Tiếp cận quyền để bổ sung, sửa đổi Hiến pháp năm 1992 thành bản Hiến pháp có giá trị bền vững

1. Để Hiến pháp mới là của dân, do dân và vì dân thì quyền lập hiến phải thuộc về toàn dân

Với tính cách là bộ luật nền tảng (hay bộ luật gốc) của đất nước, tính chất đặc biệt và duy nhất “ngoại hạng” của Hiến pháp là ở chỗ: thứ nhất, nó quy định những điều luật nền tảng cho toàn bộ nền luật pháp của chế độ xã hội, những điều luật này vừa được thực hiện một cách trực tiếp, vừa có thể được cụ thể hóa thành bộ luật hoặc luật để thực hiện tùy theo sự đòi hỏi của thực tế xã hội. Cần nhấn mạnh rằng, nếu Hiến pháp không được thực hiện trực tiếp trong xã hội và không được liên thông với các bộ luật và luật của đất nước thì nền tảng luật pháp của đất nước bị hạn chế căn bản. Và thông qua đó, thứ hai, Hiến pháp quy định cấu trúc (khuôn mẫu) cho nền luật pháp của một chế độ xã hội. Do đó, quyền lập hiến phải trực tiếp thuộc về toàn thể nhân dân. Vì quyền lập hiến là một quyền thể hiện đầy đủ nhất tư tưởng “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”.

Có thể nói, các bản Hiến pháp năm 1959, 1980 và 1992 đã không kế thừa được tinh thần và lời văn của các quy định rất tiến bộ và dân chủ về quyền trưng cầu dân ý trong bản Hiến pháp năm 1946. Điều 83 của Hiến pháp năm 1992 quy định: “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp”. Như vậy, quyền lập hiến từ dân đã được chuyển sang Quốc hội. Đây là một sự chuyển đổi quyền lực rất lớn, rất căn bản. Quyền lập hiến chỉ thuộc về các đại biểu Quốc hội, tức chỉ thuộc về một bộ phận nhất định trong nhân dân, chứ không phải thuộc toàn thể nhân dân.

 Trong thể chế nhà nước pháp quyền, quyền lực nhà nước thuộc về ai thì chủ thể đó có quyền lập hiến. Do vậy, phải chuyển quyền lập hiến về cho nhân dân, chứ không phải cho Quốc hội. Tức là phải thể chế hóa về mặt pháp lý quyền lập hiến của toàn thể nhân dân theo Điều 2 Hiến pháp năm 1992 đã quy định: Nhà nước Việt Nam “là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”.

Xét về bản chất, Nhà nước ta là “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”. Nếu nhân dân chỉ được sử dụng quyền lực nhà nước thông qua bộ máy nhà nước thì chỉ có dân chủ đại diện, còn hình thức dân chủ trực tiếp bị hạn chế. Vì vậy, ngoài hình thức sử dụng quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước thì nhân dân cũng có thể trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước thông qua trưng cầu dân ý (hay quyền phúc quyết) đối với những vấn đề lớn, hệ trọng của đất nước, trước tiên là quyền lập hiến. Nhận thức được vấn đề này, từ Đại hội lần thứ IX (2001), Đảng ta đã xác định: “... mở rộng dân chủ trực tiếp ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lý xã hội, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng. Khắc phục mọi biểu hiện dân chủ hình thức. Xây dựng Luật Trưng cầu dân ý”1.

Hiện nay, nguyên tắc “tất cả quyền lực thuộc về nhân dân” phải được coi là cách tiếp cận trọng tâm và xuyên suốt trong việc xác định và cách thức thể hiện nội dung của bản Hiến pháp mới, nhằm tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, quyền tự do dân chủ, gắn quyền con người với lợi ích dân tộc và quyền làm chủ của nhân dân, kèm theo trách nhiệm giải trình và trách nhiệm pháp lý một cách minh bạch phù hợp với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

2. Cách tiếp cận quyền để xác định rõ nội dung, trách nhiệm thực hiện Hiến pháp

 Để xây dựng Hiến pháp mới theo nguyên tắc bảo đảm quyền lập hiến của toàn dân đạt hiệu quả cao thì trước tiên phải căn cứ vào nhu cầu của người dân, đồng thời phải gắn với yêu cầu khách quan của đất nước ở một tầm nhìn rất cao, rất xa về sự tồn tại, phát triển bền vững của chế độ xã hội, thậm chí còn cao và rộng hơn cả Cương lĩnh, chiến lược phát triển đất nước. Tầm nhìn này không ở đâu xa mà ở ngay “quyền là chủ của nhân dân”, để từ đó nhân dân mới có thể “làm chủ”.

Cho đến nay, căn cứ xuất phát đồng thời là mục tiêu của Hiến pháp nói riêng và của tất cả các công tác khác liên quan đến “quyền là chủ của nhân dân” là cách tiếp cận dựa trên nhu cầu là chính. Đặc trưng của phương pháp tiếp cận này là Nhà nước dựa trên nhu cầu của nhân dân và Nhà nước có trách nhiệm đáp ứng mọi nhu cầu đó  -  bằng cách “trao” quyền cho người dân để người dân “được phép” thực hiện các quyền đó. Trong cách tiếp cận này, Nhà nước là chủ thể “trao” quyền, còn người dân là đối tượng được thụ hưởng một cách thụ động quyền đó. Đây thực chất là một biểu hiện của “cơ chế xin - cho” trong việc bảo đảm và thực hiện quyền lực của nhân dân, dẫn đến nhiều người thường trông chờ hoặc ỷ lại vào Đảng và Nhà nước trong việc “làm chủ”, chứ không tự mình chủ động thực hiện quyền của mình. Trong tình hình ấy đã xuất hiện sự lạm quyền và sự thờ ơ với trách nhiệm của Nhà nước, sự vô cảm với quyền của người dân, cả từ phía người dân lẫn không ít bộ phận Nhà nước (cơ quan và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức).

Về cơ bản, những quy định về nhân quyền trong các bản Hiến pháp Việt Nam là phù hợp với điều kiện và bối cảnh của từng thời kỳ lịch sử. Nhưng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN với sự tác động của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, hội nhập quốc tế như hiện nay, những quy định đó là không đầy đủ, thể hiện qua một số bất cập sau:

Thứ nhất, quyền con người đồng nghĩa với quyền công dân như quy định ở Điều 50 của Hiến pháp 1992 là thiếu chính xác, dễ gây sự hiểu lầm rằng ở Việt Nam, chỉ công dân Việt Nam mới có quyền con người, còn những người mất quyền công dân, người ngoại quốc, kể cả người có quốc tịch Việt Nam nhưng chưa đủ tuổi thành công dân, thì không được bảo đảm quyền con người. 

Thứ hai, Hiến pháp chưa quy định rõ sở hữu tư nhân.

Thứ ba, Hiến pháp chưa quy định rõ chủ thể trách nhiệm trong việc tôn trọng, bảo vệ, thực hiện nhân quyền, nhất là trách nhiệm giải trình và ràng buộc pháp lý của các tổ chức xã hội, chủ yếu là Nhà nước, trong việc bảo đảm, thực hiện quyền con người. 

Cuối cùng, công dân không có quyền bãi miễn đại biểu của mình theo nguyên tắc mà Hồ Chủ tịch đã khẳng định: Dân là chủ, Chính phủ là “công bộc” của dân2.

Chính vì thế, đòi hỏi phải chuyển sang phương pháp tiếp cận quyền là chủ của nhân dân nhằm thể chế hóa (xây dựng, thông qua, ban hành và thực hiện) Hiến pháp (và luật pháp nói chung). Cách tiếp cận quyền là chủ của nhân dân là nhằm bảo đảm cho tất cả mọi người dân, không loại trừ ai, kể cả những người hầu như không có khả năng thực hiện trách nhiệm pháp luật đối với quyền của mình, như trẻ em, người già, người bệnh, cũng được bảo đảm và thực hiện quyền là chủ của mình một cách bình đẳng.

Đương nhiên, phương pháp tiếp cận quyền là chủ của nhân dân vẫn xuất phát và hướng đến nhu cầu của người dân, nhưng đây là những nhu cầu cơ bản và ổn định lâu dài, chứ không phải những nhu cầu nhất thời, thoáng qua. Phương pháp này thúc đẩy việc thể chế hóa quyền của người dân được thụ hưởng quyền một cách tự nhiên (quyền mặc định), chứ không phải thông qua một “cơ chế xin - cho” nào cả. Bởi trước khi có thể “làm chủ” được thì người dân phải “là chủ”.

Phương pháp tiếp cận quyền là chủ của nhân dân chủ yếu dựa trên các quy định của pháp luật; trong đó Hiến pháp không chỉ là biểu tượng, mà là một thể chế luật pháp nền tảng được thực hiện trực tiếp, đồng thời được thực hiện thông qua các bộ luật hoặc luật. Nó đặt con người - người dân -  ở vị trí chủ thể quyền một cách đầy đủ, nguyên vẹn và không đòi hỏi phải xác định ngay các trách nhiệm kèm theo mỗi quyền, vì các trách nhiệm này được thực hiện trong quá trình thụ hưởng quyền, không phải ở bên ngoài mà bên trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Chính Hiến pháp và pháp luật đã mặc nhiên xác định và giới hạn trách nhiệm trong việc thụ hưởng quyền. Theo chúng tôi, không nên quy định các trách nhiệm quyền con người trong Hiến pháp, mà nên tập trung quy định các trách nhiệm quyền công dân trong trong các bộ luật và luật.

Phương pháp tiếp cận quyền là chủ của nhân dân đặt nhân dân có trách nhiệm không chỉ bầu cử hoặc tự mình ứng cử vào chức danh đại biểu Quốc hội (hoặc đại biểu Hội đồng nhân dân), mà còn có trách nhiệm yêu cầu các đại biểu Quốc hội xây dựng các dự thảo luật đáp ứng được quyền của họ. Nếu các đại biểu Quốc hội không đáp ứng được yêu cầu của các cử tri thì bị chính cử tri của mình bãi nhiệm. Người dân có quyền giám sát việc hoạt động của các đại biểu Quốc hội cũng như quá trình thực hiện Hiến pháp nói riêng và luật pháp nói chung.

Phương pháp tiếp cận quyền là chủ của nhân dân đặt Nhà nước (cơ quan và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức) vào trách nhiệm phải tôn trọng, bảo vệ, thực hiện quyền của người dân gắn liền với trách nhiệm giải trình và trách nhiệm pháp lý (luật pháp, đạo đức) nhằm thực hiện trách nhiệm một cách minh bạch theo thể chế Nhà nước pháp quyền. Hai phương diện trách nhiệm của Nhà nước: i) tôn trọng, bảo vệ, thực hiện quyền; ii) giải trình và pháp lý - đều quan trọng như nhau và quy định lẫn nhau. Trong điều kiện quá trình dân chủ hóa được đẩy mạnh như hiện nay, trách nhiệm giải trình và pháp lý, thậm chí còn có ý nghĩa quan trọng hơn, để cả Nhà nước cũng như người dân đều có thể minh bạch trong việc thực thi trách nhiệm và thụ hưởng quyền của mình.

  Vì vậy trong bản Hiến pháp mới, vấn đề nhân quyền phải luôn luôn đi kèm với vấn đề bảo vệ quyền con người theo hai phương diện sau: Một mặt, phải ghi nhận đầy đủ tất cả các quyền con người có thể có, đồng thời ngăn chặn ngay sự vi phạm những quy định quyền con người từ bất cứ chủ thể nào. Trong đó phải ngăn ngừa ngay từ trước việc có thể vi phạm quyền con người từ chủ thể quan trọng nhất là Nhà nước. Phải thể chế hóa trách nhiệm thực hiện quyền con người của chủ thể Nhà nước gồm cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước với tính minh bạch cao cả về nghĩa vụ thực hiện lẫn trách nhiệm pháp lý phải thực hiện đến cùng hoặc khi không thực hiện được nghĩa vụ đó. Mặt khác, Hiến pháp phải quy định những biện pháp trừng trị những chủ thể vi phạm quyền con người và cả những biện pháp khôi phục lại những quyền con người một khi các quyền đó bị vi phạm.

Hai phương diện trên gắn liền với nhau trong Hiến pháp với tính cách là một văn bản có hiệu lực pháp lý tối cao trong hệ thống pháp luật. Quyền được bảo vệ ngang nhau trước pháp luật là một yêu cầu công lý cơ bản của Nhà nước pháp quyền. Cho dù giàu hay nghèo, thiểu số hay đa số, tôn giáo hay không tôn giáo, cá nhân hay đoàn thể chính trị,... đều được pháp luật bảo vệ như nhau và được cụ thể hóa thành những quy định ngăn chặn sự lạm dụng nhằm hạn chế những bất công trong việc bảo vệ các cá nhân và nhóm thiểu số.

Cần lưu ý rằng, với những quy định ngăn chặn trên đây cũng như việc coi trọng thể chế hóa trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện quyền con người, không có nghĩa là Nhà nước sẽ bị thiếu những quyền hạn cần thiết để thi hành luật pháp và trừng phạt những kẻ phạm pháp. Trái lại, hệ thống hình sự trong một xã hội dân chủ sẽ phát huy hiệu quả khi thi hành và mọi người dân sẽ tuân thủ hiệu lực quản lý của Nhà nước, đó chính là quyền lực tối cao của Nhà nước.

Theo cách tiếp cận quyền, nhìn chung nhân quyền được thể hiện trong Hiến pháp theo hai cách:

Thứ nhất, cách tiếp cận quyền thấm sâu vào nội dung và hình thức diễn đạt trong toàn bộ Hiến pháp.

Thứ hai, nội dung nhân quyền được quy định theo ba hình thức: i) Nhân quyền được quy định trong một văn bản riêng được gọi là Tuyên ngôn nhân quyền, như Tuyên ngôn nhân quyền năm 1689 của Anh và Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền năm 1789 của Pháp; ii) Nhân quyền được quy định thành chương hoặc điều riêng trong Hiến pháp, như trong Chương V nói về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân của Hiến pháp Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1992; iii) Nhân quyền được quy định trong bản phụ trương của Hiến pháp, như 10 Tu chính án của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ được tất cả các tiểu bang thông qua vào năm 1791 và được gọi chung là Hiến pháp Hoa Kỳ.

Ba hình thức quy định trên cơ bản là giống nhau, quy định những quyền thiết yếu nhất của con người: quyền được sống, quyền được tự do và quyền được mưu cầu hạnh phúc,...  Cụ thể đó là quyền sở hữu, quyền tự do chính trị, tự do cá nhân như: ngôn luận, tín ngưỡng, cư trú; quyền an toàn cá nhân như bất khả xâm phạm nơi cư trú, bất khả xâm phạm thân thể, không bị bắt, bị giam, khám xét và tịch thu tài sản một cách vô lý và không theo một thủ tục được quy định trước của pháp luật.

Chính vì xuất phát từ cách tiếp cận quyền mà văn kiện Đại hội XI của Đảng (2011) xác định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”3

3. Ý nghĩa của cách tiếp cận quyền đối với việc thể chế hóa Hiến pháp

Phương pháp tiếp cận quyền trong việc thể chế hóa Hiến pháp, trước tiên, khắc phục được tình trạng coi Hiến pháp hầu như chỉ là biểu tượng, chứ không phải là một chế tài có tính nền tảng và có tính cấu trúc cho nền luật pháp của cả chế độ xã hội, bằng cách thể chế hóa trách nhiệm của Nhà nước và quyền của người dân trong việc bảo đảm và thực hiện quyền của mình. Nó khắc phục được tính thụ động của Hiến pháp và sự ỷ lại của người dân trong việc thực hiện Hiến pháp bằng hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng gắn liền với sự quản lý của Nhà nước. Tính hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng chỉ có thể gắn với sự quản lý của Nhà nước thông qua quá trình xây dựng, triển khai, thực hiện đường lối, chính sách (Nghị quyết) của Đảng chủ yếu bằng phương thức luật pháp, mà Hiến pháp là nền tảng và cấu trúc của nó.

 Phương pháp tiếp cận quyền trong việc thể chế hóa Hiến pháp, sau nữa, góp phần phát huy được khối đại đoàn kết toàn dân. Chẳng hạn Điều 2 Hiến pháp năm 1992 xác định “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức”  -  có thể tạo nên sự bất bình đẳng nào đó giữa các tầng lớp trong xã hội, bởi vô hình trung đã chia công dân thành hai hạng: công dân “nền tảng” và không “nền tảng”. Chính sự bình đẳng của mọi người, từ công nhân, nông dân, trí thức đến doanh nhân, viên chức... trong việc thụ hưởng quyền đã đặt trách nhiệm của Nhà nước vào vị thế: Phải bảo đảm và thực hiện quyền một cách bình đẳng cho mọi người dân, bất kể họ thuộc giai tầng xã hội nào. Thông qua đó mà khối đại đoàn kết toàn dân được bảo đảm và thực hiện bằng thể chế Hiến pháp.

 Và cuối cùng, theo cách tiếp cận quyền thì bản Hiến pháp mới ngoài ý nghĩa pháp luật, còn có ý nghĩa xã hội. Nó bắt buộc và lôi cuốn tất cả các tổ chức pháp nhân (cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, công dân) tham gia một cách hiệu quả vào quá trình thực hiện Hiến pháp một cách trực tiếp bằng chính Hiến pháp và một cách gián tiếp bằng các bộ luật và luật trong khuôn khổ hành lang của Hiến pháp. Hiến pháp, do đó, thực sự trở thành bộ luật nền tảng đồng thời cũng quyết định cấu trúc cho nền luật pháp của cả chế độ xã hội trong thực tế.

4. Điều kiện bảo đảm và thực hiện cách tiếp cận quyền con người trong quá trình thể chế hóa Hiến pháp

Để Hiến pháp thực sự là nền tảng và quyết định cấu trúc cho toàn bộ nền luật pháp của chế độ xã hội ở Việt Nam thì Đảng phải tự đổi mới rất nhiều về cơ chế cầm quyền, cơ bản là đổi mới cơ chế xây dựng, triển khai và thực hiện các nghị quyết của Đảng theo nguyên tắc: thông qua phương thức luật pháp. Các nghị quyết của Đại hội và Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng phải được coi là cơ sở định hướng để xây dựng luật pháp (tốt nhất là chúng được thể chế hóa thành các bộ luật hay luật với tính cách là “cánh tay nối dài” của Hiến pháp). Do đó, nên có cơ chế phối hợp, thậm chí hình thành một dạng thiết chế thống nhất, giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Ban chấp hành Trung ương Đảng trên cơ sở luật pháp, để đạt được sự thống nhất trong quá trình hoạch định, triển khai và thực hiện nghị quyết của Đảng và Hiến pháp, luật pháp trong khuôn khổ Nhà nước pháp quyền XHCN.

Để thể chế hóa Hiến pháp theo cách tiếp cận quyền con người, cần xây dựng và hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền con người, quyền tự do dân chủ. Cụ thể khi Hiến pháp mới đã được xây dựng và ban hành, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần phải phối hợp với Ban chấp hành Trung ương Đảng tập trung nghiên cứu xây dựng, ban hành các luật về quyền được trưng cầu dân ý, quyền tự do lập hội, quyền tự do hội họp, quyền biểu tình, quyền tiếp cận thông tin, quyền sở hữu đất,... theo hướng mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp để người dân tham gia vào công việc của Nhà nước.

Để bảo đảm tính minh bạch trong việc thực hiện trách nhiệm quản lý của Nhà nước cho phù hợp với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN thì cần phải thể chế hóa trách nhiệm giải trình và trách nhiệm pháp lý của Nhà nước. Vì vậy, nên thành lập một cơ quan kiểm soát chung đối với các cơ quan nhà nước trong quá trình thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp để bảo đảm tính hợp hiến trong hoạt động. Đồng thời, để ngăn chặn sự nể nang, né tránh trong sự kiểm soát lẫn nhau giữa những cơ quan này, cần bổ sung vào Hiến pháp quy định về cơ quan bảo hiến nhằm thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng cơ chế phán quyết đối với những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp ở nước ta.

 

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, HN, 2001, tr.134.

(2) Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, H., 1994, tr. 283.

(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H., tr.76.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi