Thẩm quyền của Chủ tịch nước cần được quy định thống nhất trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp

Nguyên thủ quốc gia - Chủ tịch nước là một thiết chế quan trọng trong tất cả các bản Hiến pháp của Việt Nam. Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước, thay mặt cho nhà nước về đối nội và đối ngoại. Ở nước ta, không một chức vụ nào có thể thay mặt nhà nước về đối nội và đối ngoại như Chủ tịch nước. Nhân dịp toàn dân thảo luận Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, (Dự thảo Hiến pháp) chúng tôi xin góp bàn một số ý kiến về thẩm quyền của Chủ tịch nước trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Trước khi có Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, chúng tôi đã có dịp bàn về những bất cập trong quy định pháp luật hiện hành xoay quanh chế định Chủ tịch nước[1]. Do đó, bài viết chỉ bàn thêm, ngắn gọn về sự thống nhất trong thẩm quyền của Chủ tịch nước.

1. Những quy định thiếu nhất quán, không rõ ràng về thẩm quyền Chủ tịch nước trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992

1.1. Dự thảo chưa xác định rõ hiệu lực pháp lý cao thấp giữa văn bản của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và văn bản của Chủ tịch nước

Dưới góc độ pháp lý, văn bản pháp luật là biểu hiện thẩm quyền của một cơ quan nhà nước. PGS,TS. Nguyễn Cửu Việt có lý khi cho rằng: quan hệ văn bản pháp luật giữa các cơ quan, tổ chức chính là tấm gương phản ánh vị trí, vai trò cơ quan, tổ chức trong thang bậc của bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị[2]. Với tư duy ấy thì mối quan hệ trên phương diện văn bản pháp luật phản ánh thứ bậc và mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào thang bậc pháp lý của các văn bản pháp luật được quy định trong Dự thảo Hiến pháp, chúng ta khó có thể xác định được hiệu lực pháp lý cao, thấp giữa văn bản của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và văn bản của Chủ tịch nước (CTN). 

Khoản 1 Điều 101 Dự thảo Hiến pháp quy định: "Chính phủ có nhiệm vụ tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH, lệnh, quyết định của CTN”. Nếu căn cứ vào vị trí sắp xếp trong Dự thảo Hiến pháp thì có thể cho rằng, trong các văn bản pháp luật, văn bản do Quốc hội ban hành có giá trị pháp lý cao hơn văn bản do UBTVQH ban hành. Tương tự, giữa văn bản của UBTVQH và văn bản của CTN thì văn bản của UBTVQH có giá trị pháp lý cao hơn. Tuy nhiên, cũng chính trong Dự thảo Hiến pháp lại tồn tại quy định thiếu nhất quán về vấn đề này. Cụ thể, Khoản 10 Điều 75 Dự thảo Hiến pháp khi ghi nhận về thẩm quyền của Quốc hội lại xếp văn bản của CTN trước văn bản của UBTVQH[3]. Với sự thiếu nhất quán như vậy, khó có thể đưa ra kết luận chắc chắn rằng văn bản của UBTVQH luôn có giá trị pháp lý cao hơn văn bản của CTN trong thang bậc các văn bản pháp luật.

Bên cạnh đó, Dự thảo Hiến pháp cũng giữ nguyên quy định về việc CTN có quyền "phủ quyết mềm” đối với pháp lệnh[4]. Để thực hiện quyền này, CTN phải ban hành văn bản "phủ quyết” đối với pháp lệnh của UBTVQH. Khi mà văn bản của cơ quan được xếp ở thứ bậc thấp hơn thì thật khó để thực hiện quyền "phủ quyết” - đề nghị xem xét lại văn bản của một cơ quan mà về mặt pháp lý lại được xếp ở thứ bậc cao hơn[5].

1.2. Dự thảo chưa định rõ chủ thể phải công bố nghị quyết của Quốc hội và nghị quyết của UBTVQH

Theo Khoản 2 Điều 90 Dự thảo Hiến pháp, thì "Luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH phải được công bố chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày được thông qua”. Trong khi đó, Khoản 1 Điều 93 Dự thảo Hiến pháp quy định "CTN có nhiệm vụ, quyền hạn công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh”. Xét dưới góc độ logic pháp lý thì Điều 90 và 93 đã có những điểm không nhất quán nhau. Theo Điều 90 Dự thảo Hiến pháp, nghị quyết của Quốc hội và nghị quyết của UBTVQH phải được công bố nhưng ai công bố thì Hiến pháp lại bỏ ngỏ vì thẩm quyền của CTN trong Điều 93 không quy định vấn đề này. Tất nhiên, trong các nghị quyết do Quốc hội và UBTVQH ban hành có những nghị quyết mang tính quy phạm, nhưng cũng có những nghị quyết không mang tính quy phạm. Những nghị quyết mang tính quy phạm do Quốc hội và UBTVQH ban hành phải được công bố theo đúng quy trình. Nếu Dự thảo Hiến pháp không quy định vấn đề này thì đây là một sự thiếu sót lớn.

Bên cạnh đó, sự không thống nhất cũng thể hiện khi Điều 93 Dự thảo Hiến pháp có nêu "CTN công bố Hiến pháp” nhưng thời gian chậm nhất phải công bố là bao nhiêu ngày kể từ ngày được thông qua, Dự thảo Hiến pháp không đề cập đến.

1.3. Dự thảo chưa "mạnh dạn” trao quyền chủ tọa các phiên họp của Chính phủ cho CTN

Trong quá trình xây dựng Dự thảo Hiến pháp để lấy ý kiến của nhân dân, nhiều đại biểu Quốc hội đã ủng hộ việc tăng quyền hạn của CTN - nguyên thủ quốc gia[6]. Theo quy định của pháp luật hiện hành, CTN chỉ đứng đầu Nhà nước mà không phải là thành viên của Chính phủ nên quyền lực của CTN trong lĩnh vực hành pháp còn khá khiêm tốn. CTN có quyền tham dự các phiên họp của Chính phủ nhưng không có quyền biểu quyết. Quy định như thế khác nào CTN chỉ họp "dự thính” mà không hề có thực quyền. Kinh nghiệm cho thấy, một khi CTN muốn có thực quyền thì CTN phải có nhiều quyền hành pháp và đặc biệt, phải chỉ đạo, điều hành được hoạt động của Chính phủ - cơ quan hành chính cao nhất của nước ta. Tuy nhiên, theo Dự thảo Hiến pháp thì việc tăng quyền hạn của CTN không được thể hiện rõ ràng. Cụ thể, Điều 95 Dự thảo Hiến pháp quy định: "CTN có quyền tham dự các phiên họp Chính phủ”. Đây là quy định không mới vì chỉ là sự kế thừa Điều 105 Hiến pháp hiện hành. Điểm mới duy nhất là trong Dự thảo có nêu: "Khi cần thiết, CTN yêu cầu Chính phủ họp bàn về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của CTN”. Tuy nhiên, đây là một quy định tùy nghi bởi vì việc xác định trường hợp nào "cần thiết” hay không là rất khó khăn và phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí chủ quan của CTN. Bên cạnh đó, Dự thảo Hiến pháp cũng chưa có những quy định nhằm đảm bảo cho CTN thực hiện quyền "yêu cầu” này trên thực tế. Khi xem xét nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được ghi nhận trong Dự thảo Hiến pháp thì không có bất kỳ điều khoản nào "ràng buộc” Chính phủ phải có trách nhiệm họp bàn về những vấn đề mà CTN yêu cầu[7]. Với cách quy định "nửa vời” này, có thể thấy, CTN có quyền yêu cầu nhưng Chính phủ có họp bàn hay không lại phụ thuộc vào sự tích cực và trách nhiệm của những thành viên Chính phủ chứ không có bất cứ một bảo đảm pháp lý cụ thể nào.

1.4. Dự thảo chưa ghi nhận quyền của CTN trong việc đình chỉ, bãi bỏ các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ

Hiện nay, Hiến pháp đã quy định khá rõ về sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, song Hiến pháp hiện hành vẫn chưa chính thức đặt vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước, thiếu các cơ chế kiểm soát dựa trên chế độ trách nhiệm đối với các cơ quan nhà nước. Do đó, Dự thảo Hiến pháp đã có sửa đổi rất quan trọng theo hướng tăng cường sự kiểm soát và Điều 2 quy định rất cụ thể "Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Quy định này cũng đáp ứng được những yêu cầu được nêu trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI: "Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”[8]. 

Xét dưới góc độ văn bản, quyền đình chỉ, bãi bỏ chính là biểu hiện cụ thể của sự kiểm soát. Cụ thể, nếu văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trái với các VBQPPL của Quốc hội thì sẽ bị Quốc hội bãi bỏ (Khoản 10, Điều 75 Dự thảo Hiến pháp); nếu trái với VBQPPL của UBTVQH thì cũng bị UBTVQH bãi bỏ (Khoản 4, Điều 79 Dự thảo Hiến pháp). Tuy nhiên, nếu VBQPPL của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ trái với VBQPPL của CTN thì CTN lại không có quyền đình chỉ hay bãi bỏ các văn bản này. CTN không có quyền, vậy ai có quyền? Vấn đề một lần nữa không được đề cập trong Dự thảo Hiến pháp. Được biết trong quá trình soạn thảo Dự thảo Hiến pháp nó đã được đặt ra[9] và thực tế, Dự thảo ngày 18/10/2012 cũng có quy định về quyền của CTN bãi bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên Chính phủ trái với lệnh, quyết định của CTN[10]. Tuy nhiên, không hiểu vì lý do gì mà trong Dự thảo Hiến pháp chính thức lại không có quy định tiến bộ này.

1.5. CTN có "thực quyền” thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân?

Khoản 5 Điều 93 Dự thảo Hiến pháp quy định: "CTN thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân - LLVTND”. Tuy nhiên, theo Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam thì "Đảng lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt”. Điều đó có nghĩa Quân ủy Trung ương mới là cơ quan chỉ huy tối cao các lực lượng vũ trang. Cũng theo Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam thì Tổng bí thư là Bí thư Quân ủy trung ương, trong khi CTN thường chỉ là một Ủy viên Thường vụ trong Quân ủy Trung ương[11]. Như vậy, nội hàm của CTN thống lĩnh các LLVTND thể hiện ở góc độ nào? Với những phân tích trên thì thật "khiên cưỡng” khi cho rằng, CTN thống lĩnh các LLVTND vì trên thực tế quyền thống lĩnh các lực lượng vũ trang là do Tổng bí thư nắm giữ. Đó là chưa kể đến việc quyền này còn bị "chia sẻ” một phần lớn bởi Thủ tướng Chính phủ. Điều 12 Luật Quốc phòng năm 2005 quy định: "LLVTND gồm Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và Dân quân tự vệ”. Còn theo Điều 16 Luật Quốc phòng năm 2005 thì Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là người chỉ huy cao nhất trong Quân đội nhân dân và Dân quân tự vệ. Theo Điều 19 Luật Công an nhân dân năm 2005 thì Bộ trưởng Công an là người chỉ huy cao nhất trong lực lượng Công an nhân dân. Trong khi đó, Khoản 1 Điều 103 Dự thảo Hiến pháp quy định: "Thủ tướng Chính phủ định hướng, điều hành hoạt động của Chính phủ”. Định hướng, điều hành hoạt động của Chính phủ ở đây đương nhiên trước hết phải là đối với các thành viên Chính phủ, trong đó có Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Công an. Như vậy, Thủ tướng Chính phủ định hướng, điều hành hoạt động của cả Bộ trưởng Bộ Quốc phòng lẫn Bộ trưởng Bộ Công an - tức lãnh đạo cả LLVTND. Điều này cho thấy, ở nước ta hiện nay, việc thống lĩnh các lực lượng vũ trang được "phân chia” cho ba chủ thể khác nhau, đó là Tổng bí thư, CTN và Thủ tướng Chính phủ. Thực tế này dẫn đến không có sự phân biệt rõ ràng ai là chủ thể có "thực quyền” thống lĩnh các LLVTND.

Theo báo cáo tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992 ngày 01/10/2012 của Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp thì chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng Quốc phòng và An ninh chưa được xác định rõ. Do đó, Dự thảo Hiến pháp có nhiều sửa đổi liên quan đến vấn đề này. Tuy nhiên, một số quy định vẫn chưa có sự cụ thể, rõ ràng. Theo Dự thảo Hiến pháp thì CTN giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh, ngoài ra còn có các Phó Chủ tịch và các Ủy viên. Hội đồng Quốc phòng và An ninh làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số (Khoản 1, Điều 94 Dự thảo Hiến pháp). Câu hỏi đặt ra là nếu số lượng thành viên Hội đồng Quốc phòng và An ninh là một con số chẵn thì việc quyết định sẽ thực hiện như thế nào[12]. Kéo theo đó là kết quả cuối cùng sẽ ra sao "nếu hai bên biểu quyết ngang nhau”. Dự thảo Hiến pháp không có quy định nào để có thể viện dẫn giải quyết trường hợp này.

1.6. CTN quyết định phong hàm, cấp sĩ quan cấp tướng trong các LLVTND

Theo Khoản 9 Điều 103 Hiến pháp hiện hành, thì "CTN quyết định phong hàm, cấp sĩ quan cấp cao trong các LLVTND”. Tuy nhiên, hàm, cấp sĩ quan cấp cao trong các LLVTND là những hàm, cấp nào, Hiến pháp không có quy định. Điều này chỉ có thể được làm rõ thông qua Luật Sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2008) và Luật Công an nhân dân năm 2005. Theo đó, Điều 25 Luật Sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam quy định: "CTN phong, thăng quân hàm Đại tướng, Thượng tướng; Thủ tướng Chính phủ phong, thăng quân hàm Trung tướng, Thiếu tướng”. Nội dung tương tự cũng được ghi nhận tại Điều 25 Luật Công an nhân dân năm 2005. Trong Dự thảo Hiến pháp lần này ghi nhận: "CTN quyết định phong hàm, cấp sĩ quan cấp tướng trong các LLVTND” (Khoản 5, Điều 93). Cách quy định không rõ nêu trên có thể dẫn đến trường hợp các đạo luật cụ thể lại "giới hạn” quyền của CTN được nêu trong Hiến pháp.

1.7. Thẩm quyền hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam của CTN

Khoản 4 Điều 93 Dự thảo Hiến pháp quy định: "CTN quyết định cho nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch hoặc tước quốc tịch Việt Nam”. So với Hiến pháp hiện hành, Dự thảo Hiến pháp đã bổ sung thêm việc quyết định cho "trở lại quốc tịch” của CTN. Quy định theo cách liệt kê như Dự thảo Hiến pháp thực chất chỉ là sự "nhắc lại” các quyền của CTN đối với vấn đề quốc tịch được ghi nhận tại Luật Quốc tịch năm 2008. Tuy nhiên, sự liệt kê này lại không đầy đủ vì Dự thảo Hiến pháp đã "quên mất” thẩm quyền của CTN trong việc hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam được quy định trong Khoản 1 Điều 38 Luật Quốc tịch năm 2008.

2. Một vài kiến nghị nhằm đảm bảo sự thống nhất trong thẩm quyền của Chủ tịch nước

Chúng tôi có một số ý kiến về việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp nhằm đảm bảo sự thống nhất trong thẩm quyền của CTN, như sau:

Trước hết, về mặt kỹ thuật lập hiến, cần bổ sung, quy định rõ ràng những vấn đề xoay quanh nhiệm vụ, quyền hạn của CTN được ghi nhận trong Dự thảo Hiến pháp. Cụ thể, Khoản 1 Điều 93 Dự thảo Hiến pháp phải sửa lại theo hướng: "CTN công bố Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; Pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH”. Và Khoản 4 Điều 93 Dự thảo Hiến pháp cần bổ sung thêm như sau: "CTN quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, thôi quốc tịch Việt Nam, cho trở lại quốc tịch Việt Nam, tước quốc tịch Việt Nam, hủy bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam”. Khoản 5 Điều 93 Dự thảo Hiến pháp cần quy định rõ ràng theo hướng: "CTN quyết định phong hàm, cấp sĩ quan từ cấp hàm Thiếu tướng trở lên trong các LLVTND”.

Liên quan đến việc công bố Hiến pháp, theo chúng tôi, Dự thảo Hiến pháp cần quy định cụ thể thời hạn chậm nhất CTN phải công bố kể từ ngày Hiến pháp được thông qua. Có thể lý luận rằng, Hiến pháp là đạo luật gốc, có giá trị lâu bền nên sau khi được thông qua toàn văn vẫn cần nhiều thời gian hoàn thiện về mặt kỹ thuật, xem xét kỹ lưỡng trước khi có văn bản chính thức cuối cùng để CTN ký công bố. Tuy nhiên, cho dù vì bất cứ lý do nào cũng phải "giới hạn” về thời hạn cuối cùng của việc công bố. Nếu nhận thấy quy định thời hạn chung "15 ngày” là không hợp lý thì Dự thảo Hiến pháp có thể nâng thời gian lên thành 30, thậm chí 45 ngày, chứ không được bỏ ngỏ. Hiến pháp không chỉ quy định về tổ chức và thực hiện toàn bộ quyền lực nhà nước mà còn phải là văn bản giới hạn quyền lực nhà nước để tránh sự tùy nghi, lạm quyền. Việc không quy định về thời gian chậm nhất phải công bố kể từ ngày được thông qua sẽ dẫn đến cách hành xử tùy nghi của CTN. Và đây là điều hoàn toàn không được hoan nghênh trong một nhà nước pháp quyền, dân chủ.

Thứ hai, đối với các quyền liên quan đến văn bản của CTN, Dự thảo Hiến pháp cần tiếp tục quy định lệnh, quyết định do CTN ban hành là VBQPPL vì đây là những "văn bản chở luật, pháp lệnh vào cuộc sống”. Do đó, tất nhiên, nó cũng phải là VBQPPL. Bên cạnh đó, để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống VBQPPL, Hiến pháp mới cần "mạnh dạn” quy định hiệu lực pháp lý cao, thấp giữa văn bản của UBTVQH và văn bản của CTN, đồng thời trao cho CTN quyền đình chỉ và bãi bỏ các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nếu các văn bản này trái với lệnh, quyết định của CTN.

Nhằm thể chế hóa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống thì cơ chế kiểm soát quyền lực cần phải được thực hiện một cách rõ ràng, rành mạch trên thực tế[13]. Do đó, Hiến pháp cần quy định cho CTN quyền yêu cầu Quốc hội xem xét lại một dự luật mà Quốc hội đã thông qua chứ không chỉ dừng ở quyền yêu cầu UBTVQH xem xét lại pháp lệnh như Hiến pháp hiện hành. Trong thời gian qua, nhiều đạo luật do Quốc hội ban hành vẫn có dấu hiệu vi phạm Hiến pháp[14]. Ngay như Quốc hội Mỹ, quy trình ban hành một đạo luật rất chặt chẽ (một dự luật muốn được thông qua phải được đa số tán thành của Hạ viện trước, rồi sau đó là đa số Thượng viện tán thành (hoặc ngược lại), tiếp theo còn phải được Tổng thống kiểm tra, xem xét lại xem có cần phủ quyết hay không, nếu không phủ quyết, dự luật mới được Tổng thống ban bố để thi hành). Vậy mà, trong khoảng 190 năm qua, Tòa án tối cao của Mỹ đã ra phán quyết tuyên bố 122 đạo luật của Quốc hội Mỹ (trong tổng số hơn 35.000 đạo luật được Quốc hội này ban hành trong thời gian nói trên) có toàn bộ hoặc một phần nội dung quy định vi phạm Hiến pháp Mỹ. Cũng trong thời gian nói trên, có gần 950 đạo luật của Quốc hội các bang bị Tòa án tối cao Mỹ tuyên bố vi phạm Hiến pháp của Liên bang[15]. Thậm chí như ở Úc - quốc gia theo chế độ quân chủ lập hiến, "nguyên thủ quốc gia trị vì chứ không cai trị” thì quyền đồng thuận của nữ hoàng đối với các dự án luật vẫn giữ vai trò tiên quyết[16]. Thiết nghĩ, quy định CTN có quyền yêu cầu Quốc hội xem xét lại một dự luật mà Quốc hội đã thông qua là vô cùng cần thiết, góp phần quan trọng cho sự ra đời của những đạo luật hợp pháp và hợp lý.

Thứ ba, Hiến pháp sửa đổi phải tạo cơ sở pháp lý cho CTN nắm nhiều quyền hành pháp. Cụ thể: CTN có quyền "chủ tọa các phiên họp của Chính phủ khi thấy cần thiết” chứ không dừng ở việc chỉ tham dự các phiên họp của Chính phủ hay yêu cầu Chính phủ họp bàn về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của CTN như Dự thảo Hiến pháp quy định. Logic pháp lý thông thường cho ta thấy rằng, một khi CTN chủ tọa các phiên họp của Chính phủ thì mới là cơ chế hữu hiệu nhất nhằm "ràng buộc” Chính phủ thảo luận, họp bàn về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của CTN.

Thứ tư, Hiến pháp sửa đổi nên quy định về sự kết hợp giữa chức vụ CTN và chức vụ Tổng bí thư. Việc kết hợp này đã được thực hiện ở nhiều nước như Trung Quốc, Lào. Điều đó khá phù hợp với điều kiện Đảng cầm quyền như ở nước ta hiện nay. Tất nhiên, Tổng bí thư sẽ do Đảng giới thiệu ra ứng cử chức vụ CTN và đưa ra Quốc hội bầu. Có như vậy, CTN vừa là trung tâm đoàn kết của dân tộc, vừa là trung tâm chính trị, có những quyền mang tính nghi thức nhưng bên cạnh đó cũng rất thực quyền và thực sự là người thống lĩnh các LLVTND. Ngoài ra, Điều 4 Dự thảo Hiến pháp có một bổ sung mới là: "Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”. Việc Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân không thể chỉ bằng những lời nói suông mà phải có cơ chế chuyển tải trên thực tế. Điều này chỉ có thể có được dựa trên sự "nhất thể hóa” chức vụ CTN và chức vụ Tổng bí thư. CTN là người đứng đầu Nhà nước, lại là một đại biểu Quốc hội, nên cơ chế chịu trách nhiệm trước nhân dân sẽ thể hiện rõ ràng, cụ thể hơn.

Cuối cùng, Hiến pháp sửa đổi cần quy định cụ thể, rõ ràng về vấn đề "biểu quyết ngang nhau” giữa các thành viên của Hội đồng Quốc phòng và An ninh. Theo chúng tôi, trong trường hợp này có thể ghi nhận: "Trong trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo ý kiến mà Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh đã biểu quyết”. Quy định như vậy là hợp lý, một mặt vẫn đề cao hình thức hoạt động tập thể của Hội đồng Quốc phòng và An ninh, nhưng mặt khác cũng tăng cường vai trò cá nhân của CTN. Thiết nghĩ, đây là một sự bổ sung quan trọng nhằm làm rõ vai trò "thống lĩnh các LLVTND và giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh” của CTN.

Trên đây là vài ý kiến nhằm sửa đổi, bổ sung Hiến pháp về chế định CTN. Việc ban hành các quy định nhằm đảm bảo sự thống nhất trong thẩm quyền của CTN là một chủ đề rất lớn, do đó, cần phải được tiếp tục nghiên cứu, phân tích kỹ lưỡng, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống nhằm tạo khung pháp lý quan trọng để CTN có thể thực hiện đầy đủ chức năng của một nguyên thủ quốc gia, thay mặt Nhà nước về đối nội, đối ngoại và thống nhất các lực lượng vũ trang./.

 

 ----------------------------------------------------------

[1] Xem thêm: Cao Vũ Minh, Hiến pháp mới với vị trí, vai trò của nguyên thủ quốc gia - Chủ tịch nước, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 22, tháng 11/2011.

[2] Nguyễn Cửu Việt, Khái niệm VBQPPL (tiếp theo) và hệ thống VBQPPL, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 51, năm 2005.

[3] Khoản 10 Điều 75 Dự thảo Hiến pháp quy định "Quốc hội có quyền bãi bỏ VBQPPL của CTN, UBTVQH, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội”.

[4] Khoản 1, Điều 93 Dự thảo Hiến pháp.

[5] Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hiến pháp - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011, tr. 813.

[6] VnExpress.net, Đại biểu Quốc hội ủng hộ tăng quyền của CTN, xem: http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2012/11/dai-bieu-quoc-hoi-ung-ho-tang-quyen-cua-chu-tich-nuoc/

[7]Xem Điều 101 và 103 Dự thảo Hiến pháp.

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 85.

[9] Xem thêm: Tờ trình số 194/TTr-UBDTSĐHP ngày 19/10/2012 của Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, tr. 6.

[10] Khoản 2, Điều 94 Dự thảo Hiến pháp ngày 18/10/2012 quy định: "CTN bãi bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên Chính phủ trái với lệnh, quyết định của CTN”.

[11] Hiện nay, ông Nguyễn Phú Trọng (Tổng bí thư) là Bí thư Quân ủy trung ương, trong khi ông Trương Tấn Sang (CTN) và ông Nguyễn Tấn Dũng (Thủ tướng Chính phủ) là Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương.

[12] Hiện nay, Hội đồng Quốc phòng và An ninh gồm 06 thành viên:

1. Chủ tịch Hội đồng: CTN Trương Tấn Sang.

2. Phó Chủ tịch Hội đồng: Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng.

3. Ủy viên Hội đồng: Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng.

4. Ủy viên Hội đồng: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh.

5. Ủy viên Hội đồng: Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang.

6. Ủy viên Hội đồng: Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh.

 

[13] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG. Hà Nội, 2011, tr.247.

[14] Điều 59 Hiến pháp hiện hành quy định: "Học tiểu học là bắt buộc và không phải trả học phí”. Tuy nhiên, Điều 16 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 lại giới hạn phạm vi là trẻ em học tại các cơ sở giáo dục công lập không phải trả học phí, còn ngoài công lập thì vẫn phải trả học phí. Rõ ràng, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 đã có dấu hiệu vi phạm Hiến pháp.

[15] Dẫn theo PGS,TS. Trương Đắc Linh, Bàn về tài pháp Hiến pháp và thẩm quyền của cơ quan tài phán Hiến pháp ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý số 6, năm 2007. 

[16] Xem thêm Điều 58, 59, 60 Hiến pháp Liên bang Úc.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi