Tin hoạt động trường

Rút kinh nghiệm vụ án dân sự bị cấp phúc thẩm hủy án để giải quyết lại

Ngày đăng tin: 13/06/2014

Qua công tác kiểm sát việc giải quyết theo thủ tục phúc thẩm các vụ án dân sự, ngày 24/4/2014, Viện Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội (Viện Phúc thẩm 1) có Thông báo số 212/TB-VKSTC-VPT1 Rút kinh nghiệm vụ án dân sự do cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng, bị cấp phúc thẩm hủy án để giải quyết lại theo thủ tục chung. Trang tin Điện tử trường Đại học Kiểm sát Hà Nội xin trích đăng một số nội dung để bạn đọc tham khảo.

1. Nội dung vụ án và quá trình tố tụng:

 

Trong khoảng thời gian từ năm 2004 - 2005, chị Vũ Thị Thúy L từ Canada về Việt Nam do không có nhà để ở nên chị L có mua ngôi nhà cấp 4 của anh Cao Nhật T và chị Nguyễn Thị N tại…, Thị trấn QY trên diện tích đất là 53,4m2 với giá 105 triệu đồng (có giấy mua bán nhà và người làm chứng lập ngày 07/07/2005, đến ngày 10/10/2008 UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích đất trên cho chị L).

 

Sau khi hết hạn visa, chị L về Canada và gửi nhà đất cho chị Nguyễn Thị N. Ngày 22/12/2005, chị Vũ Thúy H là em gái chị L đã lừa chị N để lấy chìa khóa vào nhà và chiếm dụng luôn. Tháng 10/2006 chị L về nước đòi lại nhà đất nhưng chị H không trả, hai bên phát sinh tranh chấp và đã được UBND phường QY hòa giải nhưng không thành. Chị L khởi kiện ra Tòa án.

 

Không đồng ý với yêu cầu của chị L, chị H có đơn phản tố cho rằng nhà đất trên đã được chị L bán cho chị vào năm 2006 với giá 130 triệu đồng nhưng chỉ thỏa thuận bằng miệng và giao tiền qua các chị là chị T 30 triệu đổng, chị X 100 triệu đồng và 01 triệu đồng tiền lãi. Sau đó, chị có mua thêm đất của bà Dương Thị M và nhiều lần sửa chữa, làm mới, chị yêu cầu chị L làm thủ tục sang tên cho chị, nếu không chị L phải trả 131 triệu đồng và bồi thường thiệt hại 369 triệu đổng.

 

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H và chị L có Văn bằng thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp ngày 01/05/2015 và được khu trưởng khu phố 4, UBND phường QY xác nhận ngày 04/05/2013, nhưng sau đó hai bên tự ý hủy bỏ, chị H có đơn xin định giá tài sản.

 

Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Q đã quyết định: Buộc chị H phải trả lại cho chị L nhà đất diện tích 53,4m2, chị L phải trả cho chị H số tiền 200 triệu đồng. Ngoài ra còn các quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

 

Ngày 17/10/2013, đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn kháng cáo đề nghị không buộc chị L phải trả cho chị H 200 triệu đồng;

 

Ngày 18/10/2013, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Q quyết định kháng nghị đề nghị hủy án sơ thẩm để giải quyết lại.

 

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 10/03/2014, Viện Phúc thẩm 1 và Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Q, hủy án án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Q giải quyết lại theo thủ tục chung.

 

2. Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

 

2.1. Về thu thập, xác định và đánh giá chứng cứ:

 

Trong vụ án này, Tòa án sơ thẩm căn cứ vào Biên bản làm việc do Công ty Luật V thực hiện có nội dung chị X, chị T là nhân chứng xác nhận chị H trả 130.000.000đ để mua nhà của chị L và kết luận có việc mua bán nhà giữa chị H và chị L là chưa đủ căn cứ vững chắc. Tòa án phải tiến hành lấy lời khai của nhân chứng là chị X, chị T theo quy định tại Điều 87, cho người làm chứng đối chất với các đương sự, cho đương sự đối chất với nhau theo Điều 88 Bộ luật Tố tụng dân sự, từ đó cần đối chiếu tính phù hợp của các chứng cứ mới có cơ sở đưa ra kết luận chính xác.

 

Ngoài ra, quá trình thu thập và xác định chứng cứ trong vụ án còn có những sai sót nhất định. Cụ thể: bà Nguyễn Thị N là người bán nhà cho chị Vũ Thị Thúy L nhưng lại không được Tòa án cấp sơ thẩm xác định là nhân chứng và lấy lời khai; hồ sơ vụ án còn có các tài liệu phô tô không có công chứng, chứng thực của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Việc chấp nhận những tài liệu này làm chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm là vi phạm khoản 1 Điều 83 Bộ luật Tố tụng dân sự về xác định chứng cứ.

2.2. Về nội dung:

Thứ nhất, phần xét thấy của bản án sơ thẩm thể hiện: chấp nhận thỏa thuận của hai bên theo biên bản thỏa thuận không ngày được khu phố 4... và UBND phường QY xác nhận…nghĩa là, bản án sơ thẩm chỉ căn cứ vào biên bản thỏa thuận giữa chị L và chị H trong khi biên bản này đã bị hai bên hủy bỏ (không còn giá trị pháp lý) để xác định trách nhiệm của hai bên là không đúng; trong khi đó, lại không xem xét những nội dung tại Biên bản định giá tài sản lập ngày 19/06/2013 làm căn cứ xác định phần giá trị tài sản mà chị H đã xây dựng trên đất của chị L, để từ đó xác định trách nhiệm tài sản của nguyên đơn và bị đơn dẫn đến những sai sót trên trong quá trình giải quyết vụ án.

Thứ hai, căn cứ vào phần quyết định của bản án sơ thẩm, đối chiếu với sơ đồ thửa đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chị L, sơ đồ thửa đất trong biên bản định giá thì phần diện tích đất chị H trả cho chị L (53,4m2) bị chắn bởi gian bếp diện tích 9,43m2phía trước và một phần phòng ngủ + công trình phụ phía sau của nhà chị L nằm trên diện tích đất mà chị H mua thêm. Như vậy, cả nhà chị L, chị H đều không có lối đi, tranh chấp giữa hai nhà theo đó không thể giải quyết dứt điểm, bản án rất khó thi hành.

 

Những thiếu sót trên đã được Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Q nêu khá rõ trong Quyết định kháng nghị phúc thẩm.

 

Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã thiếu sót trong việc chứng minh và thu thập chứng cứ, ảnh hướng đến việc làm rõ sự thật khách quan của vụ án cũng như chưa đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

 

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Q đã thực hiện tốt việc kiểm sát bản án, phát hiện kịp thời những vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm, ban hành quyết định kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, được Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận.

 

Thúy Hồng