QĐ Kháng nghị Giám đốc thẩm đối với Bản án phúc thẩm về "Tranh chấp quyến sử dụng đất" tỉnh Đ

QUYẾT ĐỊNH

KHÁNG NGHỊ GIÁM ĐỐC THẨM

Đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 117/2020/DSPT
ngày 12/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đ

VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

Căn cứ Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;

Căn cứ Điều 326, Điều 331 và Điều 332 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất", giữa:

Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Đ; địa chỉ: số nhà 24/4 thôn Kim Phát, xã Hoà Hiệp, huyện C, tỉnh Đ.                                                                                                       

Bị đơn: Bà Phạm Thị Minh P; địa chỉ: số nhà 13/4 thôn Kim Phát, xã V Hoà Hiệp, huyện C, tỉnh Đ.

Cùng một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác.

NHẬN THẤY:

Bản án sơ thẩm số 26/2019/DS-ST ngày 30/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đ, quyết định:

“Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị Đ đối với việc yêu cầu bị đơn bà Phạm Thị Minh P phải trả lại cho nguyên đơn bà Hoàng Thị Đ diện tích đất của thửa 3531, tờ bản đồ số 22 tại thôn Kim Phát, xã Hòa Hiệp, huyện C, tỉnh Đ...”

Ngày 14/10/2019, bà Hoàng Thị Đ kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Bản án phúc thẩm số 117/2020/DSPT ngày 12/6/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Đ, quyết định:

“Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Hoàng Thị Đ;

Sửa Bản án sơ thẩm số 26/2019/DS- ST ngày 30/9/2019 của TAND huyện C; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị Đ;

Công nhận bà Hoàng Thị Đ và ông Đặng Văn K được quyền sử dụng thửa đất số 3531, tờ bản đồ số 22. Thửa đất toạ lạc tại thôn Kim Phát, xã Hoà Hiệp, huyện C, tỉnh Đ...

Buộc bà Phạm Thị Minh P và ông Nguyễn Thiên H phải trả lại cho bà Hoàng Thị Đ và ông Đặng Văn K thửa đất nói trên (thửa số 3531, tờ bản đồ số 22 toạ lạc tại thôn Kim Phát, xã Hoà Hiệp, huyện C, tỉnh Đ);

Bà Hoàng Thị Đ và ông Đặng Văn K có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyển sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đối với diện tích đất nói trên theo quy định pháp luật đất đai và pháp luật về nhà ở'.

Kiến nghị UBND huyện C thu hồi, huỷ bỏ giá trị pháp lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI695885 cấp ngày 24/10/2018 cho bà Phạm Thị Minh P;

Kiến nghị Chánh án Toà án nhân dân tối cao xem xét kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với Bản án hành chính phúc thẩm số 72/2018/HC-PT ngày 28/5/2018 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng”.

Ngoài ra, bản án phúc thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí.

Ngày 06/7/2020, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng nhận được đơn của bà Phạm Thị Minh P đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm đối với Bản án phúc thẩm số 117/2020/DSPT ngày 12/6/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Đ

XÉT THẤY:

- Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Hoàng Thị Đ trình bày:

Thửa 3531 tờ bản đồ số 22, tọa lạc tại thôn Kim Phát, xã Hòa Hiệp do Hợp tác xã Hoà Hiệp IV cấp cho gia đình Bà năm 1990. Sau khi được cấp đất, gia đình Bà sử dụng trồng màu khoảng 02 năm, do ông K ốm yếu không đủ lực canh tác nên để đất trắng, không ai quản lý. Tuy nhiên, khi đi kê khai đăng ký thì Bà ghi mục đích sử dụng đất thửa 3629 là “đất màu” vì nghĩ đã được cấp thửa 3531 thổ cư rồi, sau khi Nhà nước hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cấp sai mục đích sử dụng đã chuyển một phần thành đất thổ cư.

Quá trình sử dụng đất, Bà đều nộp thuế đầy đủ nhưng không xác định được nộp thuế cho khoản nào, nhưng xác định có thửa 3531, đến khi Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bị đơn thì Bà mới không nộp thuế nữa. Thực tế, Bà không sử dụng thửa đất 3531 từ năm 1993 mà do bị đơn sử dụng từ cuối năm 1993, không được sự đồng ý của Bà.

Đối với kết quả giải quyết vụ án hành chính, Bà không đồng ý khi Tòa án các cấp xác định thửa 3531 là của bị đơn dựa trên các chứng cứ giả mạo của Ủy ban nhân dân xã Hòa Hiệp và trên cơ sở đó Ủy ban nhân dân huyện đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn.

Vì vậy, Bà khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại thửa đất 3531, tờ bản đồ số 22 diện tích 530m2 tại thôn Kim Phát, xã Hoà Hiệp, huyện C, tỉnh Đ.

- Bị đơn bà Phạm Thị Minh P, trình bày:

Trước năm 1987, Bà chung sống với bố mẹ tại xã Hoà Hiệp, năm 1988 Bà lập gia đình và sinh sống tại buôn Hra Ea Hning, xã Hoà Hiệp (nay là xã Dray Bhăng). Ngày 01/02/1994, gia đình Bà có nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn Ư bà Phạm Thị N các diện tích đất gồm: Thửa 3533, tờ bản đồ số 22, diện tích 1.500m2, tại thôn Kim Phát, xã Hoà Hiệp (Sau này Bản đồ đo vẽ thành thửa 5333, diện tích 896m2 và thửa 5331 diện tích 530m2); Thửa 1337, tờ bản đồ số 06, diện tích 6.970m2, tại xã Dray Bhăng; Thửa 3808a tờ bản đồ số 24, diện tích 1.460m2 tại thôn Kim Phát, xã Hoà Hiệp; Thửa 3930 tờ bản đồ số 24 diện tích 1.190m2 tại thôn Kim Phát, xã Hoà Hiệp. Giá trị hợp đồng chuyển nhượng là 04 cây vàng 97 nhưng các bên thoả thuận viết trong hợp đồng là 4.000.000đ để giảm tiền thuế. Tại thời điểm chuyển nhượng các thửa đất, ông Ư đã có Giây chứng nhận quyền sử dụng đất và giao cho Bà giữ. Ông Ư viết “Giấy sang nhượng nhà đất thổ cư và đất màu” đề ngày 01/02/1994. Khi chuyển nhượng, các bên không tiến hành đo đạc mà chỉ cắm mốc giới, trên thửa đât 3533, tờ bản đồ số 22 có 01căn nhà nên gia đình Bà đã chuyển đến sinh sống ổn định từ khi nhận chuyển nhượng cho đến nay, mốc giới sử dụng không thay đổi: Phía Bắc giáp đất bà Trao (nay ông Điền đang sử dụng), phía Nam và phía Tây giáp đường, phía Đông giáp đất ông Sang và một phần đất ông Điền.

Đến năm 2001, gia đình Bà làm thủ tục và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2012, khi Ủy ban nhân dân xã Hoà Hiệp mời Bà làm việc để xác định lại các thửa đất đang sử dụng và thông báo về việc đã cấp nhầm diện tích đất của gia đình Bà đang sử dụng cho hộ bà Đ.

Cuối năm 2018, sau khi các Bản án hành chính có hiệu lực pháp luật, Bà được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 3531, tờ bản đồ số 22. Thửa đất này, từ trước đến nay Bà vẫn sử dụng trồng rau và cây ngắn ngày.

Bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì thửa đất 3531 Bà nhận chuyển nhượng hợp pháp, sử dụng ổn định với các hộ liền kề từ trước đến nay.

- Người có qưyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị N và ông Trần Văn Ư trình bày:

Năm 1978, Hợp tác xã Hoà Hiệp cấp cho gia đình Ông, Bà các thửa đất không liên kề nhau trong đó có thửa 3533 tờ bản đồ số 22 diện tích 1.500m2 đất thổ cư tại thôn Kim Phát, xã Hoà Hiệp. Khoảng những năm 1980 (không nhớ rõ năm nào), Ông, Bà kê khai đất ở thửa 3533 là 1.500m2. Sau đó được cấp GCNQSDĐ đối với thửa 3533. Gia đình Ông, Bà sinh sống trên thửa đất này từ năm 1978 đến cuối năm 1993, đầu năm 1994 thì sang nhượng cho gia đình Phạm Thị Minh P.

Tại thời điểm Ông, Bà sinh sống trên thửa 3533 có tứ cận giáp nhà ông Luận, bà Trao, ông Thể và giáp đường đi. Tài sản trên đất có 01 căn nhà gỗ cấp 4, một số cây cà phê, sầu riêng. Quá trình sinh sống trên thửa 3533, gia đình Ông, Bà sử dụng ổn định mốc giới, trồng chè tàu làm hàng rào chắn xung quanh bốn phía thửa đất để trồng rau và làm nhà ở; vị trí thửa 3533 bà P đang sử dụng vẫn đúng như vị trí đất Ông, Bà đã chuyển nhượng.

- Ủy ban nhân dân xã Hòa Hiệp, trình bày:

Tại thời điểm Sở đo vẽ xác định diện tích thửa 3533 là 920m2, thừa 3531 là 530m2 nhưng do không xác định được ai là người đang sử dụng đất dẫn đến cấp nhầm cho các hộ dân khi gọi tên các thửa đất. Theo sổ đăng ký ruộng đất lập năm 1993 lưu tại xã Hòa Hiệp thì thửa đất 3531, tờ bản đồ số 22 đăng ký tên ông Đặng Văn K. Hiện nay diện tích đất thực tế của thửa 3533 là 896m2, thừa 3531 là 509m2 đều do bà P quản lý, sử dụng từ năm 1994 đến nay.

Ngày 22/8/2011, Ủy ban nhân dân xã qua xử lý hồ sơ xin vay vốn của hộ ông Đặng Văn K đã phát hiện sai sót trong việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đặng Văn K và tiến hành kiểm tra thực địa sử dụng đất đối với thửa 3531, tờ bản đồ số 22. Ngày 07/9/2011, Ủy ban nhân dân xã Hòa Hiệp ban hành Tờ trình số 70/Ttr-UBND đề nghị Ủy ban nhân dân huyện thu hồi và hủy giá trị pháp lý quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 3531, tờ bản đồ số 22 diện tích 530m2.

Người làm chứng trình bày:

Ông Nguyên Dương Sang: Nguồn gổc thửa đất tranh chấp trước kia là của ông Nguyễn Văn Thông (tên gọi khác là Thể, bố đẻ của ông Sang, chết năm 1998) giao về Hợp tác xã để chia cho các hộ dân trong đó có hộ ông Trần Văn Ư và bà Phạm Thị N. Đến khoảng năm 1993 gia đình ông Ư sang nhượng lại cho gia đình bà P, hiện trạng đất từ trước đến nay không thay đổi và không thấy gia đình bà Đ sử dụng đất bao giờ.

Ông Nguyễn Văn Tín: Gia đình ông sinh sống tại địa phương từ năm 1975 cho đến nay, đất ông đang sử dụng có tứ cận giáp đất gia đình bà P, các bên sử dụng ổn định, không phát sinh tranh chấp. Gia đình ông Ư được Hợp tác xã cấp đất sau đó chuyền nhượng toàn bộ cho bà P, bà P sử dụng đất từ đó cho đến nay.

Căn cứ các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, thể hiện:

Về nguồn gốc thửa đất 3531, tờ bản đồ số 22, diện tích 530m2 các bên đang tranh chấp: Trước đây thuộc thửa 3533 diện tích 1.500m2, năm 1993 do Sở đo vẽ đã tách thành thửa 3533 diện tích 920m2 và thửa 3531 diện tích 530m2. Trước năm 1978, do ông Thể khai hoang; năm 1978, Hợp tác xã Hòa Hiệp thu hồi và cấp cho hộ gia đình ông Trần Văn Ư, bà Phạm Thị N; năm 1993, ông Ư, bà N chuyển nhượng cho bà Phạm Thị Minh P; bà P sử dụng ổn định từ đó đến nay (BL 142).

Ngày 05/8/1996, Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 885333 cho ông Đặng Văn K đối với thửa đất 3531, tờ bản đồ số 22, diện tích 530m2 (BL 36). Sau đó phát hiện có sai sót trong việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử sụng đất cho ông Đặng Văn K (BL 26) nên ngày 14/02/2012, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 316/QĐ- ƯBND thu hồi và hủy bỏ giá trị pháp lý quyền sử dụng đất đối với thửa đất 3531 và thửa đất 3629 đã cấp cho ông Đặng Văn K (BL 120). Không đồng ý với Quyết định của Ủy ban nhân dân huyện C, ông K đã khởi kiện vụ án hành chính.

Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 17/2014/HC-PT ngày 18/8/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Đ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Văn K hủy bỏ Quyết định số 316/QĐ-UBND ngày 14/02/2012 của Ủy ban nhân dân huyện C(BI 148-150).

Sau khi xét xử phúc thẩm, Ủy ban nhân dân huyện C đã ban hành Quyết định Số1455/QĐ-UBND ngày 16/4/2015 về việc thu hồi và hủy bỏ giá trị pháp lý cúa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 885333 ngày 05/8/1996 đối với thửa đất 3531(do thửa số 3531 cấp sai chủ sử dụng đất) và thửa 3629 (do thửa 3629 cấp sai mục đích sử dụng đất) đã cấp cho ông Đặng Văn K (BL 154); Cùng ngày 16/4/2015, Ủy ban nhân dân huyện C cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 3629 cho gia đình ông K (BL 08). Không đồng ý với Quyết định của Ủy ban nhân dân huyện C, ông K đã khởi kiện vụ án hành chính, đề nghị hủy một phần quyết định này.

Bản án hành chính phúc thẩm số 72/2018/HC-PT ngày 28/5/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Văn K (BL 151-154).

Như vậy, bà Phạm Thị Minh P nhận chuyển nhượng thửa đất 3531 hợp pháp và sử dụng ổn định từ năm 1994 đến nay. Bà Hoàng Thị Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà P trả cho Bà thửa đất 3531, nhưng bà Đ không có giấy tờ chứng minh về quyền sử dụng thửa đất 3531.

Bản án sơ thẩm số 26/2019/DS-ST ngày 30/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đ không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Đ về việc yêu cầu bà Phạm Thị Minh P trả lại thửa 3531, tờ bản đồ số 22, tại thôn Kim Phát, xã Hòa Hiệp, huyện C, tỉnh Đ là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bản án phúc thẩm số 117/2020/DSPT ngày 12/6/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Đ sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Đ là không có căn cứ, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Phạm Thị Minh P.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1.    Kháng nghị đối với Bản án phúc thẩm số 117/2020/DSPT ngày 12/6/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Đ.
  2.    Đề nghị Ủy ban Thẩm phán Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử giám đốc thẩm, hủy Bản án phúc thẩm số 117/2020/DSPT ngày 12/6/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Đ, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 26/2019/DS-ST ngày 30/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đ.
  3.    Tạm đình chỉ thi hành Bản án phúc thẩm số 117/2020/DSPT ngày 12/6/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Đ cho đến khi có Quyết định giám đốc thẩm./.
Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi