Những điểm còn bỏ ngỏ của Dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992

Bước vào giai đoạn xây dựng nền kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền, hội nhập và toàn cầu hóa, nhiều thể chế pháp luật ở Việt Nam đã không còn phù hợp, thậm chí quá lạc hậu, không những không đóng vai trò hiệu quả trong việc ổn định và phát triển xã hội, mà còn gây ra nhiều hệ lụy trong xã hội như tình trạng tham nhũng, vi phạm các quyền dân chủ và bất nhất trong việc thực thi pháp luật ở nhiều mức độ khác nhau[1]. Xây dựng nền kinh tế thị trường phải dựa trên nền tảng pháp quyền nhằm chống lại tình trạng lạm dụng, tha hóa quyền lực, cửa quyền, lợi ích nhóm trong các cơ quan nhà nước và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Pháp quyền là giới hạn và kiểm soát quyền lực nhà nước trong khuôn khổ pháp luật. Hơn nữa, toàn cầu hóa và hội nhập buộc chúng ta phải thay đổi để phù hợp với các chuẩn mực phổ quát chung của thế giới trên cả phương diện kinh tế lẫn chính trị[2]. Việc sửa đổi Hiến pháp 1992 được đặt trong bối cảnh như vậy, và do đó, nhân dân và toàn xã hội mong đợi đây sẽ là lầnsửa đổi to lớn, góp phần giải quyết các vấn đề chính trị, kinh tế và xã hội đang đặt ra. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cũng đã nêu rõ chủ trương "Khẩn trương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) phù hợp với tình hình mới”[3].

Tuy nhiên, quá trình thực hiện chủ trương sửa đổi Hiến pháp sau đó lại cho thấy quan điểm sửa đổi"không cơ bản” của nhiều cơ quan nhà nước có thẩm quyền: "tiếp tục kế thừa những quy định của Hiến pháp năm 1992 và của các bản Hiến pháp trước đây còn phù hợp; sửa đổi, bổ sung những vấn đề thực sự cần thiết, phù hợp với tình hình mới”[4]. Mặc dù vậy, trong quá trình tổng kết thi hành Hiến pháp, các báo cáo của các cơ quan nhà nước, cơ sở nghiên cứu tiếp tục chỉ ra nhiều bất cập của các quy phạm Hiến pháp hiện hành và đề xuất không ít các giải pháp lớn, quan trọng nhằm cải cách bản Hiến pháp của chúng ta. Xã hội và người dân tiếp tục hy vọng.

Vậy, đâu là những điểm mới của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 (Dự thảo Hiến pháp)? Những sửa đổi trong Dự thảo là những sửa đổi lớn hay không cơ bản? Những thay đổi này có đáp ứng được mong đợi của người dân?

Là hai nội dung cốt lõi của bất kỳ Hiến pháp nào, vấn đề bảo vệ quyền con người, quyền công dân và tổ chức quyền lực nhà nước được coi là trọng tâm của việc sửa đổi Hiến pháp lần này.

1. Bảo vệ quyền con người, quyền công dân

Trước tiên, cần phải khẳng định Dự thảo Hiến pháp đã có những tiến bộ khá lớn trong việc bổ sung, hoàn thiện các quyền con người, quyền công dântheo xu hướng tiến bộ chung của Hiến pháp các nước cũng như pháp luật quốc tế[5]. Sự bổ sung cụm từ "quyền con người” vào tên Chương[6]cùng những thay đổi của các quy định cụ thể theo hướng bổ sung, hoàn thiện các quyền con người là những thay đổi rất quan trọng trong Dự thảo Hiến pháp sửa đổi.

Bên cạnh những tiến bộ, Dự thảo vẫn có nhiều bất cấp trong việc ghi nhận và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân. Mặc dù đã bị lược bỏ nhiều, cách quy định đặt các quyền hiến định "…theo quy định của pháp luật” vẫn lặp lại trong Dự thảo:Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tìnhtheo quy định của pháp luật(Điều 26 - sửa đổi, bổ sung Điều 69);Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dựtheo quy định của pháp luật(Khoản 2Điều 31 - sửa đổi, bổ sung Điều 74).

Theo nội dung của các điều khoản này, các quyền con người, quyền công dân được liệt kê có thể bị giới hạn "theo quy định của pháp luật”. Việc giới hạn các quyền trong khuôn khổ pháp luật là một nền tảng của xã hội pháp quyền, trong đó các quyền tự do của một người chỉ có thể được bảo đảm khi các quyền đó không xâm phạm đến các quyền của người khác, lợi ích và đạo đức chung của xã hội. Với lý do như vậy, Dự thảo Hiến pháp dường như có lý khi vẫn giữ quy định giới hạn các quyền hiến định trong khuôn khổ "pháp luật”. Nhưng thực chất, những nhận thức này có đúng đắn và đầy đủ hay chưa?

Trước hết, cần phải khẳng định rằng các quyền hiến định không phải là các quyền tuyệt đối, mà có thể bị giới hạn trong khuôn khổ tôn trọng các quyền của người khác, lợi ích cộng đồng hoặc các giá trị đạo đức xã hội (Điều 16, 17 Dự thảo). Tuy nhiên, để tránh sự lạm dụng, tùy tiện của các cơ quan nhà nước, việc giới hạn các quyền hiến định phải dựa trên những điều kiện rất cụ thể nhằm mục đích phòng, chống sự tùy tiện, lạm dụng của các cơ quan nhà nước trong việc giới hạn các quyền được ghi nhận trong Hiến pháp.

Trước hết, việc giới hạn này phải được thực hiện theo một quy trình dân chủ. Để đảm bảo điều kiện này, Hiến pháp các nước thường chỉ trao cho Nghị viện - Cơ quan dân cử thẩm quyền giới hạn các quyền hiến định bằng việc ban hành một đạo luật. Tuy nhiên, với cách quy định như hiện hành trong Dự thảo, không chỉ Quốc hội, mà các cơ quan nhà nước khác cũng có thể ban hành các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) để hạn chế các quyền hiến định của người dân, bởi vì khái niệm "pháp luật” trong Dự thảo được hiểu rất rộng, không chỉ là luật của Quốc hội, mà còn bao gồm các VBQPPL của các cơ quan nhà nước khác. Quy định trao quyền cho các cơ quan nhà nước từ trung ương xuống địa phương có quyền giới hạn các quyền hiến định của người dân sẽ mở đường cho thực trạng phổ biến hiện nay là các quyền hiến định của người dân bị hạn chế một cách khá tùy tiện. Ví dụ như, công dân có quyền biểu tình, nhưng Chính phủ ban hành Nghị định 38/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 đặt ra nhiều hạn chế đối với quyền biểu tình của người dân thông qua quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng để giải tán các cuộc "tập trung đông người ở nơi công cộng” và quy định "thủ tục đăng ký” trao cho Ủy ban nhân dân (UBND) cấp có thẩm quyền "có trách nhiệm xem xét, giải quyết việc đăng ký tập trung đông người”. Sau đó, Bộ Công an ban hành Thông tư số 09/2005/TT-BCA ngày 5/9/2005 nhằm hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định, trong đó tiếp tục đặt ra nhiều hạn chế và quy trình khó khăn cho người dân khi thực hiện quyền biểu tình. Chính những hạn chế này đã khiến nhiều người đề xuất xây dựng Luật Biểu tình. Các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, khiếu nại và tố cáo có thể cũng bị hạn chế theo cách thức tương tự. Như vậy, các quyền hiến định thiêng liêng đã bị thu hẹp qua nhiều tầng nấc của các văn bản pháp luật.

Để tránh việc các cơ quan nhà nước, kể cả Nghị viện ban hành các văn bản pháp luật (hoặc có hành vi khác) hạn chế hoặc xâm phạm các quyền hiến định một cách tùy tiện, Hiến pháp các nước thường trao cho Tòa án Hiến pháp (Hoặc Hội đồng Hiến pháp/hoặc các tòa án tư pháp) thẩm quyền phán quyết các hành vi bất hợp hiến. Các thiết chế tài phán hiến pháp độc lập này thậm chí có thể xem xét tính bất hợp hiến các đạo luật của Nghị viện. Ví dụ, nếu Nghị viện ban hành luật biểu tình hạn chế một cách bất hợp hiến quyền biểu tình của người dân, thì đạo luật này có thể bị đưa ra cơ quan tài phán hiến pháp xem xét. Các văn bản pháp luật, quyết định, hành vi của các cơ quan nhà nước khác cũng có thể trở thành đối tượng xem xét tính hợp hiến của cơ quan tài phán hiến pháp.

Trong khi đó, một cơ quan tài phán hiến pháp độc lập không được thiết lập trong Dự thảo Hiến pháp, cho dù một cơ quan có tên gọi tương tự - Hội đồng Hiến pháp đã được quy định trong Dự thảo. Nhưng ngay cả khi có một cơ quan tài phán tương tự, thì cơ quan này cũng khó có thể thực hiện nhiệm vụ bảo vệ các quyền hiến định của người dân với cách ghi nhận của Hiến pháp các quyền "…theo quy định của pháp luật”. Nhiệm vụ của cơ quan bảo hiến là phán quyết về tính hợp hiến hay bất hợp hiến của các văn bản pháp luật, nhưng Hiến pháp lại quy định tự tước bỏ tính tối cao của Hiến pháp so với các văn bản pháp luật khác. Nói một cách khác, không thể phân biệt trật tự pháp luật giữa các quyền hiến định (quyền tối cao, do Hiến pháp ghi nhận) và các quyền luật định (do pháp luật quy định).

Xét ở phương diện thực thi Hiến pháp, việc đặt các quyền hiến định được đảm bảo "theo quy định của pháp luật” làm cho Hiến pháp trở nên hình thức, bởi vì các quyền hiến định không thể được thực thi nếu thiếu các văn bản pháp luật cụ thể hóa. Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin, hội họp, lập hội và biểu tình, nhưng các quyền này chưa thể được đảm bảo trên thực tiễn bởi vì chưa có luật quy định về các quyền này. Nếu Hiến pháp lược bỏ quy phạm "theo quy định của pháp luật”, thì các quyền hiến định phải được áp dụng một cách trực tiếp. Người dân có quyền khiếu nại hoặc khiếu kiện các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ các quyền hiến định thiêng liêng của mình.

Thực chất, sự lược bỏ cách quy định "theo quy định của pháp luật” ở rất nhiều điều khoản về các quyền con người, quyền công dân trong Dự thảo đã cho thấy sự nhận thức đúng đắn của Ủy ban Dự thảo về những hạn chế lớn của nó. Tuy nhiên, Dự thảo lại vẫn giữ cách quy định này khi đề cập về các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình, khiếu nại, tố cáo. Có thể các nhà soạn thảo Hiến pháp có chủ ý mong muốn trao cho các cơ quan công quyền có khả năng "kiểm soát” các quyền này nhiều hơn so với các quyền khác. Nếu như vậy, Hiến pháp sẽ tự từ bỏ vai trò bảo vệcác quyền chính trị - dân sự rất cơ bản của con người.

Ngoài một số ít quyền đặc thù chỉ dành cho công dân như quyền bầu cử, ứng cử, các quyền con người là những quyền của tất "mọi người”[7], không phân biệt quốc tịch. Vậy có phải chỉ có "Công dâncó quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình…”theo Điều 26 (sửa đổi, bổ sung Điều 69)? Ngoài ra,người dân khó có thể thực hiện quyền dân chủ trực tiếp khi Dự thảo Hiến pháp vẫn trao cho Quốc hội quyết định việc trưng cầu dân ý (Điều 30; Khoản 15, Điều 75). Trên thực tế, người dân Việt Nam chưa từng bao giờ tham gia quyết định trực tiếp trong bất kỳ cuộc trưng cầu dân ý nào. Mặc dù nhiều người đề nghị Dự thảo Hiến pháp phải được thông qua phúc quyết toàn dân nhằm đảm bảo chủ quyền cũng như sự đồng thuận của nhân dân với bản Hiến pháp, nhưng Dự thảo vẫn không có quy định này.

Bên cạnh việc tuyên bố các quyền hiến định của người dân, Hiến pháp cần tập trung ghi nhận các quy định đảm bảo sự thực thi các quyền trên thực tế. Thiếu cơ chế thực thi hiệu quả thì các quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp chỉ có giá trị mang tính hình thức.

Trong thực tiễn, người dân gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện các quyền hiến định của họ. Người dân không có nhận thức đầy đủ về các quyền hiến định, mà nguyên nhân chính của tình trạng này là họ không thể nhờ cậy trực tiếp đến Hiến pháp để bảo vệ các quyền mà Hiến pháp ghi nhận. Theo pháp luật hiện hành, khi thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo hay khiếu kiện, người dân chỉ có thể căn cứ vào các VBQPPL thông thường, mà không thể viện dẫn Hiến pháp làm căn cứ đề nghị giải quyết vụ việc. Dự thảo Hiến pháp cũng không có quy định mới cho phép công dân sử dụng Hiến pháp để bảo vệ các các quyền hiến định của họ khi bị xâm phạm.

Để hiện thực hóa các quyền hiến định của nhân dân, Hiến pháp phải định ra các thủ tục, quy trình cho việc thực thi đó. Quy trình phổ biến nhất được quy định trong Hiến pháp các nước là "tài phán hiến pháp”. Theo quy trình này, người dân có quyền khiếu kiện ra các cơ quan tư pháp/hoặc có tính chất tư pháp (Tòa án Hiến pháp hoặc các tòa án tư pháp) để đề nghị phát quyết về tính bất hợp hiến hành vi (kể cả VBQPPL) của các cơ quan công quyền. Ví dụ, Hiến pháp Hàn Quốc tạo điều kiện tối đa cho các cá nhân có thể khiếu kiện trực tiếp lên Tòa án Hiến pháp để bảo vệ các quyền hiến định của họ khi bị xâm phạm. Theo quy định của Hiến pháp này,các đương sự trong một vụ việc đang được giải quyết tại một tòa án thông thường có quyền đề xuất tòa án đó xem xét đề nghị hoặc đề nghị trực tiếp nếu không được tòa án đó chấp nhận, lên Tòa án Hiến pháp xem xét tính hợp hiến của các đạo luật. Đặc biệt, các cá nhân có quyền đề nghị Tòa án hiến pháp bảo vệ các quyền hiến định của họ khi bị các cơ quan nhà nước xâm phạm. Các cá nhân có quyền đề nghị Tòa án hiến pháp xem xét bảo vệ các quyền hiến định của mình khi họ đã sử dụng hết các quy trình hành chính và tố tụng theo pháp luật nhưng không bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của họ.

Trong khi đó, Hiến pháp 1992 cũng như Dự thảo Hiến pháp không có các quy định về thủ tục, quy trình để người dân thực hiện các quyền hiến định của họ.Thiếu sự trao quyền và khả năng người dân có thể sử dụng Hiến pháp để bảo vệ quyền hiến định của họ thông qua một cơ quan tài phán hiến pháp độc lập là những hạn chế rất lớn và cơ bản nhằm đảm bảo sự thực thi hiến pháp trong tương lai.

Thêm vào đó, Dự thảo Hiến pháp chưa thể thành lập mới các thiết chế hiến định độc lập khác như hội đồng/ủy ban bảo vệ quyền con người; hội đồng/ủy ban chống tham nhũng độc lập… có vai trò bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người, quyền công dân. Dự thảo cũng chưa thực sự có những điều chỉnh cơ bản để thúc đẩy các thiết chế hiện có trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân như thúc đẩy nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước, nâng cao hiệu quả giám sát của Quốc hội và đảm bảo tính độc lập của tòa án.

2. Tổ chức quyền lực nhà nước

Điểm mới tiếp theo của Dự thảo là những cố gắng trong việc điều chỉnh tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phù hợp hơn với tình hình mới.Bằng việc quy định "các tòa án khác” thay vì "các tòa án địa phương”, Dự thảomở đường cho việc thiết lập mô hình tòa án theo cấp xét xửthay cho mô hình tòa án theo đơn vị hành chính lãnh thổ nhằm góp phần đảm bảo nguyên tắc độc lập của tòa án với các cơ quan Đảng, Nhà nước ở địa phương. Tương tự, quy định mở về"Việc thành lập Hội đồng nhân dân (HĐND) và UBND ở các đơn vị hành chính lãnh thổ do luật định phù hợp với đặc điểm của từng đơn vị hành chính lãnh thổ và phân cấp quản lý” (Khoản 2, Điều 115)sẽtạo điều kiện cho việc thiết kế tổ chức không có HĐND ở một số cấp trong thời gian tới phù hợp với tình hình cụ thể ở từng địa phương. Dự thảo lần đầu tiên quy địnhcác thiết chế hiến định mới, bao gồm Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước(Chương X).

Tuy vậy, việc cải cách bộ máy nhà nước theo định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền (Điều 2) vẫn khá mờ nhạt trong các quy định cụ thể của Dự thảo.

Khởi đầu, thành lập mộtTòa án Hiến phápđược coi là một trong những vấn đề trọng tâm các cuộc thảo luận về sửa đổi Hiến pháp và hứa hẹn có nhiều triển vọng thiết lập vào đợt sửa đổi Hiến pháp lần này. Tuy vậy, những người đề xuất mô hình này cảm thấy nản lòng khi đề xuất của họ ngày càng bị đẩy ra xa so với những ưu tiên sửa đổi.

Thay vì thiết lập Tòa án Hiến pháp, Ban soạn thảo ủng hộ duy trì quyền kiểm hiến mang tính chính trị của Quốc hội. Lựa chọn thiết lập một cơ quan chuyên trách trực thuộc Quốc hội(Hội đồng Hiến pháp)để giúp Quốc hội thực hiện chức năng bảo hiến được thấy trong phương án số 1 của nhiều báo cáo, dự thảo đề xuất sửa đổi Hiến pháp. Dự thảo Hiến pháp đã lựa chọn mô hình này khi quy định tại Điều 120 như sau:

1. Hội đồng Hiến pháp là cơ quan do Quốc hội thành lập, gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên.

2. Hội đồng Hiến pháp kiểm tra tính hợp hiến của các VBQPPL do Quốc hội, Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành; kiến nghị Quốc hội xem xét lại VBQPPL của mình khi phát hiện có vi phạm Hiến pháp; yêu cầu Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung VBQPPL của mình hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ văn bản vi phạm Hiến pháp; kiểm tra tính hợp hiến của điều ước quốc tế được ký kết nhân danh Nhà nước trước khi trình Quốc hội, Chủ tịch nước phê chuẩn.

3. Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồng Hiến pháp và số lượng, nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng Hiến pháp do luật định.

Theo đó, Hội đồng Hiến pháp không phải là một cơ quan tài phán hiến pháp độc lập, mà hoàn toàn là một cơ quan chính trị: Hội đồng Hiến pháp không độc lập do Quốc hội thành lập, giúp Quốc hội thực hiện chức năng bảo hiến; Hội đồng Hiến pháp không có quyền tài phán, mà chỉ có quyền kiến nghị Quốc hội và các cơ quan nhà nước xem xét khi phát hiện các vi phạm Hiến pháp.

Theo kinh nghiệm và lý thuyết bảo hiến, Hội đồng Hiến pháp với tư cách là một cơ quan chính trị sẽ không có vai trò đáng kể nào trong việc bảo vệ Hiến pháp. Bị lệ thuộc về tổ chức vào Quốc hội, Hội đồng Hiến pháp không thể kiểm hiến các văn bản pháp luật do Quốc hội ban hành. Những thẩm quyền hạn chế của Hội đồng Hiến pháp cũng khiến cơ quan này khó có thể thực hiện được nhiệm vụ của cơ quan bảo hiến. Kinh nghiệm của Hàn Quốc cũng chỉ ra rằng, việc thành lập một Tòa án Hiến pháp độc lập, có thẩm quyền rộng rãi và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân được quyền tiếp cận (kiện) Tòa án hiến pháp là những điều kiện tiên quyết tạo ra sự thành công của thiết chế bảo hiến.

Nếu chưa thành lập được Tòa án Hiến pháp, thì Hội đồng Hiến pháp theo Dự thảo cũng cần phải được cải cách theo hướng nâng cao hơn tính độc lập và thẩm quyền của cơ quan này. Trong trường hợp đó, Hội đồng Hiến pháp của Pháp có thể là nguồn tham khảo quan trọng. So sánh với Hội đồng Hiến pháp của Pháp - một mô hình hạn chế so với Tòa án Hiến pháp, Hội đồng Hiến pháp theo Dự thảo Hiến pháp còn hạn chế hơn rất nhiều. Bên cạnh tính chính trị, Hội đồng Hiến pháp của Pháp vẫn có vị trí độc lập tương đối so với các đảng chính trị, các cơ quan quyền lực nhà nước (kể cả Quốc hội) và các lợi ích tư nhân (Điều 56, 57 Hiến pháp của Cộng hòa Pháp). Bên cạnh kiểm hiến các đạo luật của Quốc hội (Điều 61, 61-1), Hội đồng Hiến pháp của Pháp còn kiểm soát các cuộc bầu cử (Điều 58, 59) và trưng cầu dân ý (Điều 60). Với cải cách Hiến pháp năm 2008 (Điều 61-1), Hội đồng Hiến pháp không những kiểm tra trước khi dự luật có hiệu lực, mà còn có thể kiểm tra tính hợp hiến của một đạo luật theo đề nghị của các tòa án thường (thông qua các Tòa án tối cao).

Việc thành lập một Tòa án Hiến pháp độc lập, có thẩm quyền rộng rãi và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân được quyền khởi kiện trực tiếp là những điều kiện tiên quyết tạo ra sự thành công của thiết chế bảo hiến. Nếu chưa thành lập được Tòa án Hiến pháp, thì Hội đồng Hiến pháp theo Dự thảo cũng cần phải được cải cách theo hướng nâng cao hơn tính độc lập và thẩm quyền của cơ quan này theo mô hình của Pháp có lẽ là một giải pháp thỏa hiệp có thể chấp nhận được.

Tương tự, Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước cũng là những cơ quan do Quốc hội thành lập, có tính phụ thuộc vào Quốc hội.

Phân công và kiểm soát quyền lực là nội dung cốt lõi của tất cả các Hiến pháp dân chủ và tiến bộ. Tuy nhiên, nguyên tắc hiến định "Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Điều 2) chưa được cụ thể hóa trong các chế định cụ thể của Dự thảo Hiến pháp.Các quy phạm Hiến pháp vẫn đảm bảo về hình thức quyền lực tối cao và tập trung của Quốc hội. Tuy nhiên, thực tiễn chính trị lại cho thấy tính hình thức trong thực thi quyền lực của Quốc hội và sự chuyển dịch quyền lực khó kiểm soát vào hành pháp và chính quyền địa phương. Hệ thống tòa án thì thiếu tính độc lập cần có trong tổ chức và hoạt động xét xử.

Xét một tổng thể, Dự thảo phản ánh quan điểm sửa đổi "không cơ bản”. Mặc dù có thay đổi quan trọng, Dự thảo vẫn để ngỏ nhiều vấn đề lớn, do đó chưa thực sự đáp ứng được mong đợi của xã hội.So sánh với sự chuyển đổi Hiến pháp ở nhiều nước hiện nay, những "đổi mới” của Việt Nam còn chậm và ít hơn nhiều. Để giải quyết thành công những vấn đề lớn đang đặt ra, chúng ta cần mạnh mẽ và quyết tâm hơn trong công cuộc đổi mới chính trị-pháp luật, đặc biệt trong tiến trình xây dựng dân chủ và nhà nước pháp quyền./.


[1]Xem thêmĐặng Minh Tuấn, Sửa đổi Hiến pháp Việt Nam đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền và toàn cầu hóa, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 192, tháng 1/2012, tr. 42-46.

[2]Xem thêm Đặng Minh Tuấn, Một số vấn đề lý luận về xây dựng tiêu chí và phương pháp tổng kết việc thi hành Hiến pháp, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp,số 19(204), tháng 10/2011, tr. 11-15;Đặng Minh Tuấn, Cải cách hiến pháp trong xu thế chuyển đổi, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 22 (207), tháng 11/2011, tr. 22-28.

[3]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 247.

[4]Tờ trình Quốc hội của Ủy ban Thường vụ Quốc hội số 11/TTr-UBTVQH13, ngày 02/08/2011 về việc triển khai thực hiện chủ trương nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992.

[5]Xem thêm những phân tích so sánh các quy định Hiến pháp Việt Nam với Bộ luật Nhân quyền quốc tế và Hiến pháp các nước: TS. Vũ Công Giao,Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp trên thế giới và Hiến pháp Việt Nam: Sơ bộ phân tích so sánh, trong Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội và Trung tâm TT, TV&NCKH, Văn phòng Quốc hội, Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tập II-Quyền con người, quyền công dân, Chế độ kinh tế, bảo hiến và một số vấn đề khác, Nxb. Hồng Đức, tr. 32, 34; Lã Khánh Tùng,Quyền cá nhân trong Hiến pháp Việt Nam qua lăng kính của Bộ luật Nhân quyền quốc tế, trong Khoa Luật, Đại học Quốc gia và Trung tâm TT, TV &NCKH, Văn phòng Quốc hội, Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tập II-Quyền con người, quyền công dân, Chế độ kinh tế, bảo hiến và một số vấn đề khác, Nxb. Hồng Đức, tr. 92.

[6]Chương II (thay cho Chương V của Hiến pháp hiện hành): Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

[7]Trong Dự thảo Hiến pháp, Điều 17, Điều 21, Điều 22, Điều 23, Điều 25, Điều 31, Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 37, Điều 39, Điều 43, Điều 44, Điều 46, Điều 50 đều bảo đảm các quyền của "mọi người” không phân biệt địa vị pháp lý công dân.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi