc hội đã thông qua là vô cùng cần thiết, góp phần quan trọng cho sự ra đời của những đạo luật hợp pháp và hợp lý.

Liên quan đến việc công bố luật, pháp lệnh của Chủ tịch nước, theo chúng tôi, nên quy định thời hạn này là 30 - 45 ngày kể từ ngày được thông qua. Thời hạn như vậy là hợp lý nhằm mục đích đảm bảo cho việc in ấn, rà soát văn bản cẩn thận sau khi được thông qua.  

Thứ hai, ở góc độ Hiến định, kế thừa Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp sửa đổi cần tạo cơ sở pháp lý cho Chủ tịch nước nắm nhiều quyền hành pháp. Cụ thể là: Chủ tịch nước có quyền “chủ tọa các phiên họp của Chính phủ khi thấy cần thiết” chứ không dừng ở việc chỉ tham dự các phiên họp của Chính phủ như Hiến pháp hiện hành quy định.

Với điều kiện Đảng lãnh đạo như ở nước ta hiện nay, nên chăng, cần có sự kết hợp giữa chức vụ Chủ tịch nước và chức vụ Tổng bí thư? Việc kết hợp này đã được thực hiện ở Trung Quốc. Điều này khá phù hợp với điều kiện Đảng cầm quyền như ở nước ta hiện nay. Tất nhiên, Tổng bí thư sẽ do Đảng giới thiệu ra ứng cử chức vụ Chủ tịch nước và đưa ra Quốc hội bầu. Có như vậy thì Chủ tịch nước vừa là trung tâm đoàn kết của dân tộc, vừa là trung tâm chính trị, có những quyền mang tính nghi thức nhưng bên cạnh đó cũng rất thực quyền và quyền rất lớn.

Trong các quyền của Chủ tịch nước thì quyền ban hành VBQPPL là rất quan trọng. Theo pháp luật hiện hành, Chủ tịch nước được quyền ban hành lệnh, quyết định với tư cách là VBQPPL. Có ý kiến cho rằng, nên bỏ lệnh của Chủ tịch nước ra khỏi hệ thống VBQPPL mà chỉ nên xác định lệnh là văn bản cá biệt, vì trên thực tế, lệnh chỉ được Chủ tịch nước ban hành để công bố luật, pháp lệnh20. Tuy nhiên theo chúng tôi, cần tiếp tục quy định lệnh của Chủ tịch nước là VBQPPL vì lệnh luôn gắn liền với luật, pháp lệnh mà nó công bố. Luật, pháp lệnh là VBQPPL nên “văn bản chở luật, pháp lệnh vào cuộc sống” tất nhiên cũng phải là VBQPPL. Ngoài ra, do tính trang trọng của lệnh được ban hành bởi người đứng đầu Nhà nước nên nhất thiết phải xem lệnh là VBQPPL21. Bên cạnh đó, để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống VBQPPL thì cần quy định cho Chủ tịch nước quyền đình chỉ và bãi bỏ các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nếu các văn bản này trái với lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.

Thứ ba, cần quy định rõ quyền ân giảm của Chủ tịch nước trong Hiến pháp, đồng thời cụ thể hóa quyền này trong một văn bản luật. Trong luật này cần quy định về nguyên tắc, điều kiện ân giảm, trình tự thực hiện và thời hạn tối đa kể từ ngày nhận được đơn xin ân giảm của phạm nhân mà Chủ tịch nước phải trả lời… Quy định này góp phần hạn chế tình trạng Chủ tịch nước chủ quan khi xét đơn ân giảm, đồng thời cũng hoàn thiện quy chế pháp lý của người đứng đầu Nhà nước.

Thứ tư, Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước nên chỉ quy định các vấn đề lớn, có tính nền tảng chứ không đi vào quy định cụ thể, các vấn đề cơ bản thì để luật quy định22, do đó, theo chúng tôi, cần sớm ban hành Luật về hoạt động của Chủ tịch nước. Hiện nay, việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước chỉ mới dừng lại ở tầm Hiến pháp hoặc có quy định ở luật thì cũng còn quá chung chung và tản mạn. Điều đáng ngạc nhiên là trong khi tổ chức và hoạt động các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước được điều chỉnh bằng một, thậm chí nhiều đạo luật do Quốc hội ban hành thì hoạt động của Chủ tịch nước lại không được điều chỉnh ở tầm luật23. Đây là một điều hoàn toàn không hợp lý cần sớm khắc phục. Luật về hoạt động của Chủ tịch nước ra đời sẽ tạo ra khung pháp lý quan trọng để Chủ tịch nước thực hiện tốt quyền hạn, nhiệm vụ của mình.

Tóm lại, những kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định của Hiến pháp hiện hành và các văn bản pháp luật liên quan không những là căn cứ để phục vụ tốt hơn hoạt động của Chủ tịch nước mà còn là cơ sở để nâng cao hiệu quả hoạt động của Chủ tịch nước trong bộ máy nhà nước nói riêng và trong cả hệ thống chính trị nói chung.

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị Quốc gia. Hà Nội, 2011, tr. 247.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, tlđd, tr. 249.

(3) Lê Thị Hải Châu, Chế định Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 1946 và sự phát triển qua các Hiến pháp Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ luật học năm 2006, tr.64.

(4) Trước đây, Khoản 1, Điều 75 Luật Ban hành VBQPPL năm 1996 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002) cũng quy định tương tự “Luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH có hiệu lực kể từ ngày Chủ tịch nước ký lệnh công bố, trừ trường hợp văn bản đó quy định ngày có hiệu lực khác”.

(5) Nguyễn Cửu Việt, Cải cách hành chính: về khái niệm thẩm quyền, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 8, năm 2005.

(6) Đây là cách dùng từ của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt trong bài “Khái niệm VBQPPL (tiếp theo) và hệ thống VBQPPL” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 51, năm 2005.

(7) Khoản 7, Điều 103 Hiến pháp năm 1992 (sđ, bs năm 2001) quy định:“Chủ tịch nước đề nghị UBTVQH xem xét lại pháp lệnh trong thời hạn mười ngày kể từ ngày pháp lệnh được thông qua; nếu pháp lệnh đó vẫn được UBTVQH biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí, thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất”.

(8) Lê Thị Hải Châu, tlđd, tr.74.

(9) Điều 2 Luật Ban hành VBQPPL năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định:

      - VBQPPL được ban hành phải phù hợp với Hiến pháp, bảo đảm tính thống nhất, thứ bậc hiệu lực pháp lý của văn bản trong hệ thống pháp luật.

      - VBQPPL do các cơ quan nhà nước cấp dưới ban hành phải phù hợp với VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên

(10) Bùi Thị Đào, Những vấn đề mang tính nguyên tắc trong luật ban hành VBQPPL, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 8, năm 2011.

(11) Lê Thị Hải Châu, tlđd, tr.78.

(12) Nguyễn Lân, Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb. Tổng Hợp TP.Hồ Chí Minh, năm 2010, tr.52; Từ điển Luật học, Nxb. Bách Khoa, năm 1999, tr.48.

(13) Xem thêm Chương XXVI về Thi hành hình phạt tử hình trong Bộ luật Tố tụng hình sự của nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003. Chủ tịch nước thực hiện quyền này trên cơ sở Điều 258 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

(14) Trong vụ án Tân Trường Sanh, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân TP.Hồ Chí Minh đã tuyên án tử hình đối với 2 bị cáo là Phùng Long Thất và Trần Đàm. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thì cả 2 bị cáo đều có đơn xin ân giảm gửi Chủ tịch nước. Ngày 19/3/2006, sau hơn 1 năm kể từ ngày nhận được đơn của hai phạm nhân, Chủ tịch nước chấp nhận đơn xin ân giảm của Trần Đàm và bác đơn của Phùng Long Thất. Ngày 21/3/2006, án tử hình được thi hành đối với phạm nhân Phùng Long Thất, riêng Trần Đàm được giảm từ tử hình xuống chung thân.

(15) Điều 85 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định về “Điều khoản chuyển tiếp” trong khi đó Hiến pháp hiện hành không quy định về vấn đề này. Tương tự, Điều 57 Luật Ban hành VBQPPL năm 2008 quy định:“Chủ tịch nước ban hành lệnh để công nghị quyết của Quốc hội và nghị quyết của UBTVQH”, Hiến pháp hiện hành cũng không quy định về vấn đề này.

(16) Phạm Duy Nghĩa,Luật Phá sản…phá sản, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, ngày 24/06/2006. Tương tự, Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng tồn tại quá nhiều bất cập.

(17) Ngày 29/3/2011, Quốc hội khóa XII đã quyết định không thông qua dự thảo Luật Thủ đô. Dự thảo Luật Thủ đô chỉ được 35,9% tổng số đại biểu tán thành, 44,83% số đại biểu không tán thành và 10,9% đại biểu không biểu quyết. Trước đó, tại các buổi thảo luận, đại biểu đã “bác” nhiều nội dung của dự thảo luật này.

(18) Dẫn theo Trương Đắc Linh, Bàn về tài phán Hiến pháp và thẩm quyền của cơ quan tài phán Hiến pháp ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học Pháp lý số 6, năm 2007.

(19) Xem thêm điều 58, 59, 60 Hiến pháp Liên bang Úc.

(20) Nguyễn Thế Quyền, Hoàn thiện các quy định về xây dựng pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 142, năm 2009.

(21) Nguyễn Cửu Việt, Trở lại khái niệm VBQPPL, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 4, năm 2007.

(22) Phát biểu của TS. Uông Chu Lưu, Phó chủ tịch Quốc hội và của PGS.TS Phan Trung Lý, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội trong bài Nên sửa đổi quy định về bộ máy nhà nước trong Hiến pháp, đăng trên Vnexpress.net ngày 4/8/2011.

(23) Về tổ chức và hoạt động của Quốc hội được điều chỉnh bằng Luật tổ chức Quốc hội năm 2001, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003; Tổ chức và hoạt động của Chính phủ được điều chỉnh bằng Luật tổ chức Chính phủ năm 2001; Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân thì được điều chỉnh bằng Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002; Tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND thì được điều chỉnh bằng Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003. Thậm chí, Kiểm toán nhà nước là cơ quan tuy không được quy định trong Hiến pháp nhưng vẫn có Luật Kiểm toán nhà nước năm 2005 điều chỉnh

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi