QĐ Kháng nghị phúc thẩm về vụ án HSST về tội "Trộm cắp tài sản"

QUYẾT ĐỊNH

KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM

VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH B

- Căn cứ Điều 41, Điều 336, 338 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Xét Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2020/HS-ST ngày 08/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh B đã xét xử bị cáo Hoàng Phúc Đ sinh năm 1992, trú tại thôn B, xã L, huyện C, tỉnh B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

NHẬN THẤY:

Theo quy kết của bản án sơ thẩm:

-      Ngày 02/3/2020, tại thôn Bản Vèn, xã L, huyện C, Hoàng Phúc Đ trộm cắp 01 ví tiền (trong có giấy tờ, số tiền 1.200.000đ) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samung A8 Plus (trị giá 5.694.000đ) của anh Nông Văn H. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 6.894.000đ. Sau đó Đ đem chiếc điện thoại bán cho anh Nguyễn Ngọc N được 900.000đ. Toàn bộ số tiền 2.100.000d (gồm 1.200.000đ trộm cắp và 900.000đ bán điện thoại), Hoàng Phúc Đ đã tiêu dùng cá nhân hết.

-      Ngày 26/3/2020, tại xã L, huyện C, Hoàng Phúc Đ trộm cắp 01 chiếc ti vi nhãn hiệu LG-LED TV, 55 inch (trị giá 28.965.500đ ) của Trường tiểu học và trung học cơ sở xã L.

Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2020/HSST ngày 08/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh B tuyên bố bị cáo Hoàng Phúc Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Phúc Đ 18 tháng tù.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Buộc bị cáo phải nộp lại 2.100.000đ (Hai triệu một trăm nghìn đồng) do phạm tội mà có để sung quỹ Nhà nước.

Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.

XÉT THẤY

Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2020/HSST ngày 08/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện C tuyên bị cáo Hoàng Phúc Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” và xử phạt bị cáo 18 (mười tám) tháng tù là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tuy nhiên việc án sơ thẩm buộc bị cáo nộp lại số tiền 2.100.000đ (Hai triệu một trăm nghìn đồng) do phạm tội mà có để sung quỹ Nhà nước là chưa phù hợp với quy định cùa pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Bởi lẽ:

Tại khoản 2 Điều 47- Bộ luật Hình sự quy định:

“1.......

2. Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp

Tại Điều 194 - Bộ luật Dân sự quy định: “Chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng, tiêu hủy hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản”.

Trong vụ án này bị hại là anh Nông Văn H đã được nhận lại chiếc ví cùng giấy tờ và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samung A8 Plus; Trường tiểu học và trung học cơ sở xã L nhận lại chiếc ti vi nhãn hiệu LG-LED TV, 55 inch. Bị hại Nông Văn H không yêu cầu Hoàng Phúc Đ bồi thường số tiền 1.200.000đ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Ngọc N cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường 900.000đ (là số tiền anh N đã bỏ ra để mua chiếc điện thoại mà bị cáo trộm cắp của anh H). Vì vậy theo quy định tại khoản 2 Điều 47- Bộ luật Hình sự và Điều 194 - Bộ luật Dân sự thì không buộc bị


cáo Hoàng Phúc Đ phải nộp lại số tiền 2.100.000d (Hai triệu một trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước. Mặt khác tại văn bản số 233/TANDTC-PC ngày 01/10/2019 của Tòa án nhân dân tối cao cũng đã nêu rõ về vấn đề này.

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo cũng như đảm bảo các quy định của pháp luật được thực hiện thống nhất, cần thiết phải sửa án sơ thẩm theo hướng đã phân tích ở trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Kháng nghị một phần (phần biện pháp tư pháp) bản án hình sự sơ thẩm số 13/2020/HS-ST ngày 08/9/2020 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh B.

Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh B xét xử vụ án theo thủ thục phúc thẩm, sửa bản án sơ thẩm theo hướng: không buộc bị cáo Hoàng Phúc Đ phải nộp lại số tiền 2.100.000đ (Hai triệu một trăm nghìn đồng) để sung quỹ nhà nước./.

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi