Kháng nghị Giám đốc thẩm đối với vụ Phạm Thị Hương Giang phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"

CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Căn cứ vào Điều 273 và Điều 275 Bộ luật tố tụng hình sự;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự đối với bị cáo:

Phạm Thị Hương Giang,sinh năm 1978; đăng ký nhân khẩu thường trú tại thôn Văn Xá, xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội; con ông Phạm Ngọc Văn và bà Lê Thị Liên; ngày 16/4/2002, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị bắt giam từ ngày 21/5/2011 đến ngày 24/5/2011 và từ ngày 11/01/2012 đến ngày18/01/2012. Ngày 21/8/2012, bị Công an huyện Thường Tín bắt tạm giam về hành vi "Mua bán trái phép chất ma túy”.

(Trong vụ án này còn có 06 bị cáo khác).

 

NHẬN THY:

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 126/2011/HSST ngày 08/9/2011, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; xử phạt Phạm Thị Hương Giang 03 (ba) năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 21/5/2011 đến ngày 24/5/2011.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 25/2013/HSST ngày 07/01/2013, Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội áp dụng các điểm b, h, o và p khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 51; Điều 33 Bộ luật hình sự; xử phạt Phạm Thị Hương Giang 09 (chín) năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 03 (ba) năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án hình sự sơ thẩm số 126/2011/HSST ngày 08/9/2011 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/8/2012, được trừ thời gian tạm giam 04 ngày tại bản án số 126/2011/HSST ngày 08/9/2011 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 06/2013/HSST ngày 08/01/2013, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội áp dụng điểm h khoản 3 Điều 194; các điểm o và p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt Phạm Thị Hương Giang 18 (mười tám) năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 03 (ba) năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án hình sự sơ thẩm số 126/2011/HSST ngày 08/9/2011 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 21 (hai mươi mốt) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Tại Công văn số 350/GĐKT-TA ngày 09/8/2013, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại bản án hình sự sơ thẩm số 06/2013/HSST ngày 08/01/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đối với Phạm Thị Hương Giang theo thủ tục giám đốc thẩm.

 

XÉT THẤY:

Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2013/HSST ngày 07/01/2013 của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội đã xử phạt Phạm Thị Hương Giang 09 (chín) năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy”; đồng thời, tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 03 (ba) năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án hình sự sơ thẩm số 126/2011/HSST ngày 08/9/2011 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 12 (mười hai) năm tù. Bản án hình sự sơ thẩm này đối với bị cáo không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nên đã có hiệu lực pháp luật.

Khi xét xử sơ thm Phạm Thị Hương Giang về tội "Mua bán trái phép chất ma túy” tại bản án hình sự sơ thẩm số 06/2013/HSST ngày 08/01/2013, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo 18 (mười tám) năm tù; đồng thời, lại tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 03 (ba) năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án hình sự sơ thẩm số 126/2011/HSST ngày 08/9/2011 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 21 (hai mươi mốt) năm tù. Bản án hình sự sơ thẩm này đối với bị cáo không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nên đã có hiệu lực pháp luật.

Như vậy, hình phạt 03 (ba) năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án hình sự sơ thẩm số 126/2011/HSST ngày 08/9/2011 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội đối với Phạm Thị Hương Giang bị tổng hp hai lần là không đúng quy định của pháp luật.

Ngoài ra, trong vụ án này Phạm Thị Hương Giang bị Công an huyệnThanh Trì bắt tạm giam ngày 11/01/2012 và được thay đổi biện pháp ngăn chặn ngày 18/01/2012, nhưng Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội không trừ thời gian tạm giam này cho bị cáo là thiếu sót.

Vì các lẽ trên,

 

QUYẾT ĐỊNH:

Kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm số 06/2013/HSST ngày 08/01/2013của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đối với Phạm Thị Hương Giang; đề nghị Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án hình sự sơ thẩm nêu trên đối với Phạm Thị Hương Giang về phần quyết định:"Tổng hợp hình phạt này với hình phạt 03 năm tù tại bản án s126 ngày 8.9.2011 của Tòaán nhân dân huyện Thanh Trì, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 21 (hai mốt) năm tù” để tiến hành việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đối với Phạm Thị Hương Giang theo đúng quy định của pháp luật.

 

 

______________________________

- KẾT QUẢ XÉT XỬ GIÁM ĐỐC THẨM CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Tại Bản án số43/HS-GĐT ngày 23/12/2013, Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao quyết định:

Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 06/2013/HSST ngày 08/01/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đối với Phạm Thị Hương Giang về phần quyết định: "Tng hợp hình phạt này với hình phạt 03 năm tù tại bản án s126 ngày 8.9.2011 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 21 (hai mốt) năm tùđể tiến hành việc tổng hp hình phạt của nhiều bản án đối với Phạm Thị Hương Giang theo đúngquy định của pháp luật.

Các quyết định khác tại bản án hình sự sơ thẩm nêu trên không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi