QĐ Kháng nghị Giám đốc thẩm đối với Bản án HNGĐ Phúc thẩm về "Tranh chấp không công nhận vợ chồng, chia tài sản chung và con chung"

QUYẾT ĐỊNH

KHÁNG NGHỊ GIÁM ĐỐC THẨM

Đối với Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 05/2020/HNGĐ-PT ngày
24/4/2020 của Toà án nhân dân tỉnh
Đ

VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI Đ

-       Căn cứ Điểu 326, Điều 331 và Điểu 332 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

-       Căn cứ Điều 5, Điều 27 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014,

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án "Tranh chấp không công nhận vợ chồng, chia

tài sản chung và con chung", giữa:

Nguyên đơn: ông Võ T; địa chỉ: 87 Ngô Quyền, thôn 2, xã Trà Đa thành phố P, tỉnh G.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H; địa chỉ: Buôn Ea Tiêu, xã Ea Tiêu, huyện C, tỉnh Đ.

Ngưòi làm chứng:

- Ông Y Dũng K, ông Y Lu B, bà H’N, bà ITLư B, bà H’Mưn K; cùng địa chỉ: Buôn Ea Tiêu, xã Ea Tiêu, huyện C, tỉnh Đ.

- Ông Nguyễn Vạn Ư; địa chỉ: Thôn 8, xã Ea Tiêu, huyện C, tỉnh Đ.

                   - Ông Nguyễn H; địa chỉ: Thôn 7, xã Ea Ktur, huyện C, tỉnh Đ.                         

                                                                                                                                                                                                                                NHẬN THẤY:

Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 05/2020/HNGĐ-PT ngày 24/4/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Đ quyết định:

“Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Võ T.

Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị số 1056/QĐKNPT-VKS-DS của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đ.

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng đối với ông Võ T và bà Nguyễn Thị H.

Về con chung: Giao con chung Vô Ngọc Thùy Tr cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, gỉáo dục đến đủ tuổi thành niên...

Về tài sản chung: Không chấp nhận yêu câu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ T về phân chia tài sản chung đối với: Diện tích đất 720m2 thuộc thửa đất so 3402a, t bản đồ s 18 tại buôn Ea Tiêu, xã Ea Tiêu, huyện K (nay là huyện C), tỉnh Đ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do y ban nhân dân huyện K, tỉnh Đ cấp ngày 05/3/2001 đng tên hộ bà Nguyễn Thị H và diện tích đất 768m2 thuộc thửa đất s 3402, tờ bản đồ s 18, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do y ban nhản dân huyện K, tỉnh Đ cấp ngày 05/3/2001 đứng tên bà H Dak B cùng các tài sản trên đất”.

Ngoài ra, bản án phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Ngày 22/6/2020, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng nhận được đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm của ông Võ T đối vói Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 05/2020/HNGĐ-PT ngày 24/4/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Đ.

                                                                                                                                                                                                                XÉT THẤY:

-    Về quan hệ hôn nhân và con chung: Ông Võ T và bà Nguyễn Thị H chung sống với nhau nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn nên Bản án sơ thẩm, Bản án phúc thẩm không công nhận ông T, bà H là vợ chồng; giao cháu Võ Ngọc Thùy Tr, sinh ngày 19/6/2006 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là đúng quy định pháp luật.

-    Về tài sản tranh chấp: Thửa đất số 3402a, tờ bản đồ số 18 diện tích 720m2 và thửa đất số 3402, tờ bản đồ số 18, có diện tích khoảng 768m2 (theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ) tại buôn Ea Tiêu, xã Ea Tiêu, huyện K (nay là huyện C), tỉnh Đ; ngôi nhà xây cấp 4, nhà kho, kho lò sấy cà phê, tường rào.

Xét về thời gian ông T và bà H sống chung vói nhau: Các nhân chứng gồm: Bà H’Mưn K, ông Nguyễn Vạn Ư, ông Nguyễn H đều khai, ông T, bà H chung sống với nhau từ năm 1998 đến năm 2010 tại buôn Ea Tiêu, xã Ea Tiêu, huyện K (nay là huyện C), tỉnh Đ (BL 227, 228, 302, 330). sổ hộ khẩu số 320/BT lập ngày 14/10/2007, chủ hộ là bà Nguyễn Thị H, 02 con là cháu C, cháu Tr, chồng là ông T (BL 190). Công văn số 393/UBND-CAX ngày 12/9/2019 của y ban nhân dân xã Ea Tiêu, huyện C xác định bà H có kê khai nhân khẩu vào ngày 03/10/2007, tại mục Quan hệ gia đình bà H ghi chồng là ông Võ T, chỗ ở là buôn Ea Tiêu, xã Ea Tiêu (BL 189). ông Võ T được Công an tỉnh Đ cấp Giấy chứng minh nhân dân ngày 02/7/2008. Kết quả xác minh của y ban nhân dân xã Ea Tiêu là ông Võ T có sinh sống tại buôn Ea Tiêu, xã Ea Tiêu từ khoảng năm 2002 đến năm 2009.

Bản án sơ thẩm, Bản án phúc thẩm chỉ căn cứ vào Biên bản xác minh ngày 03/3/2020 của Công an xã Ea Tiêu, huyện C và Công văn số 630/CV- CAH(QLHC) ngày 27/3/2020 của Công an huyện C, tỉnh Đ về việc trong hồ sơ sổ bộ, tàng thư hộ khẩu không có tên ông Võ T mà không căn cứ vào Công văn trả lời của y ban nhân dân xã Ea Tiêu và lời khai của các nhân chứng là không khách quan, toàn diện. Chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện, ông T và bà H chung sống như vợ chồng tại buôn Ea Tiêu, xã Ea Tiêu, huyện K (nay là huyện C), tỉnh Đ từ năm 1998 đến năm 2010.

Xét quá trình hình thành tài sản chung: Năm 2001, 2002 bà H nhận chuyển nhượng 02 thửa đất tại buôn Ea Tiêu, xã Ea Tiêu, huyện K (nay là huyện C), tỉnh Đ của bà H’Dak B. Trong đó: Thửa đất số 3402a, tờ bản đồ số 18, diện tích 720m2 được y ban nhân dân huyện K, tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/3/2001 đứng tên hộ Nguyễn Thị Hồng (BL 62, 234, 235); Thửa đất số 3402, tờ bản đồ số 18, diện tích 768m , chưa chỉnh lý biến động, Giy chứng nhận quyn sử dụng đt ngày 05/3/2001 đứng tên hộ H’Dak B (BL 57, 231, 232). Theo kết quả xác minh ngày 10/6/2019 thì vợ chồng bà H Dak B đã chết và không có con cái; diện tích đất 768m2 bà H đã quản lý sử dụng từ thời điểm chuyển nhượng đến nay, không có ai tranh chấp (BL 123, 124, 125). Tài sản trên đất bao gồm nhà cấp 4, nhà kho, lò sấy cà phê và tường rào.

Các nhân chứng bà H’Mưn K, bà H’Nhẽ B, ông Lê Văn T, ông Nguyễn Vạn Ư đều trình bày thời gian hình thành tài sản trên đất của bà H, ông T vào khoảng từ năm 2001 đến năm 2008. Quá trình xây dựng các công trình ông T đều tham gia. Ông Nguyễn Công Tr (chồng hiện tại của bà H) cũng khai nhận về tài sản của bà H gồm đất và nhà ở cũ từ trước tới nay là của bà H (BL 144). Trung tâm kiểm định xây dựng - Sở xây dựng tỉnh Đ không thể thực hiện được việc giám định thời điểm hình thành các tài sản tranh chấp nêu trên.

Như vậy, ông T và bà H chung sống như vợ chồng từ năm 1998 đến năm 2010 tại buôn Ea Tiêu, xã Ea Tiêu, huyện K (nay là huyện C), tỉnh Đ, có 02 con chung và tạo lập được một số tài sản. Bà H không chứng minh được nguồn gốc số tiền Bà dùng để nhận chuyển nhượng 02 thửa đất nêu trên là khoản tiền riêng. Bản cam kết ngày 06/5/2009, ông T và bà H thỏa thuận “Phần tài sản trong gia đình giao lại cho bà Nguyễn Thị H toàn quyền quyết định” nhưng đây chỉ là giấy viết tay, không được công chứng, chứng thực. Vì vậy, áp dụng quy định của khoản 3 Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để xác định khối tài sản ông T, bà H đang tranh chấp là tài sản chung. Tuy nhiên, về quá trình quản lý, sử dụng, gìn giữ tài sản trong thời gian chung sống thì cần xem xét việc bà H có công sức đóng góp nhiều hơn ông T. Đối với những tài sản hình thành sau năm 2010 là tài sản riêng của bà H.

Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 05/2020/HNGĐ-PT ngày 24/4/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Đắ không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ T về phân chia tài sản chung là không có căn cứ, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông T.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1.     Kháng nghị đối với Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 05/2020/HNGĐ- PT ngày 24/4/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Đ.
  2.    Đề nghị Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân cấp cao tại Đ xét xử giám đốc thẩm, huỷ phần chia tài sản chung của Bản án phúc thẩm nêu trên và phần chia tài sản chung của Bản án sơ thẩm số 28/2019/HNGĐ-ST ngày 17/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đ; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đ để xét xử lại sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật./.
Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi