Một số vấn đề về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992

Hiến pháp năm 1992 được ban hành trong bối cảnh những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới đất nước do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986) đề ra và thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội năm 1991. Hiến pháp 1992 đã tạo cơ sở chính trị - pháp lý quan trọng cho việc thực hiện công cuộc đổi mới. Qua 20 năm thực hiện Hiến pháp năm 1992, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Trong tiến trình lịch sử, để kịp thời đáp ứng được những thay đổi của tình hình kinh tế, xã hội trong nước và thế giới Hiến pháp cũng cần phải thay đổi để cho phù hợp với tình hình mới "để bảo đảm đổi mới đồng bộ cả về kinh tế và chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền và nghĩa cụ cơ bản của công dân; xây dựng và bảo vệ đất nước; tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”[1].

Việc nghiên cứu về các quy định của dự thảo sửa đổi Hiến pháp là cần thiết và hết sức quan trọng trong thời điểm hiện nay. Bài viết này chủ yếu tập trung vào phân tích và làm sáng tỏ một số điều trong bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 ("Dự thảo SĐHP 1992”) được Uỷ ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 công bố về vấn đề quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trên cơ sở so sánh với các bản Hiến pháp trước kia của Việt Nam, cũng như nghiên cứu nội dung của quyền đó trong các văn kiện quốc tế về quyền con người.

1. Về cách thể hiện nội dung quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Dự thảo SĐHP 1992

Ngày 3 tháng 1 năm 2013 Uỷ ban Dự thảo SĐHP 1992 đã lần đầu tiên công bố nội dung của Dự thảo SĐHP 1992 ra các phương tiện thông tin đại chúng. Nếu xét riêng về chương quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ta có thể rút ra một số nhận xét như sau:

Thứ nhất, trong Dự thảo SĐHP 1992 thì vấn đề quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được thể hiện tại Chương II của dự thảo chỉ sau Chương I Chế độ chính trị. Điều này cho thấy nhận thức nhất quán của Đảng và Nhà nước về tầm quan trọng của các vấn đề quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Khi nhận thức rằng quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là vấn đề quan trọng, là nội dung cơ bản của bất kỳ một Hiến pháp nào trên thế giới. Cách thể hiện này cũng thể hiện rõ bản chất của Hiến pháp là văn bản khế ước gốc giữa nhà nước và người dân nhằm thiết lập thiết chế kiềm chế quyền lực nhà nước thông qua việc chế định quyền con người, quyền và nghĩa cụ cơ bản của công dân.

Điều này chưa được các nhà làm luật nhận thức đầy đủ trong các bản Hiến pháp trước kia của nước ta khi luôn xếp nội dung về quyền con người, quyền và nghĩa cụ cơ bản của công dân sau một loạt các vấn đề khác. Như tại Hiến pháp 1959 vấn đề này được thể hiện tại Chương III, tại Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 được thể hiện tại Chương V chỉ trừ Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập đó là bản Hiến pháp 1946 thì nội dung về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được thể hiện tại Chương 2 chỉ sau vấn đề về chính thể nhà nước.

Thứ hai, nếu như tất cả các bản Hiến pháp trước kia của nước ta thì chỉ có quy định về quyền công dân thì tại Dự thảo SĐHP 1992 lần này thì đã thể hiện thêm một nội dung hết sức quan trọng đó chính là quyền con người. Trong khoa học pháp lý hiện nay ngày càng có nhiều quan điểm khi cho rằng, bản thân khái niệm quyền công dân không thể bao quát hết được khái niệm quyền con người. Khái niệm quyền con người xét về nguồn gốc tự nhiên đó là quyền của tất cả các cá nhân không phụ thuộc vào việc nó có được thể hiện trong pháp luật của một quốc gia nào hay không. Trong khi đó khái niệm quyền công dân lại là các quyền được thể hiện trong pháp luật của một quốc gia ghi nhận và được đảm bảo thực hiện bằng một nhà nước cụ thể. Như vậy, nội hàm của khái niệm quyền con người rộng hơn khái niệm quyền công dân.

Trong lịch sử lập hiến của Việt Nam, thì chỉ có các quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân mà nội dung quyền con người không được thể hiện. Mặc dù nội dung của một số quy định về quyền công dân cũng đã bao hàm nội dung quyền con người trong đó, như quyền bình đẳng trước pháp luật của công dân được quy định tại Điều 52 của Hiến pháp 1992.

Việc Uỷ ban Dự thảo SĐHP 1992 đã cho thêm nội dung về quyền con người trong Chương II của Dự thảo là một bước tiến đáng kể về tư duy pháp lý, đồng thời cũng đảm bảo cho Hiến pháp của nước ta sau khi ban hành không còn quá khác biệt so với nội dung của các bản Hiến pháp khác trên thế giới. Đảm bảo việc cụ thể hóa các Công ước của Liên hợp quốc về quyền con người[2] mà Việt Nam đã tham gia.

Thứ ba, về cơ cấu của Chương II trong Dự thảo SĐHP 1992 thì đã có một số điểm khác biệt cơ bản so với các bản Hiến pháp trước đây của nước ta. Trong Dự thảo SĐHP 1992 Chương II có 38 điều, trong đó có 05 điều mới gồm các Điều 16, 21, 44, 45, 46, bỏ 01 điều là Điều 66 Hiến pháp 1992, sửa đổi, bổ sung 30 điều, giữ nguyên 3 điều của Hiến pháp 1992 gồm các Điều 24, 51, 52 (giữ nguyên các Điều 68, 51, 52 của Hiến pháp 1992).

Một số nội dung mới lần đầu tiên được thể hiện trong Hiến pháp như quyền sống; quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa, tiếp cận các giá trị văn hóa; quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp; quyền được sống trong môi trường trong lành. Điều này là sự thể hiện cụ thể của Hiến pháp 1992 về một số quyền con người đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế như Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 1966…

Thứ tư, trong nội dung các điều của Dự thảo SĐHP 1992 tại Chương II thì có sự thiết kế lại theo hướng nhóm các quyền lại để đảm bảo tính thống nhất giữa quyền con người và quyền công dân, bảo đảm tính khả thi hơn. Các quyền hoặc nghĩa vụ đối với tất cả mọi người, không phân biệt công dân Việt Nam, người nước ngoài hay người không có quốc tịch thì được thể hiện bằng từ "Mọi người”; còn đối với những quyền hoặc nghĩa vụ chỉ áp dụng đối với công dân Việt Nam thì dự thảo dùng từ "Công dân”. Đây là điểm khác biệt cơ bản so với các bản Hiến pháp trước kia của nước ta. Tại các bản Hiến pháp trước kia chỉ sử dụng từ "Công dân” điều đó có nghĩa một số quyền mang tính phổ quát chung được áp dụng đối với mọi người cả công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không có quốc tịch không được Hiến pháp điều chỉnh. Việc Uỷ ban Dự thảo SĐHP 1992 lần này thể hiện cách trình bày như vậy đảm bảo tính khoa học, hợp lý, phù hợp với xu thế chung của toàn cầu trong giai đoạn hiện nay.

Theo Tuyên ngôn thế giới về quyền con người và các Công ước quốc tế về quyền con người thì quyền con người được hiểu "nhân phẩm, các nhu cầu (về vật chất và tinh thần), lợi ích cùng với nghĩa vụ của con người được thể chế hoá trong các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia[3]. Còn quyền công dân phản ánh, thể hiện là "quyền con người, gồm những giá trị gắn liền với một nhà nước nhất định và được nhà nước đó bảo đảm thực hiện bằng pháp luật dựa trên mối liên hệ pháp lý cơ bản giữa mỗi cá nhân công dân với một nhà nước cụ thể[4]. Như vậy, trong Dự thảo SĐHP 1992 đã có sự thể hiện rõ quyền nào là nhóm quyền được áp dụng đối với mọi cá nhân với tư cách là quyền con người, quyền nào là nhóm quyền chỉ áp dụng đối với công dân Việt Nam với tư cách là các quyền công dân.

Dự thảo SĐHP 1992 đã khắc phục được sự nhầm lẫn giữa quyền con người với quyền công dân cũng như chuyển được cách thức thiết lập quyền từ chỗ quy định dưới dạng Nhà nước "quyết định” quyền cho công dân và mọi người, sang việc công dân và mọi người được hưởng các quyền đó một cách mặc nhiên và Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm các quyền con người, quyền công dân.

2. Một số góp ý cụ thể liên quan đến Dự thảo SĐHP 1992 về vấn đề quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

2.1. Về quyền sống quy định tại Điều 21 Dự thảo SĐHP 1992

Điều 21 của Dự thảo SĐHP 1992 là một điều mới lần đầu tiên trong một bản Hiến pháp của nước ta có quy định về một quyền hết sức quan trọng và hiển nhiên của con người. Tuy đây là lần đầu tiên quyền sống của con người được thể hiện trong một bản Hiến pháp của nước ta tuy nhiên nội dung về quyền sống của con người đã được thể hiện từ rất lâu trong lịch sử chính trị - pháp lý thế giới cũng như Việt Nam.

Tại Tuyên ngôn độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thì Hồ chủ tịch đã thể hiện rất rõ ràng quyền sống của con người khi khẳng định "Mọi người sinh ra đều có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc và đây là những quyền không ai có thể xâm phạm được. Đây là nền tảng đầu tiên cho tư tưởng về các quyền con người được thể hiện trong các văn kiện chính trị - pháp lý của nhà nước.

Về nội dung quyền sống theo từ điển mở Wikipedia thì "Quyền sống hay quyền được sống hay quyền sinh sống, quyền sống còn là thuật ngữ mô tả về một sự tin tưởng rằng con người hoàn toàn được quyền có điều kiện và các yếu tố cần thiết để sinh sống và không bị giết bởi một chủ thể khác (con người, nhà nước, các tổ chức....) về các vấn đề nạo phá thai, án tử hình, cái chết nhân đạo, giết người để tự vệ và chiến tranh. Quyền sống là một trong những nội dung quan trọng của nhân quyền”[5].Trong các văn kiện quốc tế về quyền con người quyền sống được thể hiện một cách rõ nét với tư cách là quyền con người đầu tiên và quan trọng nhất. Trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966 tại Điều 6 đã thể hiện "Mọi người đều có quyền cố hữu là được sống. Quyền này phải được pháp luật bảo vệ. Không ai có thể bị tước mạng sống một cách tuỳ tiện”. Trong Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền 1948 tại Điều 3 cũng thể hiện "Ai cũng có quyền được sống, tự do, và an toàn thân thể”. Như vậy, quyền sống của con người luôn được coi là một trong những quyền đầu tiên, cơ bản và quan trọng nhất của mỗi cá nhân trong cộng đồng nhân loại, một quyền mà không ai có thể tước bỏ nó một các tùy tiện.

Trong các bản Hiến pháp trước kia của nước ta, quyền sống chưa được thể hiện một cách trực tiếp bằng một Điều trong Hiến pháp. Lần đầu tiên trọng một Dự thảo SĐHP 1992 thì quyền sống đã được đưa vào với tư cách như là một quyền con người cơ bản và quan trọng nhất. Điều 21 của Dự thảo SĐHP 1992 đã thể hiện "Mọi người có quyền sống”. Theo cách giải thích của Uỷ ban Dự thảo SĐHP 1992 thì với mỗi điều trong Dự thảo SĐHP 1992 mà sử dụng từ "Mọi người” có nghĩa là quyền hay nghĩa vụ đó được áp dụng đối với tất cả mọi người, không phân biệt công dân Việt Nam, người nước ngoài hay người không có quốc tịch[6]. Điều này là phù hợp với nội dung của quyền sống bởi đây là quyền cơ bản của con người và là những phẩm giá vốn có, bất di bất dịch của mọi thành viên trong cộng đồng nhân loại. Quyền này xuất phát từ những quyền tự nhiên, là phẩm giá vốn có của con người.

Tuy nhiên, một một điều trong Hiến pháp chỉ vỏn vẹn có 5 chữ, quy định một quyền hết sức quan trọng của con người mà chưa có các cụm từ bổ sung khác theo chúng tôi là chưa thực sự phù hợp và chưa làm rõ được hết các nội dung của quyền sống. Như chúng ta đã biết, hiện nay Việt Nam vẫn là một trong số các nước còn duy trì hình phạt tử hình cả trong các quy định của pháp luật lẫn trong thực tiễn áp dụng. Vậy với một quy định trong Hiến pháp chỉ có 5 từ quy định mọi người có quyền sống mà không có quy định về việc Nhà nước có quyền tước bỏ quyền sống của một người trong các trường hợp đặc biệt thì thiết nghĩ khi bản Hiến pháp được thông qua sẽ dẫn đến tình trạng các bản án tuyên phạt tử hình cũng như hành vi thi hành án tử hình sẽ bị coi là vi hiến.

Để giải quyết được nhược điểm trên, đồng thời hoàn chỉnh quy định về quyền sống của con người, chúng tôi thiết nghĩ nên có một đoạn trong Điều 21 Dự thảo SĐHP 1992 như "Mọi người có quyền sống, trừ những trường hợp bị Tòa án tuyên phạt tử hình và bị thi hành án theo quy định của pháp luật”. Điều này sẽ đảm bảo được trường hợp tước đoạt quyền sống của một người theo đúng quy định của pháp luật không bị coi là vi hiến.

Đồng thời quyền sống là một quyền quan trọng đầu tiên, cơ bản nhất của con người nó là cơ sở quyết định để cá nhân được hưởng các quyền con người khác, vì vậy việc cơ cấu Điều 21 như trong Dự thảo sau các điều quy định về các quyền khác là chưa hợp lý. Vì vậy, chúng tôi đề nghị Dự thảo nên chuyển quy định tại Điều 21 lên đầu Chương II chỉ sau các điều quy định về giới hạn của quyền cũng như những tuyên bố chung về các quyền để đảm bảo tính lô gic cũng như tính chính xác cao.

2.2. Về quyền bình đẳng nam, nữ trong Điều 27 Dự thảo SĐHP 1992

Quyền bình đẳng nam, nữ hay gọi một cách khác là quyền bình đẳng giới là một vấn đề có tính thời đại. Nó không phải chỉ là vấn đề của riêng phụ nữ mà là mối quan tâm chung của toàn xã hội, toàn nhân loại. Bởi lẽ, đời sống của phụ nữ là một bộ phận của đời sống xã hội, của đời sống gia đình. Người phụ nữ không hề tách biệt với phần còn lại của thế giới mà trái lại gắn liền và chi phối mạnh mẽ đời sống gia đình và xã hội. Trải qua hàng trăm năm đấu tranh, thì hiện nay quyền của phụ nữ đã trở thành một vấn đề được các quốc gia trên thế giới thừa nhận và coi trọng. Hiện nay, văn bản pháp lý quốc tế được coi là quan trọng nhất bảo vệ quyền của phụ nữ chính là Công ước của Liên hợp quốc về việc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối với phụ nữ ("Công ước CEDAW”) được thông qua ngày 18 tháng 12 năm 1979.

Trong khoa học pháp lý hiện đại, dường như có một số trở ngại lớn về lý luận và lịch sử trong việc xác định chính xác các quyền của phụ nữ như là một bộ phận của các quyền con người, kể các việc thực thi có hiệu quả các quyền này[7]. Như vậy, về xét về mối tương quan thì quyền của phụ nữ là một trong những quyền con người cơ bản, và nó nằm trong mối quan hệ với các quyền con người khác. Tuy nhiên, nội dung các quyền này xác định tình trạng bình đẳng của phụ nữ so với nam giới trong các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình.

Công ước CEDAW cũng xác nhận rằng các quốc gia thành viên phải thể hiện nguyên tắc bình đẳng nam nữ vào hiến pháp nước mình, hoặc vào các văn bản pháp luật thích hợp khác. Bởi đây là một quyền cơ bản của con người cần được thể hiện cụ thể.

Tại các bản Hiến pháp của nước ta từ trước đến nay, quyền bình đẳng nam, nữ đều được ghi nhận cụ thể, như Hiến pháp 1946 tại Điều 9, Hiến pháp 1959 tại Điều 24, Hiến pháp 1980 tại Điều 63, Hiến pháp 1992 tại Điều 63. Trong Dự thảo SĐHP 1992 quyền bình đẳng nam, nữ được thể hiện tại Điều 27 với nội dung đó là quyền của công dân. Điều 27 Dự thảo SĐHP 1992 ghi nhận công dân nam, nữ bình đẳng và có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình. Điều 27 của Dự thảo đã thêm cụm từ "bình đẳng” vào trong nội dung, đồng thời vẫn khẳng định sự ngang nhau về quyền giữa phụ nữ và nam giới.

Tuy nhiên, qua nghiên cứu các bản Hiến pháp từ trước đến nay của nước ta, đồng thời nghiên cứu về nội dung quyền phụ nữ qua Công ước CEDAW, chúng tôi thấy rằng, quyền bình đẳng nam, nữ là một quyền con người cơ bản. Vì vậy, với tư cách là một quyền con người thì phạm vi áp dụng quyền đó phải là cả công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch chứ không thể chỉ là "Công dân nam, nữ bình đẳng và có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình” như trong khoản 1 Điều 27 Dự thảo SĐHP 1992 được. Hơn nữa, tại các bản Hiến pháp trước kia của nước ta, như Hiến pháp 1946 Điều thứ 9 ghi nhận "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”, tại Hiến pháp 1980 tại Điều 63 ghi nhận "Phụ nữ và nam giới có quyền ngang nhau về mọi mặt…”.

Vì vậy, chúng tôi đề nghị khoản 1 của Điều 27 Dự thảo SĐHP 1992 nên được sửa đổi theo hướng bỏ cụm từ "công dân” mà chỉ cần ghi nhận "Phụ nữ và nam giới bình đẳng và có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình” để đảm bảo tính thống nhất và dễ hiểu. Tránh trường hợp khi sử dụng cụm từ "công dân” thì quyền này được hiểu chỉ là quyền được áp dụng với công dân Việt Nam[8]. Để đảm bảo hơn nữa, quyền của phụ nữ có quốc tịch nước ngoài, không có quốc tịch sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam khi tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình được bảo vệ.

3. Về nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc tại Điều 47 của Dự thảo SĐHP 1992

Tại Điều 76 của Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 đều sử dụng cụm từ "Phản bội tổ quốc là tội nặng nhất”. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng việc sử dụng cụm từ trên trong Hiến pháp và lần này Dự thảo SĐHP 1992 cũng sử dụng cụm từ "phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất” là chưa hợp lý.

Bởi lẽ, bản thân cụm từ "phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất” có tính định tính rất cao, đặc biệt trong bối cảnh Hiến pháp là văn bản luật gốc, chính vì vậy sẽ rất khó trong việc xác định tội nặng nhất là như thế nào? Nếu dẫn chiếu các quy định của luật hình sự thì cũng sẽ không xác định được Tội phản bội tổ quốc được quy định tại Điều 78 Bộ Luật hình sự 1999 có phải là tội nặng nhất hay không. Bởi theo Bộ luật Hình sự 1999 ("BLHS 1999”) hiện nay thì chỉ có quy định về các loại tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Cách xác định các loại tội phạm này theo quy định tại Điều 8 BLHS 1999 thì căn cứ theo hậu quả của tội phạm gây ra và mức cao nhất của khung hình phạt áp dụng đối với tội phạm đó[9]. Như vậy, không hề có khái niệm tội nặng hay tội nhẹ, lại càng không có khái niệm tội nặng nhất hay nhẹ nhất. Chúng tôi cho rằng việc Dự thảo SĐHP 1992 quy định như trên là không đảm bảo tính thống nhất và chính xác về mặt câu chữ. Việc phản bội tổ quốc cần bị trừng trị như thế nào, xử lý ra sao thì nên để cho văn bản luật, cụ thể là luật hình sự quy định cụ thể để đảm bảo tính chính xác và thống nhất cao hơn.

Vì vậy, theo chúng tôi Điều 47 của Dự thảo SĐHP 1992 cần được sửa theo hướng bỏ cụm từ "Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất”. Thay vào đó chỉ cần quy định "Công dân có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc”. Đồng thời có thể gộp Điều 47 vào Điều 48 (Quy định về nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, nghĩa vụ quân sự) thành một Điều để đảm bảo tính thống nhất về nội dung, gọn gàng về hình thức vì các nhóm quyền, nghĩa vụ này có cùng tính chất với nhau.

Như vậy, Điều 47 của Dự thảo SĐHP 1992 có thể được trình bày như sau:

Điều 47.

1. Công dân có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc

2. Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân

3. Công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân; việc thực hiện nghĩa vụ thay thế nghĩa vụ quân sự do luật định.

 

 

 

 

[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.

[2] Xem thêm: Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 1966

[3] Xem thêm: Võ Khánh Vinh (chủ biên), Quyền con người Tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội, Nxb Khoa học xã hội, 2009, tr.19

[4] Xem thêm: Trần Văn Bách, Luận án tiến sĩ luật học "Sự phát triển chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua lịch sử lập hiến Việt Nam”, Viện Nhà nước và pháp luật, 2002, tr.2

[6] Xem thêm: Uỷ ban dự thảo SĐHP năm 1992, Báo cáo thuyết minh về Dự thảo SĐHP năm 1993, ngày 5/1/2013

[7]Xem thêm: Phạm Khiêm Ích, Hoàng Văn Hảo, Quyền con người trong thế giới hiện đại, Viện thông tin KHXH, Hà Nội 1995, tr.300

[8] Theo cách thuyết minh về Dự thảo của Uỷ ban Dự thảo SĐHP 1992 thì các quyền và nghĩa vụ áp dụng đối với tất cả mọi người, không phân biệt công dân Việt Nam, người nước ngoài, hay người không quốc tịch thì được thể hiện bằng từ "Mọi người” như vậy, với nội dung của quyền phụ nữ (cần được áp dụng cho tất cả mọi người), thì khi sử dụng từ "công dân” sẽ dễ gây nên cách hiểu là quyền này chỉ áp dụng đối với công dân Việt Nam.

[9] Xem thêm: Bộ luật Hình sự 1999, khoản 3 Điều 8

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi