QĐ Kháng nghị GĐT đối với Bản án Phúc thẩm DS về "Tranh chấp HĐDS và franh chấp có liên quan đến TS bị cưỡng chế đề THADS"

QUYẾT ĐỊNH
KHÁNG NGHỊ GIÁM ĐỐC THẨM

Đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 09/2020/DS-PT ngày 15/5/2020
của Tòa án nhân dân tỉnh T

VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIÊM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

Căn cứ Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;

Căn cứ Điều 326, Điều 331 và Điều 332 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án “Tranh chấp về hợp đồng dân sự và tranh chấp có liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự”, giữa:

Nguyên đơn: Bà Hoàng Kim C; địa chỉ: Khu vực 3, thị trấn Phú Lộc, huyện P, tỉnh T.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M, ông Hoàng Xuân K; địa chỉ: số 63 Tả A Trạch, thị trấn K, huyện N, tỉnh T.                                                                                                      

                                                                                                              

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:                                                     

-    Ông Nguyễn Xuân S; địa chỉ: Khu vực 3, thị trấn Phú Lộc, huyện P, tỉnh T.

-     Bà Trần Thị H; địa chỉ: Thôn Cao Đôi Xã, xã Lộc Trì, huyện P, tỉnh T.

-     Bà Nguyễn Thị Kim H; địa chỉ: Số 120 Khe Tre, thị trấn Khe Tre, huyện N, tỉnh T.

-    Bà Phạm Thị P, ông Lại Quốc Đ; địa chỉ: Số 81 Tả Trạch, thị trấn K, huyện N, tỉnh T.

-    Bà Trần Thị T; địa chỉ: số 12 Đặng Hữu Khuê, thị trấn K, huyện N, tỉnh T.

-       Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, tỉnh T.

NHẬN THẤY:

Bản án dân sự phúc thẩm số 09/2020/DS-PT ngày 15/5/2020 của Toà án


nhân dân tỉnh T, quyết định:

“Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Kim C, chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyên Thị Kim H, bà Phạm Thị P, ông Lại Quốc Đ và bà Trần Thị T.

Tuyên bố Hợp đồng mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhà ở giữa bà Hoàng Kim C với ông Hoàng Xuân K, bà Nguyễn Thị M lập ngày 05/5/2013 đối với thửa đất sổ 44, tờ bản đồ 13 (giấy CNQSDĐ số Q 510194) nay là thửa đất sổ 101, tờ bản đồ số 16, diện tích 267,9m2 và tài sản gắn liền với đất là 01 ngôi nhà xây cấp IV theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số phát hành cc 342131 cấp ngày 30/12/2016 tọa lạc tại 63 Tả Trạch, Tổ dân phố 4, thị trấn K, huyện N, tỉnh T vô hiệu.

Bà Hoàng Kim C có trách nhiệm hoàn trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số phát hành CC 342131 cấp ngày 30/12/2016 cho ông Hoàng Xuân K và bà Nguyên Thị M.

Ông Hoàng Xuân K và bà Nguyễn Thị M được quyền sử dụng diện tích đất 267,9m2, thửa đất số 101, tờ bản đồ số 16 và tài sản gắn liền trên đất tọa lạc tại 63 Tả Trạch, Tổ dân phố 4, thị trấn K, huyện N, tỉnh T.

Buộc ông Hoấng Xuân K và bà Nguyễn Thị M phải trả lại số tiền 800.000.000 đồng cho bà Hoàng Thị Kim C”.

Ngoài ra, bản án phúc thẩm còn quyết định về án phí, chi phí thẩm định, định giá.

Ngày 13/8/2020, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng nhận được đơn của bà Hoàng Kim C đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 09/2020/DS-PT ngày 15/5/2020 của Toà án nhân dân tỉnh T.

XÉT THẤY:

                        1.  Về tố tụng:

                  Nguyên đơn bà Hoàng Kim C không yêu cầu Tòa án buộc ông Hoàng Xuân K và bà Nguyễn Thị M phải trả lại số tiền 800.000.000 đồng, nhưng Bản án phúc thẩm lại buộc ông K và bà M phải trả cho bà C số tiền 800.000.000 đồng là vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vi phạm khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

                          2. Về nội dung:

Ngày 27/12/2012, bà Hoàng Kim C bảo lãnh cho vợ chồng ông Hoàng Xuân K, bà Nguyễn Thị M vay của bà Trần Thị H số tiền 800.000.000 đồng, trả góp mỗi tháng 20.000.000 đồng, ông K, bà M thế chấp cho bà H Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q510194 cấp ngày 24/11/2004 (BL 97).

Sau khi vay khoảng 01 tháng, ông K, bà M không có khả năng trả nợ theo thỏa thuận. Vì vậy, ngày 05/5/2013, bà C trả cho bà H 800.000.000 đồng và nhận lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông K, bà M. Đồng thời, vợ chồng ông K, bà M lập Hợp đồng chuyển nhượng cho bà C nhà, đất nêu trên (Hợp đồng chưa được công chứng, chứng thực) (BL 05).

Bà Trần Thị H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án thừa nhận, năm 2013, bà C đã trả nợ cho bà H thay cho vợ chồng ông K, bà M số tiền 800.000.000 đồng; bà H đã trả lại cho bà C Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông K, bà M (BL 187-189).

Như vậy, vào năm 2013, bà C đã trả nợ thay cho ông K, bà M số tiền 800.000.000đ và nhận lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông K, bà M là có thật. Sau đó, vợ chồng ông K, bà M đã lập hợp chuyển nhượng nhà, đất cho bà C là hoàn toàn hợp lý, vì số tiền 800.000.000đ tương đưomg với giá trị nhà, đất tại thời điểm chuyển nhượng.

Năm 2016 và năm 2017, Tòa án nhân dân huyện N mới ban hành các Quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa vợ chồng ông K, bà M với bà Nguyễn Thị Kim H; bà Trần Thị T; bà Phạm Thị P; ông Lại Quốc Đ.

Xét về hình thức hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất:

Hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất giữa vợ chồng ông K, bà M với bà C chưa được công chứng, chứng thực, nhưng không bị vô hiệu, bởi: Theo quy định tại Điều 401 Bộ luật Dân sự 2005 thì hợp đồng không vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức.

Điều 136 Bộ luật Dân sự 2005 và Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015 đều quy định về thời hiệu yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ về hình thức là 02 năm kể từ ngày xác lập hợp đồng.

Khoản 2 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực”.

Bà Nguyễn Thị M, ông Hoàng Xuân K và bà Hoàng Kim C đều cho rằng các bên đã trả tiền, bàn giao nhà và đất, tức là đã thực hiện xong Hợp đồng chuyển nhượng ngày 05/5/2013. Tại Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015, quy định: “Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện xong hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó”.


Ngày 05/5/2013, bà C đã trả đủ 800.000.000 đồng, ông K và bà M đã bàn giao nhà đất, nhưng sau đó do ông K, bà M không có chỗ ở nên bà C cho ông K, bà M tiếp tục ở trong ngôi nhà trên, trong thời hạn 02 năm không có ai khởi kiện yêu cầu tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng này nên hợp đồng có hiệu lực pháp luật. Năm 2016 và năm 2017, Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh T mới ban hành các Quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa vợ chồng ông K, bà M với bà Nguyễn Thị Kim H; bà Trần Thị T; bà Phạm Thị P; ông Lại Quốc Đ. Như vậy, việc giao dịch chuyển nhượng đã hoàn thành trước khi có Quyết định của Tòa án.

Sau khi Chi cục Thi hành án dân sự huyện N kê biên tài sản trên của bà C để thi hành án đối với các Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, nên bà C khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận hiệu lực của hợp đồng và yêu cầu ông K, bà M tiếp tục thực hiện hợp đồng; ông K, bà M đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Tòa án cấp phúc thẩm nhận định, năm 2013, bà C đã trả cho bà H 800.000.000 đồng thay cho ông K, bà M; sau khi bà C trả nợ thay, ông K, bà M đã lập hợp đồng chuyển nhượng nhà đất cho bà C, hợp đồng không được công chứng, chứng thực là có thật. Nhưng Tòa án cấp phúc thấm lại cho rằng, Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất ông K, bà M với bà C nhằm tẩu tán tài sản là không có căn cứ.

Như vậy, Bản án dân sự phúc thẩm số 09/2020/DS-PT ngày 15/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh T không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Kim C; buộc ông Hoàng Xuân K và bà Nguyễn Thị M phải trả cho bà C số tiền 800.000.000 đồng là không có căn cứ, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Hoàng Kim C.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

                1. Kháng nghị đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 09/2020/DS-PT ngày 15/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh T.

                2. Đề nghị Ủy ban Thẩm phán Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử giám đốc thẩm, hủy Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2019/DS-ST ngày 30/10/2019 của Toà án nhân dân huyện N, tỉnh T; giao hồ sơ cho Toà án nhân dân huyện N, tỉnh T xét xử lại sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật

                3. Tạm đình chỉ thi hành Bản án dân sự phúc thẩm số 09/2020/DS-PT ngày 15/5/2020 của Tòa án nhân đân tỉnh T cho đến khi có Quyết định giám đốc thẩm./.


          

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi