Đóng góp sửa đổi Hiến pháp 1992 về vai trò kinh tế của Nhà nước và chế độ kinh tế

Trong tờ trình của Ủy ban thường vụ quốc hội về việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 có đưa ra một số định hướng về sửa đổi có liên quan đến Chương II Chế độ kinh tế: "cần sửa đổi, bổ sung các quy định bảo đảm mục tiêu, định hướng chính sách lớn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối”.

Chế độ kinh tế là tổng thể các thể chế đặc trưng quy định các điều kiện, các phương thức tổ chức và các chính sách, chế độ, cơ chế hoạt động của nền kinh tế một nước trong từng thờigian1. Để đưa ra những đóng góp cho sửa đổi, bổ sung những nội dung liên quan đến chế độ kinh tế trong Hiến pháp 1992, việc nghiên cứu quy định về vai trò của Nhà nước như yếu tố quyết định điều kiện, phương thức tổ chức, cơ chế hoạt động của nền kinh tế có tính cấp thiết cao2.

1. Xác định vai trò của nhà nước trong kinh tế thị trường và chế độ kinh tế

Vai trò, chức năng của nhà nước - được hiểu theo nghĩa là những định hướng chính của nhà nước trong hoạt động quản lý xã hội, bao gồm cơ chế tác động của nhà nước vào sự phát triển của những tiến trình xã hội3, có đặc tính tự thân là thay đổi theo từng thời kỳ lịch sử. Trong bối cảnh hiện nay, chức năng đảm bảo sự phát triển kinh tế của nhà nước ngày càng trở nên quan trọng. Về mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường, có nhiều cách tiếp cận khác nhau:đặt nhà nước trên thị trường (mô hình nhà nước toàn trị), đặt nhà nước bên cạnh thị trường (mô hình thị trường tự do) và đặt nhà nước trong thị trường. Cách tiếp cận đặt nhà nước trong kinh tế thị trường là cách tiếp cận phổ biến.

Có thể đưa ra những nội dung hoạt động chủ yếu của nhà nước trong nền kinh tế thị trường như sau :

- Ban hành các văn bản pháp luật tác động đến hành vi của các chủ thể của hoạt động kinh tế, hoạt động kinh doanh và những chủ thể tham gia quan hệ kinh tế nói chung;

- Kiểm tra việc tuân thủ các quy định pháp luật và bảo vệ các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế chống lại các hành vi vi phạm;

- Thực hiện quyền sở hữu của nhà nước bình đẳng với các chủ thể khác; và

- Thực hiện việc điều chỉnh kinh tế, hỗ trợ và khuyến khích các chủ thể tham gia quan hệkinhtế4.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 đều nhấn mạnh vai trò hàng đầu của công cụ pháp luật của nhà nước trong việc quản lý vĩ mô nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.So với các phương tiện quản lý vĩ mô khác, pháp luật là phương tiện có hiệu lực và hiệu quả cao hơn cả, bởi vì nó có sức mạnh tạo lập, điều chỉnh và bắt buộc chung trên quy mô toàn xã hội5.

Theo chúng tôi, Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật để thực hiện chức năng kinh tế của mình theo các hướng chính sau:

- Xác lập địa vị pháp lý của các hình thức sở hữu;

- Xác định các loại hình chủ thể kinh doanh và tổ chức đăng ký kinh doanh;

- Cấp giấy phép cho một số hoạt động kinh doanh;

- Kiểm tra hoạt động của các chủ thể kinh doanh;

- Xác lập hệ thống thuế; và

- Đảm bảo chế độ pháp lý chung của hoạt động kinh tế.

Ở Việt Nam hiện nay, vai trò của Nhà nước đối với kinh tế không chỉ xuất phát từ yêu cầu phổ biến của quá trình phát triển kinh tế thị trường, mà còn xuất phát từ tính đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN6 với những đặc trưng như: (i) đó là nền kinh tế thị trường mà trong đó các quy luật kinh tế cơ bản như cạnh tranh, cung cầu vẫn chịu sự chi phối ở mức độ lớn của các yêu cầu về công bằng xã hội; (ii) nền kinh tế có sự phát triển đan xen không đồng đều của các thành phần kinh tế; (iii) với tư cách là hệ quả của những đặc điểm trên, nền kinh tế thị trường nước ta chưa có sự cạnh tranh theo đúng nghĩa của từ này; và (iv) nền kinh tế thị trường của Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập mạnh mẽ với nền kinh tế thế giới7.

Khi đưa ra quy định hiến định về vai trò của nhà nước và chế độ kinh tế cũng cần lưu ý nét đặc thù của Hiến pháp Việt Nam là theo mô hình Hiến pháp XHCN chuyển đổi với các đặc điểm như khẳng định việc xây dựng nhà nước pháp quyền; tổ chức quyềnlực nhà nước được xây dựng trên một nguyên tắc mới: "Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát, trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”; khẳng định xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN8.

Đặc điểm quan trọng nhất của sự phát triển Hiến pháp ở Việt Nam trong Thế kỷ 21 là Hiến pháp đang dần dần thực hiện chức năng nguyên thủy của nó trong việc bảo vệ người dân và kiểm soát tính chất hợp lý trong sự vận hành của công quyền. Điều này một phần phản ánh sự mở rộng của công lý Hiến pháp có tính chất toàn cầu và nhu cầu thực tế của xã hội Việt Nam trong việc dựa vào Hiến pháp như một nền tảng cơ bản của quá trình dân chủ hóa9.

Nhiều nhà nghiên cứu và chuyên gia đã nhắc đến sự ra đời, tồn tại của Hiến pháp bắt nguồn từ lý thuyết về chủ quyền nhân dân. Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước. Nhưng người dân không thể trực tiếp sử dụng toàn bộ quyền lực nhà nước của mình, nên thỏa thuận thông qua Hiến pháp để giao quyền, ủy quyền cho nhà nước; để cho nhà nước thay mặt mình sử dụng quyền lực nhà nước theo ý chí của mình (nhân dân). Vì thế Hiến pháp được quan niệm là một văn bản thỏa thuận chung của người dân trong một quốc gia về những cách thức cai trị mà theo họ là phù hợp và đem lại hạnh phúc cho mình. Theo đó, Hiến pháp được xem như một bản khế ước xã hội10. Nếu theo cách tiếp cận trên, quy định hiến định.về vai trò kinh tế của Nhà nước sẽ được thể hiện như những nghĩa vụ của Nhà nước đối với người dân và các quyền của nhà nước chính là để thực hiện những nghĩa vụ này.

Như vậy, các quy định trong Hiến pháp liên quan đến vai trò của nhà nước trong chế độ kinh tế có thể bao gồm: các cam kết đảm bảo của Nhà nước, nghĩa vụ, quyền của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.

2. Kinh nghiệm của Liên bang Nga và Trung Quốc trong quy định hiến định về vai trò kinh tế của Nhà nước và chế độ kinh tế

Ở đây,chúng tôi chọn nghiên cứukinh nghiệm của Liên bang Nga và Trung Quốc trong quy định hiến định về vai trò kinh tế của Nhà nước và chế độ kinh tế vì Hiến pháp Liên bang Nga và Trung Quốc đều có những nét của mô hình Hiến pháp XHCN chuyển đổi như Việt Nam và đã có những sửa đổi, tạo cơ sở cho những chuyển đổi tích cực và phát triển của xã hội.

Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993, sửa đổi năm 2008 không có chương riêng về chế độ kinh tế mà chỉ có những quy định liên quan ở Điều 8:

"1. Ở Liên bang Nga đảm bảo sự thống nhất của không gian kinh tế, sự di chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ và nguồn lực tài chính; hỗ trợ cạnh tranh, tự do hoạt động kinh tế.

2.Ở Liên bang Nga công nhận và bảo vệ một cách bình đẳng sở hữu tư nhân sở hữu nhà nước, sở hữu của địa phương và các hình thức sở hữu khác”.

Điều 34 Hiến pháp Liên bang Nga quy định:

"1. Mỗi người đều có quyền tự do sử dụng khả năng và tài sản của mình cho các hoạt động kinh doanh và hoạt động kinh tế khác không bị cấm bởi luật pháp.

2. Không được phép hoạt động kinh tế nhằm mục đích độc quyền và cạnh tranh không lành mạnh”.

Như vậy, liên quan đến vai trò kinh tế của Nhà nước và chế độ kinh tế, Hiến pháp Liên bang Nga mang tính chất của hiến pháp chuyển đổi, không quy định chi tiết để tạo sự thông thoáng và chỉ nêu ra những cơ sở, những nguyên tắc cơ bản trong đó có những cơ sở đặc thù cho Liên bang Nga như "đảm bảo sự thống nhất của không gian kinh tế, sự di chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ và nguồn lực tài chính”, "công nhận và bảo vệ một cách bình đẳng sở hữu tư nhân sở hữu nhà nước, sở hữu của địa phương”. Bên cạnh đó, Hiến pháp Liên bang Nga cũng đưa ra những nguyên tắc thể hiện vai trò của Nhà nước trong kinh tế thị trường như "hỗ trợ cạnh tranh, tự do hoạt động kinh tế” ở Điều 8 và một lần nữa ngay trong Hiến pháp ở Điều 34 khẳng định lại nguyên tắc này, nhấn mạnh vấn đề bảo vệ cạnh tranh, chống độc quyền và cạnh tranh không lành mạnh.

Hiến pháp Trung Quốc năm 1982, sửa đổi năm 2004 cũng không có chương riêng về chế độ kinh tế mà những quy định có liên quan nằm ở Chương I Những quy định chung. Nội dung của những quy định này có nhiều nét tương đồng với quy định trong Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992.

Điều 6 Hiến pháp Trung Quốc quy định "Cơ sở của hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là sở hữu chung XHCN đối với phương tiện sản xuất cụ thể là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể”. Theo Điều 7 Hiến pháp Trung Quốc, "Động lực thúc đẩy nền kinh tế quốc gia là kinh tế nhà nước, tức là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với quyền sở hữu chung. Nhà nước bảo đảm việc củng cố và phát triển của nền kinh tế quốc gia”. Vai trò kinh tế của nhà nước cũng được xác định rõ ở Điều 15 Hiến pháp Trung Quốc, "Nhà nước thực hiện nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Nhà nước hoàn thiện pháp luật về kinh tế và tối ưu hóa việc kiểm soát vĩ mô nền kinh tế. Nhà nước, hoạt động theo quy định của pháp luật, nghiêm cấm các hành vi vi phạm trật tự kinh tế của mọi tổ chức, cá nhân” 11.

Ngày 14/3/2004, kỳ họp thứ 2, Quốc hộikhoá10 nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã thông qua 22 điểm sửa đổi trong Hiến pháp hiện hành. Từ năm 1982 đến nay, Trung Quốc đã 4 lần sửa đổi Hiến pháp, nhưng lần sửa đổi này mang tính cách mạng nhất.

Liên quan đến vai trò kinh tế của Nhà nước và chế độ kinh tế, Mục 2 Điều 11 "Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nền kinh tế cá thể.Nhà nước hướng dẫn, trợ giúp và quản lý nền kinh tế cá thể bằng việc thực thi quyền quản lý” đã được sửa thành "Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khối tư nhân trong nền kinh tế, bao gồm các doanh nghiệp tư nhân và cá thể. Nhà nước khuyến khích, ủng hộ và chỉ đạo việc phát triển khối tư nhân, tiến hành giám sát và quản lý khối tư nhân bằng luật pháp”.

16 năm trước, những sửa đổi trong Hiến pháp Trung Quốc quy định rằng nhà nước cho phép nền kinh tế tư nhân tồn tại và phát triển trong giới hạn luật pháp như một "phần bổ sung” cho nền kinh tế chung. Đến năm 1999,vai trò của nền kinh tế tư nhân được nâng cao và trở thành một "phần trọng yếu” của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Trước đây qui định nhà nước thực hiện hướng dẫn, giám sát và quản lý đối với kinh tế cá thể và kinh tế tư doanh; hiện nay Hiến pháp ghi "nhà nước khuyến khích, giúp đỡ và hướng dẫn phát triển kinh tế phi công hữu”. Từ "giám sát, quản lý”đến"khuyến khích, giúp đỡ” là một tiến bộ lớn.Điều này thể hiện Hiến pháp thừa nhận địa vị quan trọng của kinh tế phi công hữu trong nền kinh tế và nâng cao tính tích cực của người làm công ăn lương trong lĩnh vực kinh tế phi công hữu.

Điều 13 Hiến pháp Trung Quốc "Nhà nước bảo vệ quyền công dân trong việc sở hữu hợp pháp nguồn thu nhập,tiền tiết kiệm, nhà cửa và các tài sản hợp pháp khác. Nhà nước bảo vệ quyền thừa kế tài sản tư nhân của công dân bằng luật pháp” sửa thành "i sản tư nhân hợp pháp của công dân sẽ không bị xâm phạm. Nhà nước bảo vệ quyền sở hữu tài sản tư nhân hợp pháp và quyền thừa kế tài sản của công dân bằng luật pháp. Nhà nước có thể sung công hoặc tiếp quản đất đai vì mục đích công,và chi trả bồi thường phù hợp với luật pháp”. Ở đây, "tính hợp pháp” của tài sản tư hữu được nhấn mạnh, tức không phải mọi tài sản tư hữu đều được bảo hộ. Tài sản sở hữu phi pháp không những không được bảo hộ mà còn phải bị truy cứu. Do vậy, điều khoản bảo vệ tài sản tư hữu hợp pháp của công dân được ghi vào Hiến pháp chỉ là sự bắt đầu, nó đặt ra nhiệm vụ cấp bách đối với việc hoàn thiện luật pháp tiếp theo.

Việc đưa điều khoản bảo vệ tài sản tư hữu hợp pháp của công dân vào hiến pháp Trung Quốc thể hiện kinh tế thị trường của Trung Quốc bước vào giai đoạn mới, và nó đặt ra việc xây dựng pháp chế và chính phủ với trách nhiệm là "người gác đêm” một nhiệm vụ mới: xây dựng kinh tế thị trường công bằng12.

Ghi nhận "i sản tư hữu hợp pháp của công dân không được xâm phạm” vào Hiến pháp là do yêu cầu phát triển của kinh tế thị trường,nhằm kích thích nhiệt tình sáng tạo ra của cải của mọi người. Kinh tế thị trường muốn phát triển lành mạnh không thể tách khỏi trật tự thị trường và môi trường pháp chế công bằng. Bởi nếu không công bằng thì không có cạnh tranh bình đẳng, không cạnh tranh bình đẳng thì đó là môi trường thuận lợi sẽ sản sinh ra mọi thứ đặc quyền và lợi ích kinh tế đặc quyền. Rõ ràng,tài sản tư hữu hợp pháp cần được sản sinh ra trong môi trường kinh tế thị trường công bằng,nếu không thì điều khoản "i sản tư hữu hợp pháp của công dân không được xâm phạm”mà Hiến pháp ghi nhận sẽ bị làm sai lệch. Có thể thấy, trong Hiến pháp Trung Quốc chưa khẳng định một chức năng kinh tế quan trọng của nhà nước là bảo đảm cạnh tranh, chống độc quyền và cạnh tranh không lành mạnh.

3. Một số đề xuất đóng góp cho sửa đổi quy định về vai trò kinh tế của Nhà nước và chế độ kinh tế trong Hiến pháp 1992

Nhìn chung, chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng, chương Chế độ kinh tế, theo thiết kế hiện nay của Hiến pháp 1992, với tư cách là một cam kết và bảo đảm của chính quyền về đời sống kinh tế, ví dụ cam kết bảo đảm kinh tế thị trường và vai trò điều tiết của nhà nước là một nội dung quan trọng của Hiến pháp, cần được duy trì. Việc thể hiện thành một chương riêng hay lồng ghép vào các tuyên bố khác chỉ là vấn đề kỹ thuật13.

Trên cơ sở khảo sát sơ bộ lý thuyết về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường,có tính đến nét đặc thù của Việt Nam và tìm hiểu khái quát kinh nghiệm của quy định về vai trò kinh tế của Nhà nước và chế độ kinh tế trong Hiến pháp Liên bang Nga và Trung Quốc, chúng tôi có một số đề xuất đóng góp cho sửa đổi Hiến pháp 1992 như sau:

Thứ nhất, về mặt kỹ thuật lập pháp và nộ dung, để đảm bảo tính ổn định, lâu dài của Hiến pháp- luật cơ bản của nhà nước, quy định về chế độ kinh tế và vai trò của nhà nước nên mang tính khái quát, khẳng định các cơ sở, nguyên tắc cơ bản.

Thứ hai, trong quy định về chế độ kinh tế cần xác lập rõ địa vị pháp lý của các hình thức sở hữu ở Việt Nam. Quy định này có thể sửa đổi theo hướng làm rõ, soi sáng cho các quy định liên quan các hình thức sở hữu của hệ thống pháp luật hiện hành14, đưa ra những thay đổi cơ bản,định hướng cho việc sửa đổi pháp luật, đặc biệt là Bộ luật Dân sự với phần liên quan đến các hình thức sở hữu, với việc từ bỏ tư duy cát cứ chia nền kinh tế thành 06 thành phần khác nhau (sửa Điều 16 Hiến pháp 1992).

Thứ ba, trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp1992có thể bổ sung quy định làm rõ cam kết của nhà nước trong bảo đảm quyền sở hữu tài sản tư nhân hợp pháp, tiếp cận dưới góc độ nghĩa vụ của nhà nước chứ không phải dưới góc độ quyền của công dân như quy định tại Điều 58 Hiến pháp 199215. Không chỉ cam kết không quốc hữu hóa như quy định tại Điều 23, Nhà nước phải cam kết bảo hộ một cách hiệu quả sở hữu tư nhân, thực hiện chế độ đăng ký vật quyền thống nhất, tiện lợi và hiệu quả16.

Thứ tư, trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp1992có thể bổ sung quy định về cam kết của nhà nước trong khuyến khích, giúp đỡ phát triển khu vực kinh tế tư nhân; cam kết bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khu vực kinh tế tư nhân gắn với việc từ bỏ quy định về vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước; đồng thời, có thể bổ sung quy định nhấn mạnh về nghĩa vụ của nhà nước trong bảo đảm sự bình đẳng của các thành phần kinh tế. Trên tinh thần này, Điều 22 Hiến pháp 1992 có thể sửa như sau:

"Nhà nước cam kết bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật của các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế, vốn và tài sản hợp pháp được Nhà nước bảo hộ.

Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước và được liên doanh, liên kết với cá nhân, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật”.

 

Thứ năm, bên cạnh cam kết tôn trọng tự do sở hữu, tự do kinh doanh,tự do cạnh tranh (sửa Điều 15 Hiến pháp 1992),trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 có thể bổ sung quy định về cam kết của Nhà nước trong bảo vệ cạnh tranh, chống độc quyền và cạnh tranh không lành mạnh. Đây là một nội dung quan trọng thể hiện vai trò của Nhà nước trong kinh tế thị trường mà Hiến pháp từ trước đến nay chưa đề cập.
-----------------------------------------------------------

 

1Viện Từ điển bách khoa, Từ điển bách khoa toàn thưViệt Nam Online,http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov. vn/default.aspx?param=13DFaWQ9MzE2MDYmZ3Jvd XBpZD04JmtpbmQ9JmtleXdvcmQ9&page=2.

2 Vấn đề vai trò kinh tế của nhà nước hiện tại chưađược phân tích một cách toàn diện có thể do: (i)Tính phức tạp của bản thân việc phân tích này, vì nó phải dựavào những tri thức mangtính hệ thống, đa dạngvề thựctếkinh tế và chính trị;(ii) Ngườita thườngbằng lòng với sự phân chia các chức năng cổ điển giữa nhà nước và thị trường.Chỉ đến gần đây, vấn đề tối ưu hoá cách thức tham gia của nhà nước vào nền kinh tế mới được đặt ra; và (iii)Nghiên cứu về vai trònhà nước trongnền kinh tế đòi hỏi phải có sự đánh giá chuẩn xác về mặt định tính vàđịnh lượng.

3Xem: Morozova L.A., Vai trò của nhà nước Nga trongthời kỳ hiện đại, Tạpchí Nhànước và pháp luật, Moscow, Số 6, 1993, tr. 98 (Tiếng Nga).

4Trích theo: TalapinaE.V., Những vấn đề của pháp luậtđiềuchỉnh vai trò kinh tế của nhà nước, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Moscow, Số 11, 1999, tr. 74 (Tiếng Nga).

5 Xem: Trần Ngọc Đường, Đổi mới tư duypháp lý về kinh tế và quyền con người, quyền công dân trong xây dựng pháp luật ở nước ta hômnay, Báo Người đại biểu nhân dân Online, 07:47 | 09/09/2011http://daibieunhandan.vn/ONA_BDT/NewsPrint. aspx?newsId=222793

6 Xem: Phạm Ngọc Quang, Vai trò của Nhà nước trongnền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Cộng sản, Số 8 (176), 2009.

7 Xem: Lê Hồng Hạnh, Bàn thêm về hoàn thiện pháp luật kinh tế ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Số 4/2003, tr.33.

8 Xem: Trần Ngọc Đường, Bàn về mô hình Hiến pháp, http://www.lamdong.gov.vn/vi-VN/a/suahienphap1992/ thamkhao/Pages/Ban-ve-mo-hinh-hien-phap.aspx.

9Xem: Bùi Ngọc Sơn, Sửa đổi hiến pháp và những tín hiệu tích cực, http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-10-04-sua-doi-hien-phap-va-nhung-tin-hieu-tich-cuc.

10 Xem: Trần Ngọc Đường, Bàn về mô hìnhHiến pháp, đã dẫn.

11Xem: http://law.uglc.ru/constitution.htm

12 Nguồn: Tổng hợp từ Internet.

13 Phạm Duy Nghĩa, Chế độ kinh tế trong Hiến pháp1992 – Phát hiện một số bất cập và kiến nghị hướng sửa đổi, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 22 (207), Tháng11/2011, tr.58.

14 Hiện tại Điều 172 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:"Trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể,sởhữu tư nhân, các hình thức sở hữu bao gồm sở hữunhànước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu chung,sởhữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp,tổ chức xãhội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp”.

15"Công dân có quyềnsở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất được Nhà nước giao sử dụng thìtheo quy định tại Ðiều 17 và Ðiều 18. Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”.

16 Xem thêm: Phạm Duy Nghĩa, Tlđd, tr. 60.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi