Nền tảng để xây dựng hoặc sửa đổi Hiến pháp

Muốn xây dựng hay sửa đổi Hiến pháp, trước hết phải xác định được nền tảng của vấn đề lập hiến. Không thể phủ nhận được rằng, việc thừa nhận và bảo vệ quyền con người và tổ chức quyền lực nhà nước là những nội dung không thể thiếu của Hiến pháp. Tuy nhiên, việc xem xét tới chính bản thân Hiến pháp có ý nghĩa nền tảng không thể bỏ qua.

Hiến pháp là cơ sở quan trọng nhất để tạo lập nên một cộng đồng chính trị, và trong suốt quá trình tồn tại, nó luôn luôn được xem là nơi chứa đựng các nguyên tắc và quy tắc cao nhất trong sinh hoạt chính trị - pháp lý của một quốc gia. Vì thế, để có một Hiến pháp đúng với nghĩa của nó, người soạn thảo dự án xây dựng hay sửa đổi Hiến pháp không thể không có câu trả lời các vấn đề sau mà bất kể thành viên nào của bất kỳ cộng đồng chính trị nào đều suy nghĩ về chúng: Cái gì khiến chúng ta liên kết lại cùng nhau trong một cộng đồng chính trị? Mô hình lập hiến của chúng ta là gì? Những mục tiêu nào chúng ta theo đuổi để xác lập tổ chức quyền lực nhà nước phù hợp? Các nguyên tắc tổ chức quyền lực là gì? Quyền lực đó được thi hành như thế nào?

Các câu hỏi nêu trên là những vấn đề cơ bản nhất mà lần lượt chúng ta phải tìm ra câu trả lời trước khi bắt tay vào xây dựng hay sửa đổi một Hiến pháp cụ thể. Trong một chừng mực có thể, bài viết cố gắng luận giải một vài ý tưởng và khía cạnh vắn tắt liên quan tới các vấn đề này.

1. Cái gì khiến chúng ta liên kết lại cùng nhau trong một cộng đồng chính trị?

Bản văn Hiến pháp luôn được xem là một văn kiện phản ánh sự thống nhất ý chí của toàn dân tạo lập nên một cộng đồng chính trị nhất định và ban tính hợp pháp hay tính chính đáng cho quyền lực của chính quyền. Hiến pháp có thể được xem là khế ước của toàn dân, bởi lẽ khế ước hay hợp đồng xét cho cùng là sự thống nhất ý chí (hay sự thỏa thuận) làm phát sinh ra một hậu quả pháp lý nhất định (mà hậu quả pháp lý ở đây có thể hiểu là việc làm phát sinh, thay đổi, hay chấm dứt một quyền lợi, và quyền lợi đó là cộng đồng chính trị - một quyền lợi chung của các thành viên cộng đồng). Lưu ý rằng: Hiến pháp chỉ làm phát sinh hay thay đổi quyền lợi chung (cộng đồng chính trị). Sự đánh giá này không có nghĩa tầm thường hóa Hiến pháp như các loại hợp đồng khác mà nhằm phản ánh sự đồng lòng chung sống của toàn dân trong một cộng đồng chính trị xác định. Vì vậy, giống với hầu hết các bản Hiến pháp của các nước trên thế giới, Hiến pháp 1992 của Việt Nam tuyên bố “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” (Điều 2), và nhắc tới “ý nguyện” của nhân dân tại Lời nói đầu. Tuy nhiên, cách thức thể hiện những tuyên bố này cần phải xem xét lại một cách tinh tế hơn trong dịp sửa đổi Hiến pháp lần này.

Người ta không bao giờ tham dự vào một khế ước mà không suy xét tới lợi ích của mình. Với những loại khế ước có tính cách cộng đồng như vậy, mọi vấn đề dường như được quyết định bởi đa số vì đó là dân chủ theo nghĩa truyền thống; do đó có thể có số ít thành viên không thỏa mãn. Sự không thỏa mãn này có thể kéo theo sự bất ổn của cộng đồng. Từ các thực tế không thể chối bỏ này, những người xây dựng dự án Hiến pháp phải tìm phương cách giải quyết. Có lẽ có hai phương cách: (i) tìm kiếm bằng được và thể hiện rõ ràng các giá trị và mục tiêu chung mà các thành viên cộng đồng cùng nhau tôn thờ; (ii) thiết kế các giải pháp cho thiểu số không thỏa mãn an tâm với cơ hội phát triển hoặc rút lui có trật tự. Hai phương thức này đã được sử dụng kết hợp một cách nhuần nhuyễn trong Hiến pháp 1946 của Việt Nam. Ở phạm vi nhỏ hơn, nhà làm luật Việt Nam cũng đã nghĩ tới phương cách thứ hai và thể hiện nó trong Luật Doanh nghiệp 2005 để bảo vệ cổ đông thiểu số hay người ít vốn trong công ty, bởi các quyết sách lớn trong các công ty đối vốn đều do cộng đồng chủ sở hữu của nó đưa ra thông qua nghị quyết mà nghị quyết đó có bản chất là hợp đồng cộng đồng.

Cái khiến mọi thành viên trong một cộng đồng chính trị gắn kết lại với nhau có lẽ không phải là một học thuyết, mà là những giá trị căn bản và những mục tiêu nhất định họ tôn thờ. Hiến pháp 1946 (Hiến pháp Hồ Chí Minh) thắng thế bởi những lẽ đó. Lời nói đầu của Hiến pháp này nêu rất rõ những khát khao chung của toàn dân tộc là “bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ”, sau đó chỉ rõ các nguyên tắc hay các mục tiêu chính trong việc xây dựng cộng đồng: “Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo”; “Đảm bảo các quyền tự do dân chủ”; và “Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”. Tuy nhiên, sẽ có một số ít không thỏa mãn. Vừa là nguyên tắc chung, bởi vậy vừa là một giải pháp níu kéo thiểu số đó hoặc để cho họ rút lui một cách có trật tự trong sự tôn trọng các quyền con người, Hiến pháp 1946 khẳng định: “Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình” (Điều thứ 7); và “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài” (Điều thứ 10). Các giải pháp như vậy không khó tìm thấy ở các nước khi mới giành được thắng lợi qua cuộc cách mạng xã hội hoặc mới giành được chính quyền từ tay thực dân. Chúng ta có thể tìm thấy những giải pháp rất khác lạ (như thủ tiêu, giết chóc, giam cầm… những cá nhân không thỏa mãn) ở một số cộng đồng chính trị như nước Đức phát xít, Campuchia dưới thời Khơ me đỏ…

Như vậy có thể nói, bên cạnh các giá trị căn bản và các mục tiêu chung giúp các thành viên trong một cộng đồng chính trị nhất định liên kết lại với nhau còn phải có các giải pháp thu hút thiểu số không thỏa mãn chung sống để xây dựng đất nước hoặc để cho họ rút lui có trật tự.

GS,TSKH. Đào Trí Úc cho rằng: Hiến pháp là một bản khế ước xã hội của nhân dân, và Hiến pháp 1992 phản ánh những giá trị cao quý của dân tộc như truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, chiến đấu anh dũng để dựng nước và giữ nước, truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa, kiên cường bất khuất (Lời nói đầu, Hiến pháp 1992), “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, “ấm no, tự do, hạnh phúc”, con người “có điều kiện phát triển toàn diện” (Điều 3 Hiến pháp 1992)2.

Tuy nhiên, Hiến pháp 1992 (được sửa đổi, bổ sung 2001) không thể hiện rõ đó là một bản khế ước của toàn dân, bởi tại Lời nói đầu của Hiến pháp có đoạn viết: “Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhân dân Việt Nam nguyện phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết một lòng, nêu cao tinh thần tự lực, tự cường xây dựng đất nước, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác với tất cả các nước, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp, giành những thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Đoạn văn này cho thấy “nhân dân Việt Nam… nguyện thi hành Hiến pháp”, chứ Hiến pháp không thực sự do nhân dân làm ra. Giải thích như vậy là phù hợp và logic bởi Điều 83 của Hiến pháp này tuyên bố: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân”, và “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp”. Có hai vấn đề phát sinh từ ý tưởng của Lời nói đầu và các tuyên bố này: Thứ nhất, không có bản văn nào thể hiện sự ủy quyền của nhân dân cho Quốc hội đại diện cho mình, và Quốc hội tự tuyên bố mình là đại diện của nhân dân; thứ hai, việc bầu cử đại biểu Quốc hội không thể được xem là hành vi ủy quyền bởi chính sự bầu cử đó cũng do Quốc hội quy định trong Hiến pháp hay trong một đạo luật khác do mình tự làm ra. Vì vậy, đây là các vấn đề cần nghiên cứu sửa đổi đầu tiên để xây dựng nền tảng của lập hiến và bảo đảm tính hợp pháp hay tính chính đáng của chính quyền đúng với tư tưởng quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân3. Dự kiến sửa đổi Hiến pháp 1992 nên theo hướng trả lại quyền lập hiến cho nhân dân và buộc Nhà nước phải thi hành Hiến pháp bởi chính sự thi hành Hiến pháp của nhân dân là thành tố quan trọng của Nhà nước pháp quyền và bảo đảm cho Nhà nước luôn luôn là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Mặc dù không thể phủ nhận được rằng, truyền thống yêu nước, thương nòi được đề cập đến trong Hiến pháp 1992 là một trong những giá trị có thể khiến người dân Việt Nam hợp nhau lại để xây dựng và bảo vệ đất nước, nhưng cũng cần thấy rằng, Hiến pháp 1992 (ngay cả Lời nói đầu) chưa tính đến nền tảng lợi ích sâu xa nhất của mối liên kết cộng đồng. Hiện nay, có rất nhiều người Việt Nam định cư, làm ăn sinh sống ở nước ngoài. Không thể nói họ không yêu nước, thương nòi, nhưng về nước để hòa nhập vào cộng đồng chính trị thì có lẽ vẫn là một câu hỏi lớn. Do vậy, xây dựng một xã hội hài hòa và không quá nhấn mạnh tới việc phân chia giai cấp và các nhóm lợi ích có lẽ là một vấn đề cần tính đến trong dịp sửa đổi, bổ sung Hiến pháp lần này. Sự hài hòa ở đây phải được giải thích trên nhiều phương diện như truyền thống, văn hóa, dân tộc, kinh tế và chính trị cùng với các mục tiêu chung của toàn dân tộc. Tìm lại các vấn đề này trong Hiến pháp 1946 có thể có các gợi ý quan trọng.

 Hiến pháp 2002 của Thụy Sỹ (ngoài câu chuyện tín ngưỡng) cũng là một kinh nghiệm tốt cho việc xử lý các vấn đề nêu trên. Lời nói đầu của bản Hiến pháp này viết:

“Nhân danh Chúa toàn năng! Chúng tôi, nhân dân Thụy Sỹ và các Tiểu bang,

Xét rằng, chúng tôi nhận thức được trách nhiệm của mình về sự tạo lập cộng đồng; kiên quyết đổi mới mối liên kết giữa chúng tôi để tăng cường tự do và dân chủ, độc lập và hòa bình trong sự đoàn kết và cởi mở với thế giới; quyết định sống đa dạng trong sự thống nhất tôn trọng lẫn nhau; nhận thức được các mục tiêu và trách nhiệm chung đối với các thế hệ tương lai; và biết rằng chỉ những ai gìn giữ tự do mới được hưởng tự do, và sức mạnh của một dân tộc được đo bằng sự hạnh phúc của người yếu nhất trong số thành viên của dân tộc đó; bởi thế, giờ đây, chúng tôi thông qua bản Hiến pháp sau:…”.

2. Mô hình lập hiến của chúng ta là gì?

Bản văn Hiến pháp không thể được xem xét tách rời chủ nghĩa lập hiến. Bản văn Hiến pháp là phần quan trọng nhất của chủ nghĩa lập hiến và thể hiện những vấn đề cốt lõi nhất của chủ nghĩa lập hiến. Vì vậy, Hiến pháp được phân chia thành nhiều loại khác nhau bởi chủ nghĩa lập hiến cũng có những mô hình khác nhau mặc dù có chung một hạt nhân lý luận quan trọng là phản ánh sự khao khát chế ngự quyền lực của nhà cầm quyền để bảo vệ tự do của con người bằng các nguyên tắc, quy tắc cụ thể tạo nên trật tự cao nhất trong sinh hoạt chính trị - pháp lý ở một cộng đồng chính trị nhất định.

Hạ viện Nhật Bản cho rằng “Chủ nghĩa lập hiến có thể được định nghĩa như một nền chính trị Hiến pháp hay một nền chính trị nghị viện”4. Tại đây, chủ nghĩa lập hiến có mô hình phù hợp với Nhật Bản: Chính thể đại nghị và Nhật Hoàng. Chủ nghĩa lập hiến ở Việt Nam có lịch sử hình thành cùng với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân Pháp và được phát triển bởi các nhà cách mạng tiền bối như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… và được làm nổi bật và biến thành hiện thực bởi tư tưởng Hồ Chí Minh. GS. TSKH Đào Trí Úc đã tóm tắt chủ nghĩa lập hiến ở Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh như sau: “Như vậy, theo tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh, Hiến pháp là sự tổng hòa của các yếu tố: tư tưởng về dân chủ, sự ràng buộc của quyền lực nhà nước bởi Hiến pháp và pháp luật để qua đó mà kiểm soát quyền lực, sự bảo đảm của các nguyên tắc pháp quyền, tôn trọng và bảo đảm nhân quyền. Có thể nói rằng, đó là những định hướng và tiền đề tư tưởng của chủ nghĩa lập hiến mang tính phổ biến mà tư tưởng Hồ Chí Minh đã tiếp thu, được kiểm nghiệm trong thực tiễn Việt Nam”; và “Chủ nghĩa lập hiến trong tư tưởng pháp quyền của Hồ Chí Minh là chủ nghĩa lập hiến dựa trên truyền thống tôn trọng đại nghĩa của dân tộc Việt Nam, là tư tưởng khoan dung và nhân nghĩa”5.

Như vậy, ngoài hạt nhân chủ yếu của chủ nghĩa lập hiến được du nhập từ phương Tây, chủ nghĩa lập hiến ở Việt Nam còn có thêm tư tưởng về khoan dung và nhân nghĩa. Có lẽ vẫn còn thiếu khi không đề cập tới chủ nghĩa lập hiến ở Việt Nam luôn luôn được truyền bá như một thứ vũ khí tư tưởng để giải phóng dân tộc, gìn giữ đất nước và hội nhập quốc tế. Các đặc trưng này của chủ nghĩa lập hiến Việt Nam được thể hiện rất rõ nét qua tư tưởng của các nhà cách mạng tiền bối, qua “Việt Nam yêu cầu diễn ca” và đỉnh cao là qua các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992. Điều quan trọng cần bàn là, ngoài việc nhận thức các đặc điểm của chủ nghĩa lập hiến Việt Nam, nên thể hiện như thế nào các đặc điểm này trong dịp sửa đổi Hiến pháp lần này.

Các công trình nghiên cứu gần đây nhất ở Việt Nam về chủ nghĩa lập hiến còn vắng bóng một trào lưu mới về chủ nghĩa lập hiến trên thế giới mà trào lưu này đang xuất hiện ở Việt Nam qua thực tiễn phát triển dân chủ, quyền con người và hội nhập quốc tế. Đó là chủ nghĩa lập hiến đa cấp hay chủ nghĩa đa hiến pháp. Cần lưu ý rằng, trong công cuộc cải cách hiến pháp ở Trung Quốc hiện nay, chủ nghĩa lập hiến đa cấp đang được nghiên cứu và là một khuynh hướng.

Trong bài viết “Hướng tới Chủ nghĩa lập hiến đa cấp: Một mô hình mới của cải cách hiến pháp tại Trung Quốc?”, Shi Shifeng6 nhìn nhận chủ nghĩa lập hiến đa cấp dưới hai giác độ: thứ nhất, nhìn nhận từ quy trình, chủ nghĩa lập hiến đa cấp là một mô hình hoàn thiện của chủ nghĩa lập hiến; thứ hai, nhìn nhận từ hệ quả, chủ nghĩa lập hiến đa cấp là một trật tự hiến pháp được duy trì bởi hiến pháp đa tầng7. Chủ nghĩa lập hiến đa cấp phát sinh từ phương Tây trong bối cảnh tản quyền để tăng cường dân chủ, bảo vệ quyền con người và hình thành các khu vực trên thế giới. Ingolf Pernice đã lý giải khái niệm này trong thực tiễn của Cộng đồng châu Âu như sau: “… khái niệm chủ nghĩa lập hiến đa cấp tập trung vào: mối liên hệ giữa luật quốc gia và luật của Cộng đồng châu Âu từ quan điểm của không chỉ của các quốc gia mà còn của các công dân. Dựa trên tiền đề rằng, trong các nền dân chủ hiện đại, các công dân là nền tảng và nguồn gốc của bất kể quyền lực công cộng và quyền lực ra quyết định nào dù thuộc các định chế của quốc gia hay của Cộng đồng châu Âu (không nói tới các định chế toàn cầu), cuối cùng dẫn tới việc hiểu rằng hai cấp chính quyền là các thành tố cơ bản của một hệ thống phục vụ cho các lợi ích của các công dân, đó là các chính quyền của các nước và chính quyền của Cộng đồng châu Âu”8.

Cũng như sự du nhập chủ nghĩa lập hiến trước kia, chủ nghĩa lập hiến đa cấp du nhập vào Trung Quốc có màu sắc khác đôi chút do hoàn cảnh trong và ngoài Trung Quốc9. Thực tiễn Việt Nam đang dần dà bị lôi cuốn vào chủ nghĩa lập hiến đa cấp nhưng chưa ý thức một cách đầy đủ về nó. Quan hệ với ASEAN và việc tản quyền cho các địa phương thực chất đã có sự phân tầng trong luật công mà trong đó có nhiều nguyên tắc và quy tắc của luật hiến pháp.

Để chủ động, có lẽ chúng ta nên suy tính thật kỹ về việc chấp nhận mô hình lập hiến nào mà trong đó có cả chủ nghĩa lập hiến đa cấp trước khi bắt tay vào sửa đổi Hiến pháp 1992. Nếu chúng ta không thiết lập cơ chế bảo hiến cho hiến pháp của quốc gia mà trong khi luật công ở tầng dưới và luật của ASEAN và của các tổ chức khác có cơ chế thi hành hiệu quả, thì vấn đề chủ quyền có nhiều vấn đề phải bàn. Nhân đây cũng cần nghiên cứu kỹ lưỡng về nội dung và cách thức của việc tản quyền (nhất là trong việc xây dựng Luật Thủ đô) và phân loại, cũng như thẩm quyền ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế. Về nguyên tắc nói chung, tất cả các điều ước quốc tế có liên quan tới quyền con người và các nguyên tắc, quy tắc hiến pháp phải có sự phê chuẩn của Quốc hội. Tuy nhiên, điều ước nào được xếp vào các loại đó cũng là vấn đề cần nghiên cứu kỹ để không gây chậm trễ trong quan hệ quốc tế. Chẳng hạn Việt Nam coi hiệp định hàng không là hiệp định chính phủ trong khi Cộng hòa Liên bang Đức xem là hiệp định nhà nước.

3. Những mục tiêu nào chúng ta theo đuổi để xác lập tổ chức quyền lực nhà nước phù hợp?

Có lẽ mục tiêu lớn nhất và đương nhiên là làm cho cộng đồng vững mạnh và phát triển, nói theo cách khác, trước hết không làm phá vỡ cộng đồng. Vậy mỗi thành viên cộng đồng và mỗi nhóm thành viên đều phải được chăm lo chung bởi Hiến pháp. Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN) là mục tiêu chung của nhân dân Việt Nam và giải thích khái niệm xã hội XHCN như sau:

“Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”10.

Trong giải thích khái niệm này, Đảng đã đặt ra rất nhiều các mục tiêu riêng rẽ cho xã hội Việt Nam trong giai đoạn tới. Tuy nhiên cần tóm tắt lại để nói rõ trong Lời nói đầu của Hiến pháp và một số điều khoản đầu tiên. Có thể hiểu: dân chủ, thống nhất trong đa dạng văn hóa, đáp ứng như cầu sống và phát triển toàn diện của con người, nhà nước pháp quyền XHCN, hữu nghị và hợp tác quốc tế là các giá trị căn bản của xã hội XHCN. Về cơ bản các mục tiêu này không khác gì so với các mục tiêu tóm tắt được diễn đạt trong Hiến pháp 1946. Tuy nhiên khái niệm “Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” cần phải có sự lý giải sâu hơn.

4. Các nguyên tắc tổ chức quyền lực là gì?

Từ các mục tiêu nêu trên, có thể thấy có hai nguyên tắc luôn được xem xét tới trong việc tổ chức quyền lực nhà nước ở Việt Nam. Đó là: (1) Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; và (2) Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Có thể hiểu việc xa rời một trong hai nguyên tắc này đều là xa rời định hướng XHCN. Các nguyên tắc trên có thể hiểu tóm tắt là nguyên tắc dân chủ và nguyên tắc Đảng lãnh đạo. Tuy nhiên, trong tất cả các xã hội, hai nguyên tắc này có sự mâu thuẫn, nhưng không loại trừ nhau. Về mặt tâm lý, đảng cầm quyền luôn luôn muốn chính sách của mình phải đi vào đời sống một cách nhanh nhất, nên sự lựa chọn chính trị thường nghiêng về chế độ thủ trưởng, và trong tổ chức chính thể, thường nghiêng về hành pháp. Trong khi đó, dân chủ có bản chất là quyết định bởi đa số, nói cách khác mọi người phải được biết, bàn và tham gia vào việc ra quyết định, nên thường làm chậm cho quá trình đi vào đời sống của các chính sách. Lập pháp thể hiện rõ nét nhất bản chất của dân chủ. Vậy việc khó khăn nhất trong tổ chức nhà nước là làm thế nào để cân đối hai mặt của mâu thuẫn không loại trừ nhau này. Điều đó dẫn đến, cùng với các mục tiêu xây dựng cộng đồng đề ra và truyền thống, một câu hỏi: Lựa chọn chính thể nào?

Hiện nay ở nước ta, tổ chức chính thể tập quyền nghiêng về lập pháp, nhưng cũng vẫn muốn xây dựng hành pháp mạnh đáp ứng nhanh nhất các biến đổi của tình hình trong nước và quốc tế, hay hiểu theo nghĩa khác, đưa ngay các chính sách cần thiết vào cuộc sống. Rõ ràng Chính phủ phải giải quyết một khối lượng công việc khổng lồ liên quan tới đối nội và đối ngoại với yêu cầu đồng bộ và thống nhất, trong khi khả năng giải quyết bị hạn chế vì nhiều nguyên nhân, trong đó có cả nguyên nhân đội ngũ công chức chưa đủ sức đáp ứng. Giải pháp quan trọng nhất có lẽ là tăng cường cho Chủ tịch nước trong các chức năng đối ngoại và giải quyết những vấn đề chính trị căn bản và tức thời của Nhà nước. Nếu Tổng bí thư là Chủ tịch nước thì có thể giải quyết được phần lớn các vấn đề phát sinh từ mâu thuẫn giữa hai nguyên tắc dân chủ và đảng lãnh đạo. Trung Quốc, Nga, Pháp, Israel, Thổ Nhĩ Kỳ có thể có những kinh nghiệm đáng tham khảo.

Khi nói đến tổ chức quyền lực nhà nước ở nước ta, người ta thường nhắc đến “Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Ở đây nhắc hai vấn đề chính trị nền tảng nhưng mâu thuẫn nhau. Nói tới nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là nói tới phần cốt yếu của dân chủ mà có hạt nhân lý luận là “quyết định bởi đa số”. Còn nói tới Nhà nước pháp quyền là nói tới một học thuyết hay một tư tưởng có hạt nhân lý luận là nhà nước phải bị ràng buộc bởi pháp luật để bảo vệ tự do của cá nhân con người. Vì vậy, dân chủ gần gũi với lập pháp, còn nhà nước pháp quyền gần gũi với tư pháp. Lập pháp và tư pháp có hai cách tác động xã hội đối lập nhau nhưng không thể thiếu trong tổ chức nhà nước. Lập pháp đưa chính sách từ trên xuống áp đặt chung cho toàn xã hội. Trong khi đó tư pháp áp đặt chính sách cho các trường hợp tranh chấp cụ thể, qua đó giải thích và bổ sung cho lập pháp. Nhà nước pháp quyền chỉ có thể xây dựng trên nền tảng dân chủ, bởi thế ngày nay khi nói tới dân chủ hiện đại hay dân chủ tự do tức là nói: nhà nước pháp quyền là một trong các thành tố của dân chủ với công thức ngắn gọn “cai trị bởi đa số với các quyền của thiểu số”11. Hiểu một cách đơn giản, dân chủ và nhà nước pháp quyền phải được diễn đạt riêng rẽ trong mối liên hệ gắn bó với nhau.

Cũng như vậy, các nhánh quyền lực nhà nước dù được phân chia như thế nào theo chính thể tổng thống, chính thể đại nghị, chính thể quốc hội hay cộng hòa lưỡng tính thì quyền lực nhà nước cũng đều thống nhất ở nhân dân. Việc phân chia như vậy là một thủ thuật hay phương cách của nhân dân thông qua Hiến pháp chế ngự quyền lực đó để bảo vệ chính mình. Việc lựa chọn chính thể phụ thuộc vào nhu cầu của nhân dân phù hợp với mục tiêu xây dựng cộng đồng mà nhân dân đề ra.

5. Quyền lực đó được thi hành như thế nào?

Hiến pháp phải có hiệu lực thì mới nói tới chuyện thi hành. Khi nói tới hiệu lực của một văn bản pháp luật hay một hợp đồng, phần nhiều luật gia Việt Nam hiện nay chỉ nói tới thời điểm có hiệu lực, điều kiện có hiệu lực, và cho rằng sự ban hành hay ký kết nếu không vi phạm điều kiện có hiệu lực là văn bản đó hay hợp đồng đó có hiệu lực. Nhưng khi được hỏi nội dung của hiệu lực ấy là gì thì ít thấy câu trả lời. Về mặt pháp lý, khi nghiên cứu hiệu lực của một văn bản hay một hợp đồng, người ta thường nghiên cứu: nó tác động tới ai, tác động tới cái gì và tác động như thế nào.

Hiến pháp 1992 dường như tác động tới tất cả (chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, lãnh thổ, an ninh, quốc phòng, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, chính thể…), nhưng khó có câu trả lời nó tác động như thế nào.

Luật lệ, nói một cách đơn giản, là nơi tập hợp các quy tắc mà hễ bị vi phạm thì người vi phạm phải gánh chịu một chế tài tương ứng mà chế tài đó cũng đã được luật lệ ấn định sẵn. Vậy Hiến pháp 1992 ấn định quyền và nghĩa vụ của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, nhưng nếu chúng bị các cơ quan nhà nước vi phạm hay không thi hành thì chế tài đối với sự vi phạm và không thi hành đó là gì, xét về mặt pháp lý?

Nhân dân trao quyền lực của mình cho Nhà nước, cũng giống như bất kỳ người ủy quyền nào, cũng đều mong muốn người được ủy quyền thi hành nghiêm chỉnh quyền lực được giao. Điều đó có nghĩa là cơ quan nhà nước phải thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp (văn bản ủy quyền của nhân dân cho Nhà nước). Muốn thi hành được Hiến pháp phải giải quyết được hai vấn đề cơ bản: phải xây dựng các chế tài (đây được xem như điều kiện cần); và phải xây dựng cơ chế áp dụng chế tài bao gồm: các tố quyền (ai có quyền nại ra các vi phạm hiến pháp và cách thức nại ra như thế nào); định chế tiếp nhận tố quyền (cơ quan bảo hiến); thủ tục tiến hành xem xét và giải quyết các vi phạm; và cơ chế thi hành phán quyết (đây được xem như điều kiện đủ). Việc có chế tài và cơ chế áp dụng chế tài đối với vi phạm khiến cho Hiến pháp trở thành một đạo luật, chứ không phải là một tuyên ngôn cách mạng hay một cam kết đơn phương của chính quyền.

Hiến pháp 1992 có nhắc đến việc xem xét lại các văn bản vi hiến, nhưng thiếu chế tài và một cơ chế áp dụng hữu hiệu. Việc thiết lập một cơ chế bảo hiến hữu hiệu nên được nghiên cứu kỹ để xây dựng từng bước trong dịp sửa đổi Hiến pháp 1992 lần này. 

 

 

[1] Trong phân loại hợp đồng, có một cách phân loại hợp đồng thành hợp đồng cá nhân và hợp đồng cộng đồng

2 GS. TSKH Đào Trí Úc, “Hiến pháp trong đời sống xã hội và quốc gia”, Hiến pháp: Những vấn đề lý luận và thực tiễn (Sách chuyên khảo), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011, tr. 28 & 31.

3 Xem Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng Cộng sản Việt Nam.

4 House of Representatives, Japan, History of Constitutionalism in Japan, p.7

5 GS. TSKH Đào Trí Úc, “Chủ nghĩa lập hiến hiện đại ở Việt Nam: Những thành tựu và các vấn đề đang đặt ra”, Hiến pháp: những vấn đề lý luận và thực tiễn (Sách chuyên khảo), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 73- 74

6 Đưa ra tại Hội nghị thế giới lần thứ VII của Hiệp hội quốc tế về luật hiến pháp (IACL) họp tại Athen từ ngày 11 tới ngày 15/6/2007.

7 Shi Shifeng, Towards Multiple- Constitutionalism: A New Paradigm for Constitutional Reform in China?, The VIIth World Congress of the International Association of Constitutional Law (IACL), Athens 11- 15 June 2007, Workshop 11-Subnational Constitutions in federal constitutional states.

8 Ingolf Pernice, The Treaty of Lisbon: Multilevel Constitutionalism in Action, Walter Hallstein- Institut, Humboldt- Universitat zu Berlin, WHI- Paper 2/09, p. 24.

9 Xem Shi Shifeng, Towards Multiple- Constitutionalism: A New Paradigm for Constitutional Reform in China?, The VIIth World Congress of the International Association of Constitutional Law (IACL), Athens 11- 15 June 2007, Workshop 11-Subnational Constitutions in federal constitutional states.

10 Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).

1[1] [http://en.wikipedia.org/wiki/Democracy], Democracy

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi