Tin tức - Sự kiện

Bài giảng của Phó Chánh án TANDTC Tống Anh Hào về nội dung cơ bản của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

Ngày đăng tin: 22/12/2016

Trong khuôn khổ hội nghị toàn ngành Kiểm sát nhân dân tập huấn các đạo luật mới về lĩnh vực tư pháp, ông Tống Anh Hào, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã trực tiếp thuyết trình những nội dung cơ bản của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Sau đây là lược ghi bài giảng của Phó Chánh án Tống Anh Hào, do biên tập viên của Kiemsat.vn thực hiện.

1. Quan điểm chỉ đạo xây dựng BLTTDS năm 2015
– Thể chế hóa quan điểm của Đảng được nêu trong Nghị quyết số 48, 49; kết luận số 72,92 của Bộ Chính trị. BLTTDS mới phải thể hiện tính công khai, minh bạch; xây dựng mô hình tố tụng xét hỏi kết hợp với tranh tụng.

– Cụ thể các quy định của Hiến pháp năm 2013 vào BLTTDS.

– Phải đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất với các Bộ luật, đạo luật khác.

– Xây dựng BLTTDS trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành BLTTDS năm 2004.

– Phải đảm bảo tính khả thi, hạn chế việc hướng dẫn.

– Phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập.

2. Những nội dung cơ bản của Bộ luật.

Bộ luật TTDS 2015 gồm 517 điều. Trong đó: sửa đổi là 350 điều, bổ sung 104 điều, bỏ 7 điều so với BLTTDS 2004. Phần chung là phần được sửa đổi, bổ sung nhiều nhất.

2.1. Về nguyên tắc chung: Sửa 4 vấn đề lớn.

– Khoản 2 Điều 4: Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng: Liên quan đến vấn đề này BLDS năm 2015 đã quy định rõ nguyên tắc giải quyết các vụ việc dân sự đó là: Tòa án áp dụng tương tự pháp luật, tập quán, nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự, án lệ và lẽ công bằng.

– Điều 13: Vai trò, nhiệm vụ của cơ quan tiến hành tố tụng: Đề cao xét xử công khai, nhưng cũng tôn trọng một số trường hợp đặc biệt cần xét xử kín; quy định về trách nhiệm bồi thường nhà nước của người tiến hành tố tụng khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình có hành vi trái pháp luật.

– Bổ sung trường hợp người tham gia tố tụng là người khuyết tật nghe, nói hoặc khuyết tật nhìn có quyền dùng ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật và phải có người biết ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật để dịch lại.

– Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự: Sửa đổi từ tranh luận thành tranh tụng.

+ Tranh tụng từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi giải quyết xong vụ án.

+ Quy định rõ hơn trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có quyền thu thập chứng cứ.

+ Chứng cứ phải được công khai

+ Phiên tòa xét xử tranh tụng phải đảm bảo dân chủ, đề cao vai trò của người tham gia tố tụng (vì tranh tụng tập trung nhất là ở phiên tòa) và phán quyết của Tòa án phải dựa trên kết quả của tranh tụng.

2.2. Những nội dung sửa đổi, bổ sung.

– Về thẩm quyền của Tòa án:

+ Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng. (Khoản 2 Điều 4)

+ Tất cả các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

+ Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết. Tòa án đưa cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền ban hành quyết định cá biệt trái pháp luật tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

+ Điểm mới bổ sung là TAND cấp huyện có Tòa chuyên trách là Tòa gia đình và người chưa thành niên (TAND cấp tỉnh đương nhiên có Tòa chuyên trách này).

– Người tiến hành tố tụng:

+ Bổ sung thêm chức danh tư pháp là Thẩm tra viên và Kiểm tra viên.

+ Bổ sung thêm thẩm quyền của Chánh án là: Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật nếu phát hiện có dấu hiệu trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.

+ Cụ thể hóa quyền của Kiểm sát viên (Điều 58): Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu; kiểm sát việc thụ lý giải quyết vụ việc dân sự; yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ và có quyền thu thập tài liệu chứng cứ theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm; đề nghị Viện trưởng VKS có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật.

– Thủ tục rút gọn: Quy định mới về thủ tục rút gọn là việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn do 01 Thẩm phán thực hiện.

– Người tham gia tố tụng:

+ Đương sự: Bổ sung thêm người yêu cầu giải quyết việc dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự.

+ Quyền và nghĩa vụ của đương sự: Điểm mới là có quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ; có quyền được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình; đương sự có nghĩa vụ gửi bản sao tài liệu, chứng cứ cho các đương sự khác.

+ Sửa đổi quy trình đối với người tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự: Bổ sung thêm đại diện của tổ chức đại diện tập thể người lao động là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong vụ việc lao động.

+ Bổ sung thủ tục đề nghị Tòa án làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

+ Người đại diện: Có thể là cá nhân hoặc pháp nhân; đối với tổ chức đại diện tập thể lao động là người đại diện theo pháp luật cho tập thể người lao động khi được người lao động ủy quyền.

– Chứng cứ: Chương 7. Chứng cứ được quy định theo hướng đảm bảo việc tranh tụng.

+ Điều 91: Người khởi kiện phải có nghĩa vụ chứng minh. Tuy nhiên, người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ mà các tổ chức, cá nhân này phải có nghĩa vụ chứng minh; người lao động có quyền yêu cầu Tòa án yêu cầu người sử dụng lao động phải chứng minh trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; một số trường hợp thì bị đơn phải có nghĩa vụ chứng minh để bảo vệ quyền lợi cho người yếu thế.

+ Xác định chứng cứ: Trên cơ sở kế thừa luật cũ thì BLTTDS 2015 ghi nhận thông điệp, dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật; văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng do người có chức năng lập tại chỗ, văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ nếu thu thập, công chứng, chứng thực đúng quy định của pháp luật.

+ Điều 96 – Giao nộp tài liệu, chứng cứ: Được quy định chặt chẽ về thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nếu không đầy đủ thì Tòa án có quyền yêu cầu đương sự cung cấp thêm, nếu đương sự không cung cấp hoặc cung cấp sau khi vụ án được đưa ra xét xử thì Tòa án chỉ chấp nhận là chứng cứ khi có lý do chính đáng. Đương sự có quyền giao nộp thêm chứng cứ ở tất cả các giai đoạn của quá trình giải quyết thì vẫn được chấp nhận. Khi đương sự giao nộp tài liệu , chứng cứ cho Tòa án thì họ phải sao gửi tài liệu, chứng cứ cho Tòa án thì họ phải sao gửi tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác để đảm bảo chứng cứ công khai.

+ Xác minh, thu thập chứng cứ (Điều 97): Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ. Trong trường hợp không thu thập được thì yêu cầu Tòa án thu thập thông qua trưng cầu giám định, định giá tài sản… Điều này thể hiện trách nhiệm, vai trò của Tòa án, Thẩm phán trong thu thập tài liệu, chứng cứ.

– Các biện pháp tạm thời: BLTTDS 2015 bổ sung thêm 4 biện pháp tạm thời như sau: Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ; cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình; tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu; bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án.

– Chi phí tố tụng: Bổ sung thêm tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài. Nếu đương sự không nộp chi phí tố tụng thì coi như bỏ yêu cầu của mình.

– Tống đạt văn bản: Bổ sung thêm thủ tục cấp, tống đạt, thông báo bằng phương tiện điện tử.

– Thụ lý, xét xử sơ thẩm:

+ Bổ sung thêm quyền khởi kiện của tổ chức đại diện tập thể lao động trong trường hợp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền; tổ chức xã hội tham gia bảo vệ người tiêu dùng; cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

+ Phương thức gửi đơn: Bổ sung phương thức gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua cổng thông tin điện tử của Tòa án.

+ Quy định chặt chẽ hơn thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện: Khi nhận đơn Tòa án phải có trách nhiệm cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện; nhận đơn qua đường bưu điện thì trong 2 ngày làm việc phải gửi thông báo nhận đơn của người khởi kiện; nhận đơn bằng gửi trực tuyến thì phải thông báo ngay việc nhận đơn cho người khởi kiện qua cổng thông tin điện tử của Tòa án. Trong thời hạn 3 ngày Tòa án phải phân công Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện, trong thời hạn 5 ngày Thẩm phán phải đưa ra quyết định.

+ Trả đơn khởi kiện: Bổ sung trường hợp nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện nhưng họ thường xuyên thay đổi địa chỉ mà không thông báo thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.

+ Về khiếu nại, kiến nghị: Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện, người khởi kiện có quyền khiếu nại. Trong thời gian 5 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét giải quyết và có sự tham gia của Viện kiểm sát. Điểm mới là Viện kiểm sát phải tham gia phát biểu ý kiến về việc trả lại đơn của Tòa, Tòa án phải ra quyết định về vấn đề này.

– Chuẩn bị xét xử sơ thẩm: Sửa đổi một số điều sau:

+ Thời hạn chuẩn bị xét xử: Quy định rõ hơn nhiệm vụ của Thẩm phán trong giai đoạn này; có thời hạn rút ngắn hơn; quy định thời hạn đối với giải quyết vụ án có yếu tố nước ngoài.

+ Phiên họp và hòa giải công khai chứng cứ: Tùy theo từng trường hợp để tách riêng hoặc nhập cả hai nội dung này, mục đích giảm bớt đi thủ tục tố tụng.

+ Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự: Khi lý do tạm đình chỉ không còn thì Thẩm phán phải ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự.

+ Đình chỉ giải quyết vụ án: Bổ sung thêm một số trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án như: Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, HTX; nguyên đơn không nộp chi phí tố tụng; nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện.

– Phiên tòa sơ thẩm:

+ Về sự vắng mặt: Trước đây chưa quy định rõ, nhưng lần này BLTTDS 2015 quy định rõ, cụ thể về đương sự vắng mặt lần thứ nhất; Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, không hoãn phiên tòa.

+ Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm: Trước tiên là trình bày của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích của nguyên đơn trình bày trước, sau đó đến bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích của bị đơn); hỏi đáp tại phiên tòa theo thứ tự: nguyên đơn, bị đơn, người tham gia tố tụng khác, chủ tọa phiên tòa, hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên; tranh luận.

+ Tòa án có vai trò tổ chức, tạo điều kiện cho các đương sự thực hiện tranh tụng, không hạn chế thời gian. Tòa án có quyền dừng lại việc phát biểu những vấn đề không liên quan đến vụ án.

+ Tạm ngừng phiên tòa: Quy định mới là tạm ngừng trong thời hạn không quá 1 tháng và phải ghi vào biên bản phiên tòa trong trường hợp do tình trạng sức khỏe, do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan… (Khoản 1 Điều 259). Nếu quá thời hạn này thì Tòa tạm đình chỉ giải quyết vụ án.

+ Phát biểu của Kiểm sát viên: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của người tham gia tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

– Phiên tòa phúc thẩm:

+ Giao nộp tài liệu, chứng cứ: Đương sự có quyền bổ sung tài liệu tài liệu, chứng cứ mới thì không cần giải thích lý do; nhưng với tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp, thì nay giao nộp phải có lý do chính đáng.

+ Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự: Vẫn có kháng cáo, kháng nghị xét xử theo các cấp.
– Giám đốc thẩm:

+ Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao xét xử giám đốc thẩm bằng HĐXX gồm 3 Thẩm phán; Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao xét xử giám đốc thẩm bằng HĐXX gồm 5 Thẩm phán.

+ Đối với vụ án có tính chất phức tạp (những vấn đề quy định trong vụ án chưa rõ ràng, chưa được hướng dẫn áp dụng; việc đánh giá chứng cứ còn nhiều ý kiến khác nhau; liên quan đến lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước, quyền con người, quyền công dân) thì phải xét xử tập thể là toàn thể Ủy ban Thẩm phán, Hội đồng Thẩm phán.

+ Điểm mới là khi xét xử giám đốc thẩm khi xét thấy cần thiết, Tòa án triệu tập đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự; người tham gia tố tụng khác có liên quan, nhưng nếu họ vắng mặt thì vẫn tiến hành phiên tòa.

+ BLTTDS năm 2015 cho phép giám đốc thẩm sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật với 2 điều kiện: Tài liệu, chứng cứ đã đầy đủ, rõ ràng, có đủ căn cứ để làm rõ các tình tiết trong vụ án và việc sửa bản án, quyết định bị kháng nghị không làm ảnh hướng đến quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác.

– Việc dân sự:

+ Việc nộp đơn, thụ lý như quy định cho vụ án dân sự. Thời hạn giải quyết chung cho các việc dân sự là 01 tháng. Khi mở phiên họp có sự tham gia của Viện kiểm sát, nếu Viện kiểm sát vắng mặt vẫn tiếp tục xem xét giải quyết. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo, VKS có quyền kháng nghị yêu cầu Tòa án trên một cấp trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm (trừ một số trường hợp).

+ Thuận tình ly hôn: Trước đây chưa quy định rõ trình tự, thủ tục thuận tình ly hôn. Chương 20 của BLTTDS 2015 đã quy định trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, theo đó Tòa án vẫn tiến hành hòa giải.

+ Theo BLTTDS năm 2015 thì ly hôn là thủ tục đặc thù có Tòa án chuyên trách riêng. Thẩm phán được phân công tìm hiểu quá trình dẫn đến ly hôn, sau đó hòa giải. Nếu hòa giải thành thì đình chỉ việc dân sự, nếu hòa giải không thành thì giải quyết ly hôn theo tố tụng dân sự.

– Công nhận thỏa thuận ngoài Tòa án:

+ Tòa án khuyến khích thương lượng, thỏa thuận ngoài Tòa án. Tòa án công nhận kết quả hòa giải ngoài Tòa án với điều kiện: Các bên tham gia thỏa thuận có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; là người có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận; một hoặc hai bên có đơn yêu cầu Tòa án công nhận và nội dung thỏa thuận hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Người yêu cầu công nhận kết quả thỏa thuận ngoài Tòa án phải gửi đơn đến Tòa án trong thời hạn 6 tháng.

– Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài:

+ Thời hạn: Quy định thời hạn dài hơn thủ tục thông thường. Khi gửi thông báo thụ lý vụ án thì Tòa án phải nêu rõ thời gian, địa điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, mở lại phiên họp hòa giải, mở phiên tòa và mở lại phiên tòa cho đương sự ở nước ngoài.

+ Tống đạt giấy tờ ra nước ngoài: Theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia; hoặc qua đường ngoại giao; bưu điện. Tống đạt giấy tờ cho công dân Việt Nam ở nước ngoài thì qua đường bưu điện hoặc cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; đương sự ở nước ngoài nhưng có chi nhánh, văn phòng đại diện ở Việt Nam thì tống đạt qua văn phòng, đại diện đó hoặc qua người đại diện ở trong nước.

+ Các phương thức tống đạt trên không có kết quả thì Tòa án tiến hành niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan đại diện của Việt Nam tại nước ngoài, Tòa án đang giải quyết vụ việc hoặc nơi cư trú cuối cùng của đương sự tại Việt Nam trong thời gian 1 tháng và thông báo trên cổng thông tin điện tử của Tòa án, của cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài hoặc có thể thông qua kênh phát thanh hoặc đài truyền hình dành cho người nước ngoài.

– Sự tham gia của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự.

+ Điều 21 BLTTDS 2015 quy định các trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa, phiên họp.

+ Kiểm sát hoạt động tư pháp từ khi Tòa án nhận đơn của đương sự cho đến khi giải quyết xong vụ án. Viện kiểm sát tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc đương sự là người chưa thành niên, người bị mất, hạn chế

+ Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.

+ Tất cả các phiên tòa sơ thẩm phải có Viện kiểm sát tham gia, nếu đại diện Viện kiểm sát vắng mặt thì Tòa vẫn xét xử.

+ Phiên tòa phúc thẩm: Nếu không có kháng nghị, Viện kiểm sát vắng mặt thì Tòa vẫn xử; nếu có kháng nghị thì phải có mặt của Viện kiểm sát thì Tòa mới xử.

+ Tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm: Nếu Viện kiểm sát vắng mặt thì Tòa không xử, hoãn phiên tòa.

– Kiểm sát viên:

+ Phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm: Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ, yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ.

+ Phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm: Kiểm sát viên thu thập tài liệu, chứng cứ.

3. Nghị quyết hướng dẫn thi hành.

+ Đối với những vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã được Tòa án thụ lý trước ngày 01 tháng 7 năm 2016, nhưng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 mới giải quyết theo thủ tục sơ thẩm thì áp dụng các quy định của Bộ luật này để giải quyết;

+ Đối với những vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã được Tòa án giải quyết theo thủ tục sơ thẩm trước ngày 01 tháng 7 năm 2016, nhưng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 mới giải quyết theo thủ tục phúc thẩm thì áp dụng các quy định của Bộ luật này để giải quyết;

+ Đối với những bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã có hiệu lực pháp luật mà bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 nhưng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 mới giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng các quy định của Bộ luật này để giải quyết;

+ Đối với những bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã có hiệu lực pháp luật trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 mà kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 người có thẩm quyền kháng nghị mới kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, thì căn cứ để thực hiện việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và việc giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được thực hiện theo quy định của Bộ luật này;

+ Đối với những vụ việc hôn nhân và gia đình đã được Tòa án thụ lý giải quyết trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 thì Tòa án đã thụ lý tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không chuyển cho Tòa gia đình và người chưa thành niên giải quyết;

+ Khi giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, Tòa án tiếp tục áp dụng quy định của các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về án phí, lệ phí Tòa án, chi phí tố tụng khác cho đến khi có quy định mới của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Đối với vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được giải quyết theo thủ tục rút gọn thì áp dụng mức án phí thấp hơn so với mức án phí áp dụng đối với vụ án giải quyết theo thủ tục thông thường./.

Nguyễn Thị Thu Hải (lược ghi)

– Thể chế hóa quan điểm của Đảng được nêu trong Nghị quyết số 48, 49; kết luận số 72,92 của Bộ Chính trị. BLTTDS mới phải thể hiện tính công khai, minh bạch; xây dựng mô hình tố tụng xét hỏi kết hợp với tranh tụng.

– Cụ thể các quy định của Hiến pháp năm 2013 vào BLTTDS.

– Phải đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất với các Bộ luật, đạo luật khác.

– Xây dựng BLTTDS trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành BLTTDS năm 2004.

– Phải đảm bảo tính khả thi, hạn chế việc hướng dẫn.

– Phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập.

2. Những nội dung cơ bản của Bộ luật.

Bộ luật TTDS 2015 gồm 517 điều. Trong đó: sửa đổi là 350 điều, bổ sung 104 điều, bỏ 7 điều so với BLTTDS 2004. Phần chung là phần được sửa đổi, bổ sung nhiều nhất.

2.1. Về nguyên tắc chung: Sửa 4 vấn đề lớn.

– Khoản 2 Điều 4: Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng: Liên quan đến vấn đề này BLDS năm 2015 đã quy định rõ nguyên tắc giải quyết các vụ việc dân sự đó là: Tòa án áp dụng tương tự pháp luật, tập quán, nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự, án lệ và lẽ công bằng.

– Điều 13: Vai trò, nhiệm vụ của cơ quan tiến hành tố tụng: Đề cao xét xử công khai, nhưng cũng tôn trọng một số trường hợp đặc biệt cần xét xử kín; quy định về trách nhiệm bồi thường nhà nước của người tiến hành tố tụng khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình có hành vi trái pháp luật.

– Bổ sung trường hợp người tham gia tố tụng là người khuyết tật nghe, nói hoặc khuyết tật nhìn có quyền dùng ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật và phải có người biết ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật để dịch lại.

– Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự: Sửa đổi từ tranh luận thành tranh tụng.

+ Tranh tụng từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi giải quyết xong vụ án.

+ Quy định rõ hơn trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có quyền thu thập chứng cứ.

+ Chứng cứ phải được công khai

+ Phiên tòa xét xử tranh tụng phải đảm bảo dân chủ, đề cao vai trò của người tham gia tố tụng (vì tranh tụng tập trung nhất là ở phiên tòa) và phán quyết của Tòa án phải dựa trên kết quả của tranh tụng.

2.2. Những nội dung sửa đổi, bổ sung.

– Về thẩm quyền của Tòa án:

+ Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng. (Khoản 2 Điều 4)

+ Tất cả các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

+ Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết. Tòa án đưa cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền ban hành quyết định cá biệt trái pháp luật tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

+ Điểm mới bổ sung là TAND cấp huyện có Tòa chuyên trách là Tòa gia đình và người chưa thành niên (TAND cấp tỉnh đương nhiên có Tòa chuyên trách này).

– Người tiến hành tố tụng:

+ Bổ sung thêm chức danh tư pháp là Thẩm tra viên và Kiểm tra viên.

+ Bổ sung thêm thẩm quyền của Chánh án là: Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật nếu phát hiện có dấu hiệu trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.

+ Cụ thể hóa quyền của Kiểm sát viên (Điều 58): Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu; kiểm sát việc thụ lý giải quyết vụ việc dân sự; yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ và có quyền thu thập tài liệu chứng cứ theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm; đề nghị Viện trưởng VKS có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật.

– Thủ tục rút gọn: Quy định mới về thủ tục rút gọn là việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn do 01 Thẩm phán thực hiện.

– Người tham gia tố tụng:

+ Đương sự: Bổ sung thêm người yêu cầu giải quyết việc dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự.

+ Quyền và nghĩa vụ của đương sự: Điểm mới là có quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ; có quyền được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình; đương sự có nghĩa vụ gửi bản sao tài liệu, chứng cứ cho các đương sự khác.

+ Sửa đổi quy trình đối với người tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự: Bổ sung thêm đại diện của tổ chức đại diện tập thể người lao động là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong vụ việc lao động.

+ Bổ sung thủ tục đề nghị Tòa án làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

+ Người đại diện: Có thể là cá nhân hoặc pháp nhân; đối với tổ chức đại diện tập thể lao động là người đại diện theo pháp luật cho tập thể người lao động khi được người lao động ủy quyền.

– Chứng cứ: Chương 7. Chứng cứ được quy định theo hướng đảm bảo việc tranh tụng.

+ Điều 91: Người khởi kiện phải có nghĩa vụ chứng minh. Tuy nhiên, người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ mà các tổ chức, cá nhân này phải có nghĩa vụ chứng minh; người lao động có quyền yêu cầu Tòa án yêu cầu người sử dụng lao động phải chứng minh trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; một số trường hợp thì bị đơn phải có nghĩa vụ chứng minh để bảo vệ quyền lợi cho người yếu thế.

+ Xác định chứng cứ: Trên cơ sở kế thừa luật cũ thì BLTTDS 2015 ghi nhận thông điệp, dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật; văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng do người có chức năng lập tại chỗ, văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ nếu thu thập, công chứng, chứng thực đúng quy định của pháp luật.

+ Điều 96 – Giao nộp tài liệu, chứng cứ: Được quy định chặt chẽ về thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nếu không đầy đủ thì Tòa án có quyền yêu cầu đương sự cung cấp thêm, nếu đương sự không cung cấp hoặc cung cấp sau khi vụ án được đưa ra xét xử thì Tòa án chỉ chấp nhận là chứng cứ khi có lý do chính đáng. Đương sự có quyền giao nộp thêm chứng cứ ở tất cả các giai đoạn của quá trình giải quyết thì vẫn được chấp nhận. Khi đương sự giao nộp tài liệu , chứng cứ cho Tòa án thì họ phải sao gửi tài liệu, chứng cứ cho Tòa án thì họ phải sao gửi tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác để đảm bảo chứng cứ công khai.

+ Xác minh, thu thập chứng cứ (Điều 97): Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ. Trong trường hợp không thu thập được thì yêu cầu Tòa án thu thập thông qua trưng cầu giám định, định giá tài sản… Điều này thể hiện trách nhiệm, vai trò của Tòa án, Thẩm phán trong thu thập tài liệu, chứng cứ.

– Các biện pháp tạm thời: BLTTDS 2015 bổ sung thêm 4 biện pháp tạm thời như sau: Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ; cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình; tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu; bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án.

– Chi phí tố tụng: Bổ sung thêm tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài. Nếu đương sự không nộp chi phí tố tụng thì coi như bỏ yêu cầu của mình.

– Tống đạt văn bản: Bổ sung thêm thủ tục cấp, tống đạt, thông báo bằng phương tiện điện tử.

– Thụ lý, xét xử sơ thẩm:

+ Bổ sung thêm quyền khởi kiện của tổ chức đại diện tập thể lao động trong trường hợp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền; tổ chức xã hội tham gia bảo vệ người tiêu dùng; cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

+ Phương thức gửi đơn: Bổ sung phương thức gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua cổng thông tin điện tử của Tòa án.

+ Quy định chặt chẽ hơn thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện: Khi nhận đơn Tòa án phải có trách nhiệm cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện; nhận đơn qua đường bưu điện thì trong 2 ngày làm việc phải gửi thông báo nhận đơn của người khởi kiện; nhận đơn bằng gửi trực tuyến thì phải thông báo ngay việc nhận đơn cho người khởi kiện qua cổng thông tin điện tử của Tòa án. Trong thời hạn 3 ngày Tòa án phải phân công Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện, trong thời hạn 5 ngày Thẩm phán phải đưa ra quyết định.

+ Trả đơn khởi kiện: Bổ sung trường hợp nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện nhưng họ thường xuyên thay đổi địa chỉ mà không thông báo thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.

+ Về khiếu nại, kiến nghị: Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện, người khởi kiện có quyền khiếu nại. Trong thời gian 5 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét giải quyết và có sự tham gia của Viện kiểm sát. Điểm mới là Viện kiểm sát phải tham gia phát biểu ý kiến về việc trả lại đơn của Tòa, Tòa án phải ra quyết định về vấn đề này.

– Chuẩn bị xét xử sơ thẩm: Sửa đổi một số điều sau:

+ Thời hạn chuẩn bị xét xử: Quy định rõ hơn nhiệm vụ của Thẩm phán trong giai đoạn này; có thời hạn rút ngắn hơn; quy định thời hạn đối với giải quyết vụ án có yếu tố nước ngoài.

+ Phiên họp và hòa giải công khai chứng cứ: Tùy theo từng trường hợp để tách riêng hoặc nhập cả hai nội dung này, mục đích giảm bớt đi thủ tục tố tụng.

+ Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự: Khi lý do tạm đình chỉ không còn thì Thẩm phán phải ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự.

+ Đình chỉ giải quyết vụ án: Bổ sung thêm một số trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án như: Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, HTX; nguyên đơn không nộp chi phí tố tụng; nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện.

– Phiên tòa sơ thẩm:

+ Về sự vắng mặt: Trước đây chưa quy định rõ, nhưng lần này BLTTDS 2015 quy định rõ, cụ thể về đương sự vắng mặt lần thứ nhất; Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, không hoãn phiên tòa.

+ Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm: Trước tiên là trình bày của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích của nguyên đơn trình bày trước, sau đó đến bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích của bị đơn); hỏi đáp tại phiên tòa theo thứ tự: nguyên đơn, bị đơn, người tham gia tố tụng khác, chủ tọa phiên tòa, hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên; tranh luận.

+ Tòa án có vai trò tổ chức, tạo điều kiện cho các đương sự thực hiện tranh tụng, không hạn chế thời gian. Tòa án có quyền dừng lại việc phát biểu những vấn đề không liên quan đến vụ án.

+ Tạm ngừng phiên tòa: Quy định mới là tạm ngừng trong thời hạn không quá 1 tháng và phải ghi vào biên bản phiên tòa trong trường hợp do tình trạng sức khỏe, do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan… (Khoản 1 Điều 259). Nếu quá thời hạn này thì Tòa tạm đình chỉ giải quyết vụ án.

+ Phát biểu của Kiểm sát viên: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của người tham gia tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

– Phiên tòa phúc thẩm:

+ Giao nộp tài liệu, chứng cứ: Đương sự có quyền bổ sung tài liệu tài liệu, chứng cứ mới thì không cần giải thích lý do; nhưng với tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp, thì nay giao nộp phải có lý do chính đáng.

+ Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự: Vẫn có kháng cáo, kháng nghị xét xử theo các cấp.

– Giám đốc thẩm:

+ Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao xét xử giám đốc thẩm bằng HĐXX gồm 3 Thẩm phán; Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao xét xử giám đốc thẩm bằng HĐXX gồm 5 Thẩm phán.

+ Đối với vụ án có tính chất phức tạp (những vấn đề quy định trong vụ án chưa rõ ràng, chưa được hướng dẫn áp dụng; việc đánh giá chứng cứ còn nhiều ý kiến khác nhau; liên quan đến lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước, quyền con người, quyền công dân) thì phải xét xử tập thể là toàn thể Ủy ban Thẩm phán, Hội đồng Thẩm phán.

+ Điểm mới là khi xét xử giám đốc thẩm khi xét thấy cần thiết, Tòa án triệu tập đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự; người tham gia tố tụng khác có liên quan, nhưng nếu họ vắng mặt thì vẫn tiến hành phiên tòa.

+ BLTTDS năm 2015 cho phép giám đốc thẩm sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật với 2 điều kiện: Tài liệu, chứng cứ đã đầy đủ, rõ ràng, có đủ căn cứ để làm rõ các tình tiết trong vụ án và việc sửa bản án, quyết định bị kháng nghị không làm ảnh hướng đến quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ

chức, cá nhân khác.

– Việc dân sự:

+ Việc nộp đơn, thụ lý như quy định cho vụ án dân sự. Thời hạn giải quyết chung cho các việc dân sự là 01 tháng. Khi mở phiên họp có sự tham gia của Viện kiểm sát, nếu Viện kiểm sát vắng mặt vẫn tiếp tục xem xét giải quyết. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo, VKS có quyền kháng nghị yêu cầu Tòa án trên một cấp trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm (trừ một số trường hợp).

+ Thuận tình ly hôn: Trước đây chưa quy định rõ trình tự, thủ tục thuận tình ly hôn. Chương 20 của BLTTDS 2015 đã quy định trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, theo đó Tòa án vẫn tiến hành hòa giải.

+ Theo BLTTDS năm 2015 thì ly hôn là thủ tục đặc thù có Tòa án chuyên trách riêng. Thẩm phán được phân công tìm hiểu quá trình dẫn đến ly hôn, sau đó hòa giải. Nếu hòa giải thành thì đình chỉ việc dân sự, nếu hòa giải không thành thì giải quyết ly hôn theo tố tụng dân sự.

– Công nhận thỏa thuận ngoài Tòa án:

+ Tòa án khuyến khích thương lượng, thỏa thuận ngoài Tòa án. Tòa án công nhận kết quả hòa giải ngoài Tòa án với điều kiện: Các bên tham gia thỏa thuận có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; là người có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận; một hoặc hai bên có đơn yêu cầu Tòa án công nhận và nội dung thỏa thuận hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Người yêu cầu công nhận kết quả thỏa thuận ngoài Tòa án phải gửi đơn đến Tòa án trong thời hạn 6 tháng.

– Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài:

+ Thời hạn: Quy định thời hạn dài hơn thủ tục thông thường. Khi gửi thông báo thụ lý vụ án thì Tòa án phải nêu rõ thời gian, địa điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, mở lại phiên họp hòa giải, mở phiên tòa và mở lại phiên tòa cho đương sự ở nước ngoài.

+ Tống đạt giấy tờ ra nước ngoài: Theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia; hoặc qua đường ngoại giao; bưu điện. Tống đạt giấy tờ cho công dân Việt Nam ở nước ngoài thì qua đường bưu điện hoặc cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; đương sự ở nước ngoài nhưng có chi nhánh, văn phòng đại diện ở Việt Nam thì tống đạt qua văn phòng, đại diện đó hoặc qua người đại diện ở trong nước.

+ Các phương thức tống đạt trên không có kết quả thì Tòa án tiến hành niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan đại diện của Việt Nam tại nước ngoài, Tòa án đang giải quyết vụ việc hoặc nơi cư trú cuối cùng của đương sự tại Việt Nam trong thời gian 1 tháng và thông báo trên cổng thông tin điện tử của Tòa án, của cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài hoặc có thể thông qua kênh phát thanh hoặc đài truyền hình dành cho người nước ngoài.

– Sự tham gia của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự.

+ Điều 21 BLTTDS 2015 quy định các trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa, phiên họp.

+ Kiểm sát hoạt động tư pháp từ khi Tòa án nhận đơn của đương sự cho đến khi giải quyết xong vụ án. Viện kiểm sát tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc đương sự là người chưa thành niên, người bị mất, hạn chế

+ Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.

+ Tất cả các phiên tòa sơ thẩm phải có Viện kiểm sát tham gia, nếu đại diện Viện kiểm sát vắng mặt thì Tòa vẫn xét xử.

+ Phiên tòa phúc thẩm: Nếu không có kháng nghị, Viện kiểm sát vắng mặt thì Tòa vẫn xử; nếu có kháng nghị thì phải có mặt của Viện kiểm sát thì Tòa mới xử.

+ Tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm: Nếu Viện kiểm sát vắng mặt thì Tòa không xử, hoãn phiên tòa.

– Kiểm sát viên:

+ Phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm: Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ, yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ.

+ Phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm: Kiểm sát viên thu thập tài liệu, chứng cứ.

3. Nghị quyết hướng dẫn thi hành.

+ Đối với những vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã được Tòa án thụ lý trước ngày 01 tháng 7 năm 2016, nhưng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 mới giải quyết theo thủ tục sơ thẩm thì áp dụng các quy định của Bộ luật này để giải quyết;

+ Đối với những vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã được Tòa án giải quyết theo thủ tục sơ thẩm trước ngày 01 tháng 7 năm 2016, nhưng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 mới giải quyết theo thủ tục phúc thẩm thì áp dụng các quy định của Bộ luật này để giải quyết;

+ Đối với những bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã có hiệu lực pháp luật mà bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 nhưng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 mới giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng các quy định của Bộ luật này để giải quyết;

+ Đối với những bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã có hiệu lực pháp luật trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 mà kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 người có thẩm quyền kháng nghị mới kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, thì căn cứ để thực hiện việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và việc giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được thực hiện theo quy định của Bộ luật này;

+ Đối với những vụ việc hôn nhân và gia đình đã được Tòa án thụ lý giải quyết trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 thì Tòa án đã thụ lý tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không chuyển cho Tòa gia đình và người chưa thành niên giải quyết;

+ Khi giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, Tòa án tiếp tục áp dụng quy định của các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về án phí, lệ phí Tòa án, chi phí tố tụng khác cho đến khi có quy định mới của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Đối với vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được giải quyết theo thủ tục rút gọn thì áp dụng mức án phí thấp hơn so với mức án phí áp dụng đối với vụ án giải quyết theo thủ tục thông thường./.

nguồn http://www.kiemsat.vn/