Thực trạng quy định pháp luật về đối thoại trong giải quyết vụ án hành chính và một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung

THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐỐI THOẠI

TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG

 

ThS. Trần Sỹ Dương

Giảng viên Khoa Nhà nước và Pháp luật

Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội

 

Luật tố tụng hành chính được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 10 ngày 25/11/2015 (sau đây gọi tắt là Luật TTHC năm 2015) đã dành riêng Chương X để quy định về thủ tục đối thoại cùng với thủ tục chuẩn bị xét xử. So với các quy định pháp luật trước đây, Luật TTHC năm 2015 đã bổ sung thêm nhiều vấn đề mới trong đối thoại như nguyên tắc tiến hành đối thoại, thông báo phiên họp đối thoại, thành phần phiên họp đối thoại, biên bản đối thoại, xử lý kết quả đối thoại… Trải qua 04 năm thi hành, các quy định này đã đóng vai trò rất lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho tòa án trong quá trình tiến hành các thủ tục đối thoại giúp quá trình giải quyết vụ án hành chính (VAHC) nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức cho đương sự, góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác giải quyết các VAHC của tòa án.

1. Về căn cứ tổ chức đối thoại

Đối thoại là hoạt động mang ý nghĩa quan trọng, bảo đảm sự bình đẳng, dân chủ trong giải quyết tranh chấp hành chính. Mặc dù đối thoại được quy định như một nguyên tắc trong tố tụng hành chính (Điều 20 Luật TTHC năm 2015), song không phải trong trường hợp nào Tòa án cũng có trách nhiệm tiến hành đối thoại, không phải mọi trường hợp việc tổ chức đối thoại giữa các bên trong tranh chấp đều cần thiết phải tiến hành. Bởi lẽ việc yêu cầu tổ chức đối thoại trong mọi sự việc tranh chấp có thể sẽ dẫn tới tình trạng một số trường hợp đối thoại được tiến hành mang tính hình thức, không có hiệu quả gây lãng phí thời gian, công sức và làm giảm hiệu quả giải quyết VAHC.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Tòa án tiến hành đối thoại để các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không tiến hành đối thoại được, vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri, vụ án xét xử theo thủ tục rút gọn được quy định tại các điều 135, 198 và 246 Luật TTHC năm 2015[1].

Như vậy, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, những VAHC không tiến hành đối thoại được bao gồm: 1. Người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt; 2. Đương sự không thể tham gia đối thoại được vì có lý do chính đáng; 3. Các bên đương sự thống nhất đề nghị không tiến hành đối thoại[2]. Quy định như vậy là hoàn toàn hợp lý. Đối với hai trường hợp người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt và đương sự không thể tham gia đối thoại được vì có lý do chính đáng, bản chất của thủ tục đối thoại là các đương sự phải gặp gỡ nhau, cùng trực tiếp thảo luận, trao đổi các vấn đề phát sinh và còn mâu thuẫn trong tranh chấp hành chính. Do đó, nếu một hoặc các bên vắng mặt vì lí do khách quan lẫn chủ quan thì Tòa án không thể tiến hành đối thoại được. Đối với trường hợp các bên đương sự thống nhất đề nghị không tiến hành đối thoại thì Tòa án phải tôn trọng ý chí và quyền tự định đoạt của các bên trong VAHC.

Đối với những vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri được quy định tại Điều 198, Luật TTHC năm 2015 quy định không phải tổ chức đối thoại là phù hợp, xuất phát từ yêu cầu giải quyết khiếu kiện này phải được thực hiện nhanh chóng, kịp thời. Nếu như việc giải quyết VAHC đối với những khiếu kiện về danh sách cử tri bắt buộc phải trải qua thủ tục đối thoại sẽ làm kéo dài thêm thời gian giải quyết VAHC, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả của việc giải quyết VAHC.

Đối với thủ tục xét xử rút gọn được quy định tại Điều 246 thì không cần phải thực hiện thủ tục đối thoại trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng là quy định hợp lý, vì thủ tục rút gọn trong tố tụng hành chính là thủ tục nhằm rút ngắn về thời gian và thủ tục so với thủ tục giải quyết VAHC thông thường, do đó nếu thực hiện thủ tục đối thoại đối với các vụ việc được quy định tại các điều luật trên sẽ không đảm bảo tính chất “rút gọn” của thủ tục xét xử rút gọn.

Như vậy, trừ các trường hợp vừa phân tích ở trên thì trong quá trình giải quyết VAHC Tòa án phải có trách nhiệm tiến hành đối thoại. Việc quy định theo phương pháp loại trừ về căn cứ tổ chức đối thoại cho thấy vai trò của đối thoại trong tố tụng hành chính và quan điểm luôn đảm bảo và ưu tiên hoạt động này của các nhà lập pháp trong việc giải quyết VAHC.

Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, các bên đương sự có thể đề nghị Tòa án tạm ngừng phiên tòa để các bên đương sự tự đối thoại[3]. Nói cách khác, việc các bên đương sự đề nghị Tòa án cho các bên tự đối thoại là căn cứ để tạm ngừng phiên tòa cũng được xem xét là một trong những trường hợp các bên tiến hành đối thoại trong giải quyết VAHC. Tuy nhiên, pháp luật tố tụng hành chính mới chỉ dừng lại việc quy định cho các bên đối thoại trong giai đoạn xét xử sơ thẩm mà không có quy định nào quy định hay dẫn chiếu việc “tự đối thoại” này có được tiến hành như thủ tục đối thoại trong giai đoạn chuẩn bị xét xử hay không. Đây được xem như một điểm thiếu sót trong quy định của pháp luật về đối thoại trong giải quyết VAHC, có thể dẫn đến sự lúng túng trong việc áp dụng pháp luật trên thực tế.

Ngoài ra, trong quá trình giải quyết VAHC theo thủ tục rút gọn, đối thoại giữa các bên được tiến hành vào thời điểm sau khi khai mạc phiên tòa. Trường hợp đương sự thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Thẩm phán lập biên bản đối thoại thành và ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành theo quy định tại Điều 140 Luật TTHC năm 2015. Trường hợp đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Thẩm phán tiến hành xét xử.[4] Điều này đảm bảo cho việc giải quyết VAHC diễn ra nhanh gọn, đáp ứng đúng mục đích “rút gọn” khi tiến hành theo trình tự đặc biệt này. Đối thoại trong trường hợp này mặc dù được quy định khi việc đối thoại đạt được sự thống nhất giữa các đương sự với nhau thì Thẩm phán sẽ lập biên bản đối thoại thành và ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành theo quy định tại Điều 140 Luật TTHC năm 2015, song pháp luật trường hợp này cũng bỏ ngỏ những quy định về cách thức tiến hành, thành phần đối thoại, nguyên tắc đối thoại,… gây khó khăn và vướng mắc trong việc tổ chức thực hiện trên thực tế.

2. Về thành phần tham gia đối thoại

Thành phần tham gia đối thoại gồm có: Thẩm phán chủ trì phiên họp; Thư ký phiên họp ghi biên bản; Đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có); Người phiên dịch (nếu có)[5]. Đối với trường hợp trong VAHC có đương sự là người nước ngoài, người dân tộc thiểu số hoặc đương sự bị khuyết tật nghe, khuyết tật nói, khuyết tật nhìn thì người phiên dịch là chủ thể bắt buộc phải có mặt tại phiên họp đối thoại theo quy định tại Điều 21 Luật TTHC năm 2015 về tiếng nói và chữ viết trong tố tụng hành chính.

Ngoài ra, trong trường hợp cần thiết, Thẩm phán có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia phiên họp[6]. Đây là những cá nhân, cơ quan và tổ chức được Thẩm phán mời đến phiên họp để hỗ trợ Thẩm phán, các bên đương sự trong việc thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án như người làm chứng, người giám định… Mặc dù quy định này cho phép Thẩm phán có quyền mời thêm các chủ thể khác không nằm trong sự việc tranh chấp, tuy nhiên lại quy định chỉ trường hợp nào “cần thiết”. Đối với những chủ thể này pháp luật tố tụng hành chính cần bổ sung thêm các quy định hướng dẫn nhằm xác định trong những trường hợp cần thiết nào thì mời những chủ thể này, tránh việc quy định chung chung sẽ gây khó khăn trong việc áp dụng pháp luật cũng như dẫn đến tình trạng áp dụng một cách tùy nghi.

Việc xử lý trong trường hợp có người vắng mặt tại phiên họp đối thoại cũng được Luật TTHC năm 2015 quy định rất rõ tại khoản 3 Điều 137. Theo đó, trong vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp đối thoại và việc tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên họp để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên họp và thông báo bằng văn bản việc hoãn phiên họp, mở lại phiên họp cho các đương sự.

3. Về trình tự tiến hành phiên họp đối thoại

Trước khi tổ chức đối thoại, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải có trách nhiệm thông báo về phiên họp đối thoại. Mục đích của việc thông báo về phiên họp đối thoại là nhằm giúp cho đương sự, người đại diện và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ biết được thời gian, địa điểm và nội dung của phiên họp đối thoại để đến tham dự phiên họp.[7] Ngoài ra, thông qua việc thông báo này giúp các bên đương sự có thời gian chuẩn bị trước để có thể bảo vệ quyền lợi của mình một cách tốt nhất. Trên cơ sở thông báo của Thẩm phán, người được thông báo đến tham dự phiên họp để nêu ý kiến của mình về vụ án mà Tòa án đang thụ lý giải quyết. Ngoài ra, Luật TTHC năm 2015 cũng đã nêu rõ đối với VAHC không tiến hành đối thoại được thì chỉ tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ.

Sau khi thông báo cho các bên tham gia phiên họp đối thoại biết, Thẩm phán sẽ tiến hành phiên họp đối thoại theo trình tự như sau: Thẩm phán - với tư cách là người tiến hành tố tụng và là chủ thể tiến hành đối thoại phổ biến cho đương sự biết về các văn bản pháp luật có liên quan đến việc đánh giá tính hợp pháp của đối tượng khởi kiện để họ có thể phần nào tự xác định xem khiếu kiện Tòa án đang giải quyết có hợp pháp hay không, đồng thời Thẩm phán có thể phân tích cho các đương sự hiểu đúng về nội dung của quy phạm pháp luật để họ có thể quyết định việc lựa chọn việc giải quyết tranh chấp đang phát sinh giữa các bên. Trong quá trình đối thoại, cả hai bên đương sự đều có quyền trình bày bổ sung đối với yêu cầu của mình và những căn cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình, từ đó đề xuất hướng giải quyết vụ án theo quan điểm cá nhân. Đối với chủ thể là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thì họ có quyền trình bày bổ sung các nội dung liên quan đến vụ án và tự đề xuất quan điểm giải quyết vụ án đối với phần liên quan của mình. Đối với chủ thể là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc chủ thể khác được Thẩm phán mời đến tham gia phiên họp thì họ có quyền phát biểu ý kiến có liên quan đến vụ việc nhưng không có quyền đề xuất quan điểm giải quyết vụ án. Sau khi các đương sự trình bày hết ý kiến của mình, Thẩm phán kết luận về những vấn đề các bên đương sự đã thống nhất và những vấn đề chưa thống nhất.[8] Việc pháp luật quy định cụ thể hoạt động của từng chủ thể trong phiên họp đối thoại giúp cho các bên nắm rõ được các quyền và trách nhiệm của mình khi tham gia đối thoại, đảm bảo phiên đối thoại được tiến hành một cách khách quan, dân chủ.

4. Về kết quả của đối thoại và xử lý kết quả đối thoại

Theo khoản 2 Điều 139 Luật TTHC năm 2015 thì biên bản đối thoại phải có các nội dung sau: Ngày, tháng, năm tiến hành phiên họp; địa điểm tiến hành phiên họp; thành phần tham gia phiên họp; ý kiến của các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; nội dung đã được đương sự thống nhất, không thống nhất. Biên bản phải có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tham gia phiên họp, chữ ký của Thư ký phiên họp ghi biên bản và của Thẩm phán chủ trì phiên họp. Những người tham gia phiên họp có quyền được xem biên bản phiên họp ngay sau khi kết thúc phiên họp, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên họp và ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận.

Như vậy, Luật TTHC năm 2015 có quy định cụ thể về biên bản đối thoại, trong đó đáng chú ý là biên bản đối thoại phải có nội dung đã được đương sự thống nhất hoặc không thống nhất. Trên cơ sở ghi nhận ý kiến của các bên đương sự trong quá trình đối thoại, các nội dung mà đương sự đã thống nhất được với nhau cũng như nội dung mà các bên chưa thống nhất được để làm cơ sở cho Thẩm phán tiến hành đối thoại có hướng xử lý tiếp theo của việc giải quyết VAHC là tiếp tục xét xử hay đình chỉ giải quyết VAHC.

Điều 140 Luật TTHC năm 2015 đã quy định chi tiết về xử lý kết quả đối thoại. Theo đó có ba trường hợp có thể xảy ra:

Một là, các bên đương sự vẫn giữ yêu cầu của mình trong quá trình đối thoại. Đây là trường hợp giữa các bên đương sự đã không thể thống nhất với nhau về việc giải quyết VAHC nên Thẩm phán phải tiến hành thủ tục để đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa.

Hai là, người khởi kiện tự nguyện rút đơn khởi kiện. Trường hợp này Thẩm phán lập biên bản về việc người khởi kiện tự nguyện rút đơn khởi kiện, ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu của người khởi kiện và người khởi kiện được quyền khởi kiện lại nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn. Đây là trường hợp đơn phương hành động của người khởi kiện mà không cần có sự thống nhất với người bị kiện, vì trong quá trình đối thoại người khởi kiện nhận thức được các quyết định hành chính, hành vi hành chính cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc thực hiện là đúng với quy định của pháp luật nên họ đã tự nguyện rút đơn khởi kiện, họ đã tự xác định nếu tiếp tục theo đuổi vụ kiện cũng không đạt được kết quả như mong muốn lại mất thêm thời gian, công sức và tiền bạc.

Ba là, người bị kiện cam kết sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ quyết định bị khởi kiện hoặc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện cam kết rút đơn khởi kiện. Trường hợp này Tòa án lập biên bản về việc cam kết của đương sự. Đây là trường hợp thông qua đối thoại người bị kiện đã nhận thức được khiếu kiện do mình ban hành hoặc thực hiện là không đúng với quy định của pháp luật nên đã cam kết sửa đổi, hủy bỏ, bổ sung hoặc thay thế, trong đó đối với người khởi kiện mặc dù VAHC chưa được giải quyết bằng phán quyết của Tòa án nhưng mục đích tham gia tố tụng đã đạt được nên cam kết rút đơn khởi kiện để sớm chấm dứt việc giải quyết VAHC. Trên cơ sở các bên tham gia đối thoại đạt được sự đồng thuận trong việc giải quyết tranh chấp đang phát sinh nên các bên đương sự trong vụ án đều phải thực hiện những hành vi pháp lý nhất định mà các bên đã thỏa thuận. Luật TTHC năm 2015 cũng quy định rõ thời hạn để các bên thực hiện cam kết của mình, cụ thể: Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản, người bị kiện phải gửi cho Tòa án quyết định hành chính mới hoặc thông báo về việc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện phải gửi cho Tòa án văn bản rút đơn khởi kiện. Hết thời hạn này mà một trong các đương sự không thực hiện cam kết của mình thì Thẩm phán tiến hành các thủ tục để mở phiên tòa xét xử vụ án. Trường hợp nhận được quyết định hành chính mới hoặc văn bản rút đơn khởi kiện thì Tòa án phải thông báo cho các đương sự khác biết. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, nếu các đương sự không có ý kiến phản đối thì Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ việc giải quyết vụ án và gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp.[9]

Nhìn chung, Luật TTHC năm 2015 đã rất hợp lý khi dành khoảng thời gian nhất định để các bên tham gia đối thoại thực hiện cam kết của mình thì Thẩm phán mới ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, tránh trường hợp một trong các bên đối thoại không thực hiện đúng cam kết ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên còn lại. Tuy nhiên, đối với trường hợp nhận được quyết định hành chính mới hoặc văn bản rút đơn khởi kiện thì Tòa án phải thông báo cho các đương sự khác biết, trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo nếu các đương sự không có ý kiến phản đối thì Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ việc giải quyết vụ án vẫn tồn tại một số điểm bất hợp lý:

Thứ nhất, có thể xảy ra tình huống người khởi kiện rút đơn khởi kiện nhưng người bị kiện không sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ quyết định bị khởi kiện hoặc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện trong thời hạn luật định. Lúc này, Toà án khi nhận được văn bản rút đơn khởi kiện của người khởi kiện sẽ thông báo cho người bị kiện biết, và nếu người bị kiện không có ý kiến phản đối thì Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ việc giải quyết vụ án. Rõ ràng, đây không phải kết quả mà người khởi kiện mong muốn, cũng không phải tình huống mà điều luật muốn hướng đến.

Thứ hai, trường hợp người bị kiện sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ quyết định bị khởi kiện hoặc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện, Toà án thông báo cho người khởi kiện biết, trong thời hạn luật định, người khởi kiện không có ý kiến phản đối thì Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ việc giải quyết vụ án. Luật TTHC coi sự im lặng của người khởi kiện đồng nghĩa với việc người khởi kiện đồng ý với quyết định hành chính mới. Tuy nhiên, một trong những nguyên tắc của tố tụng hành chính là bảo đảm quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự. Theo đó, Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ án hành chính khi có đơn khởi kiện của người khởi kiện. Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, người khởi kiện có quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện, thực hiện các quyền tố tụng khác của mình theo quy định của Luật TTHC năm 2015.[10] Theo nội dung nguyên tắc này, người khởi kiện thực hiện việc khởi kiện, thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện cũng như các quyền khác đều cần thể hiện ý chí của mình dưới dạng văn bản – hình thức thể hiện ý chí rõ ràng nhất. Vì vậy, Luật TTHC năm 2015 quy định Toà án căn cứ vào việc người khởi kiện “không có ý kiến phản đối” nếu đã biết về việc người bị kiện sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ quyết định bị khởi kiện hoặc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện để ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ việc giải quyết vụ án mà không cần văn bản rút đơn khởi kiện có thể tạo ra sự không thống nhất trong quy định pháp luật, không thể hiện được quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự mà Luật TTHC năm 2015 bảo vệ.

5. Kiến nghị và đề xuất

Một là, cần xem xét thêm về quy định các trường hợp tiến hành đối thoại

Theo quy định của Luật TTHC hiện hành, hoạt động đối thoại có thể được tổ chức trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, giai đoạn xét xử sơ thẩm và sau khi mở phiên tòa trong việc giải quyết theo thủ tục rút gọn. Tuy nhiên, một trong những nguyên tắc mà Luật TTHC quy định trong giải quyết VAHC là Tòa án tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự đối thoại với nhau về việc giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Như vậy, để bảo đảm nguyên tắc này được thực hiện trên thực tế, cần mở rộng hơn nữa các trường hợp tiến hành đối thoại, cụ thể trong giai đoạn phúc thẩm. Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên thực hiện việc xét xử lại mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị. Có thể thấy đối với trường hợp bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, những mâu thuẫn tranh chấp trong vụ án giữa các bên đương sự vẫn chưa được giải quyết một cách thấu đáo, do đó họ mới thực hiện quyền kháng cáo của mình lên cấp cao hơn. Tương tự như vai trò của đối thoại trong việc giải quyết VAHC trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, đối thoại trong giai đoạn xét xử phúc thẩm sẽ giúp cho Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc nắm rõ hơn yêu cầu của các bên cũng như tình tiết của vụ việc, các bên cũng có quyền trình bày các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quan điểm của mình về sự việc và đưa ra hướng giải quyết vụ việc sau khi đã có bản án của Tòa án cấp sơ thẩm. Từ đó, đối thoại tạo cơ hội cho các bên có thể đưa ra một thỏa thuận chung nhằm giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật mà không cần phải tiến hành đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm. Tuy nhiên, việc quy định về thủ tục đối thoại trong giai đoạn phúc thẩm cũng cần được xem xét cẩn trọng, kĩ lưỡng, vì giai đoạn phúc thẩm có những đặc thù nhất định so với giai đoạn sơ thẩm, nhằm đảm bảo việc tiến hành đối thoại diễn ra hiệu quả, thực chất, hướng tới việc giải quyết VAHC một cách hợp tình hợp lý cho cả hai bên đương sự.

Ngoài ra, pháp luật cần phân biệt và quy định một cách cụ thể các trường hợp không được tiến hành đối thoại. Khác với các trường hợp không tiến hành đối thoại được, các trường hợp không được tiến hành đối thoại là các trường hợp mà nếu Tòa án tổ chức đối thoại giữa các bên sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình tố tụng, lợi ích của các bên đương sự cũng như lợi ích của toàn xã hội. Một số trường hợp không tiến hành đối thoại được có thể kể đến như các trường hợp có liên quan đến tài sản quốc gia, bí mật quốc gia, hoặc trong trường hợp hai bên đề nghị không tiến hành đối thoại…

Hai là, cần quy định cụ thể hơn về thành phần tham gia đối thoại trong một số trường hợp

Pháp luật tố tụng hành chính hiện hành mặc dù đã quy định về thành phần tham gia đối thoại tương đối cụ thể và hợp lý, song vẫn còn mang tính khái quát cao, đối với một số trường hợp đặc thù cần có những quy định pháp luật riêng. Cụ thể trên thực tế, trong một số trường hợp đặc biệt như vụ án có nhiều người khởi kiện, hoặc đối với những vụ án phức tạp cần có sự tham gia của các chuyên gia trong lĩnh vực đất đai, thuế,… hoạt động đối thoại cần được tiến hành mà có thể không bao gồm đầy đủ các thành phần tham gia như quy định hiện hành, hoặc một số trường hợp cần phải quy định bắt buộc đối với một số chủ thể nhất định. Pháp luật cần dự liệu các trường hợp cụ thể này và nên quy định bổ sung trong các văn bản hướng dẫn thi hành luật nhằm đảm bảo hoạt động đối thoại được tiến hành một cách hiệu quả trên thực tế.

Ngoài ra, đối với chủ thể là cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, việc tham gia phiên họp cần được pháp luật tố tụng hành chính quy định cụ thể hơn. Pháp luật hiện hành chỉ quy định trong “trường hợp cần thiết”, Thẩm phán có quyền yêu cầu những chủ thể này tham gia phiên họp đối thoại mà không xác định rõ trường hợp cần thiết này là trường hợp nào. Việc quy định cụ thể các trường hợp này đảm bảo cho Thẩm phán có cơ sở pháp lý trong việc yêu cầu cơ quan, tổ chức cá nhân có liên quan tham gia phiên họp, đồng thời giúp các bên đương sự có cơ sở để xem xét việc tham gia của các chủ thể này trong phiên họp đối thoại hợp pháp hay không.

Ba là, cần bổ sung thêm các quy định hướng dẫn về các trường hợp các bên đương sự tự đối thoại làm căn cứ để tạm ngừng phiên tòa xét xử sơ thẩm, hay thủ tục tiến hành đối thoại tại phiên tòa theo thủ tục rút gọn

Hiện nay pháp luật tố tụng hành chính mới chỉ quy định một cách cụ thể các vấn đề cơ bản về thủ tục đối thoại trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, trong khi đó đối với trường hợp các bên đương sự tự đối thoại trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hay đối thoại tại phiên tòa theo thủ tục rút gọn thì pháp luật vẫn chưa có quy định và cũng không dẫn chiếu tới những quy định về đối thoại trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc tổ chức đối thoại trong hai trường hợp trên trong thực tiễn, có thể dẫn tới tình trạng áp dụng pháp luật không đồng bộ hoặc không áp dụng pháp luật trong trường hợp này với lý do không có cơ sở pháp lý. Để hoàn thiện pháp luật về đối thoại trong giải quyết VAHC, pháp luật tố tụng hành chính cần thiết phải bổ sung những quy định về những vấn đề như nguyên tắc tiến hành đối thoại, quy trình đối thoại hay xử lý kết quả đối thoại trong hai trường hợp trên, sớm ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể nhằm đảm bảo hoạt động đối thoại trên thực tế được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả.

Bốn là, cần sửa đổi quy định về xử lý kết quả đối thoại trong trường hợp người bị kiện cam kết sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ quyết định bị khởi kiện hoặc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện cam kết rút đơn khởi kiện

Để khắc phục những bất cập đã phân tích ở trên, cần sửa đổi khoản 3 Điều 140 Luật TTHC năm 2015 theo hướng bảo đảm rằng chỉ khi người bị kiện thực hiện cam kết của mình và người khởi kiện thể hiện rõ ràng ý chí của mình trong việc đồng ý với sự thay đổi của người bị kiện thì Toà án mới có cơ sở để công nhận kết quả đối thoại thành. Nói cách khác, Toà án chỉ công nhận kết quả đối thoại thành khi người bị kiện sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ quyết định bị khởi kiện hoặc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện người khởi kiện có văn bản rút đơn khởi kiện. Theo đó, sửa đổi cụm từ “các đương sự không có ý kiến phản đối” ở đoạn 2 khoản 3 Điều 140 thành “bên đương sự còn lại thực hiện cam kết của mình”.

Thủ tục đối thoại xét trong toàn bộ quá trình tố tụng đóng vai trò rất lớn, góp phần làm VAHC được giải quyết một cách nhanh chóng, tiết kiệm được thời gian, chi phí và công sức, nâng cao hiệu quả của hoạt động xét xử. Vì vậy, để thủ tục đối thoại đạt được hiệu quả như mong muốn, các vấn đề liên quan đến đối thoại cần phải được tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện Luật Tố tụng hành chính trong những lần sửa đổi, bổ sung sau này.

 

[1] Khoản 1 Điều 134 Luật TTHC năm 2015

[2] Điều 135 Luật TTHC năm 2015

[3] Điểm đ, khoản 1 Điều 187 Luật TTHC năm 2015

[4] Điều 249 Luật TTHC năm 2015

[5] Khoản 1 Điều 137 Luật TTHC năm 2015

[6] Khoản 2 Điều 137 Luật TTHC năm 2015

[7] Khoản 1 Điều 136 Luật TTHC năm 2015

[8] Khoản 4 Điều 138 Luật TTHC năm 2015

[9] Khoản 3 Điều 140 Luật TTHC năm 2015

[10] Điều 8 Luật TTHC năm 2015

 
Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi