Quyết định kháng nghị phúc thẩm vụ án: “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản trên đất”

N

Căn cứ Điều 27 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;

Căn cứ Điều 278, Điều 279, Điều 280 BL TTDS năm 2015.

Xét Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2018/DS-ST ngày 29/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện G.

Sau khi nghiên cứu bản án dân sự sơ thẩm số 03/2018/DS-ST ngày 29/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện G vụ án: “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản trên đất” giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đoài, sinh năm 1924;

Địa chỉ: Xóm 4, xã Hồng Thuận, huyện G, tỉnh N. Người đại diện theo ủy quyền của bà Đoài: chị Nguyễn Thị Nga (con gái của bà Đoài).

Bị đơn: Chị Nguyễn Tú Hảo, sinh năm 1973,

Địa chỉ: 16 đường 367, tổ 2, ấp Mũi Lớn, xã Tân An Hội, huyện C, TP. H.

Người cos quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1.      Chị Nguyễn Thị Mẫu, sinh năm 1953,

Địa chỉ: Xóm 4, xã Hồng Thuận, huyện G, tỉnh N

  1.      Chị Nguyễn Thị Mỡi - sinh năm 1960

Địa chỉ: Xóm 4, xã Hồng Thuận, huyện G, tỉnh N

  1.      Chị Nguyễn Thị Nga - sinh năm 1966

Địa chỉ: Xóm 4, xã Hồng Thuận, huyện G, tỉnh N

  1.      Anh Nguyễn Văn Chương, sinh năm 1967

Địa chỉ: Xóm 4, xã Hồng Thuận, huyện G, tỉnh N

  1.      Anh Nguyễn Văn Chiến (đã chết năm 2006), có 4 người con:

+ Anh Nguyễn Văn Chung, sinh năm 1993

+ Chị Nguyễn Thị Thủy, sinh nãm 1997

+ Cháu Nguyễn Thị Thịnh, sinh năm 2002

+ Cháu Nguyễn Văn Vượng, sinh năm 2006

Đều trú tại: Xóm 4, xã Hồng Thuận, huyện G, tỉnh N

  1.      Anh Nguyễn Văn Huân (đã chết năm 2009) có 3 người con gồm:

+ Anh Nguyễn Văn Huấn - sinh năm 1984

+ Anh Nguyễn Văn Luyện-sinh năm 1986

+ Chị Nguyễn Thị Thoa, sinh năm 1990

Người đại diện theo ủy quyền: Chị Trần Thị Thuê, sinh năm 1962 (mẹ đẻ) Đều trú tại: Xóm 4, xã Hồng Thuận, huyện G, tỉnh N

Người làm chứng:

Anh Nguyễn Văn Hoạt, sinh năm 1951; địa chỉ : Xóm 4, xã Hồng Thuận, huyện G, tỉnh N

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đoài (tức Nguyễn Thị Dậu) thì nguồn gốc thửa đất số 25, tờ bản đồ số 33 lập năm 2006 xóm 4, xã Hồng Thuận, huyện G, tỉnh N là của vợ chồng ông Nguyễn Văn Đoài và bà Nguyễn Thị Đoài. Vợ chồng ồng bà Đoài sinh được 7 người con, ông Đoài chết năm 1981 không để lại di chúc. Quá trình sử dụng đất bà Đoài đã cắt cho anh Chiến và anh Chương (con ông bà Đoài) một phần diện tích đất, diện tích còn lại 483 m2 đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) mang tên bà Nguyễn Thị Đoài năm 2008. Ngày 18/6/2012, bà Đoài làm hợp đồng tặng cho chị Nguyễn Tú Hảo là con gái 264m2 đất tại thửa đất số 25, tờ bản đồ số 33 xóm 4, xã Hồng Thuận, huyện G, tỉnh N. Hợp đồng tặng cho giữa bà Đoài và chị Hảo được UBND xã Hồng Thuận xác nhận. Ngày 10/10/2012, UBND xã Hồng Thuận hoàn tất hồ sơ chuyến đến UBND huyện G đế cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Hảo. Do chị Hảo không làm nghĩa vụ tải chính theo quy định tại Khoản 2 Điều 15 Nghị định 198/2004/NĐ-CP nên chƯa được cấp GCNQSDĐ. Ngày 01/12/2017, bà Nguyễn Thị Đoài khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số ló/HĐCT ngày 18/6/2012 mà bà đã tặng cho chị Nguyễn Tú Hảo quyền sử dụng 264m2 đất tại thửa số 25, tờ bản đồ số 33 xóm 4, xã Hồng Thuận, huyện G, tỉnh N. Lý do bà Đoài yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho là do chị Hảo hỗn láo với bà. Bà Đoài ủy quyền cho chị Nguyễn Thị Nga con gái bà tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Chị Nga nhận sự ủy quyền của bà Đoài và cũng cùng quan điểm với bà Đoài yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 16/HĐCT ngày 18/6/2012.

Theo chị Nguyễn Thị Hảo nguồn gốc đất mẹ chị cho chị là của bố mẹ chị. Bố chị chết năm 1981 không để lại di chúc. Ngày 05/7/2003 mẹ chị viết di chúc để lại cho chị 343m2 đất, vì là đất ao chị đã bỏ tiền ra quật lập, chị không yêu cầu bà Đoài thanh toán tiền công quật lập. Năm 2012 mẹ chị làm hợp đồng tặng cho chị 264m2 đất. Sau khi hoàn thành hợp đồng tặng cho chị đã làm đơn xin cấp GCNQSDĐ. Khi làm xong thủ tục chị vào miền nam làm thủ tục nhập học cho con nên không có mặt ở địa phương để làm nghĩa vụ tài chính. Chị liên hệ với cán bộ địa chính xã thì xã cho biết trong thời gian chị không có mặt ở địa phương chị Nga đã yêu cầu đình chỉ việc cấp số đỏ và chị Nga mua vật liệu để xây dựng công trình trên đất mẹ chị đã cho chị. Chị đã gọi điện thoại và gửi văn bản về xã yêu cầu đình chỉ việc xây dựng của chị Nga. Nay mẹ chị yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, chị không đồng ý vì thủ tục tặng cho đã hoàn tất. Chị đề nghị Tòa án công nhận hợp đồng tặng cho và áp dụng thời hiệu để giải quyết theo quy định pháp luật.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà Đoài cho rằng khi bà Đoài làm hợp đồng tặng cho đất chị Hảo mọi người đều biết và đều nhất trí việc bà Đoài cho chị Hảo 264m2 đất. Mặc dù hợp đồng chưa đầy đủ chữ ký của các đồng thừa kế, nhưng đối với diện tích 483m2 là tài sản chung của vợ chồng ông bà Đoài, ông Đoài chết năm 1981 nên 1/2 diện tích đất là di sản thừa kế của ông Đoài, các đồng thừa kế đều nhất trí hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của bà Đoài cho chị Hảo (trừ chị Nga). Việc bà Đoài làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng 264 m2 đất cho chị Hảo chưa bằng quyền lợi mà bà Đoài bà được hưởng.

Theo báo cáo của Chi nhánh văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện G thì hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất số 16/HĐCT ngày 18/6/2012 đầy đủ tài liệu theo quy định của pháp luật và đã yêu cầu các bên lên làm nghĩa vụ tài chính, nhưng hết thời gian quy định các bên không đến làm nghĩa vụ tài chính. UBND xã Hồng Thuận đã gửi các biên bản làm việc với các bên nhưng chị Hảo vắng mặt nên UBND huyện G chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 264m2 đất thửa đất số 25, tờ bản đồ số 33 xóm 4, xã Hồng Thuận, huyện G, tỉnh N cho chị Hảo là đúng quy định pháp luật.

Bản án dân sự số 03/2018/DS-ST ngày 29/8/2018 của TANĐ huyện G, quyết định:

1. Xử:

- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đoài (tức Nguyễn Thị Dậu) về việc hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 16/HĐCT ngày 16/8/2018.

- Công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 16/HĐCT ngày 16/8/2012 bà Đoài cho chị Hảo 264m2 đất thửa đất số 25, tờ bản đồ số 33 xóm 4, xã Hồng Thuận, huyện G, tỉnh N.

2. Án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thị Đoài phải nộp 300.000 đồng.

XÉT THẤY:

Về tố tụng:

Xét hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 16/HĐCT ngày 18/6/2012 là hợp đồng tặng cho bất động sản không có điều kiện đã được UBND xã Hồng thuận chứng thực và chuyển UBND huyện G để làm thủ tục cấp GCNQSDĐ. Căn cứ Điều 467 BLDS năm 2005 thì hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký (thời hiệu hợp đồng được tính từ ngày 18/6/2012). Căn cứ Điều 427 BLDS năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện là 2 năm. Ngày 01/12/2017, bà Đoài khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho chị Hảo. Như vậy, thời hiệu khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng số 16/HĐCT ngày 18/6/2012 đã hết.

Sau khi thụ lý vụ án chị Hảo yêu cầu áp dụng thời hiệu. Căn cứ Khoản 2 Điều 184 BLTTDS năm 2015 thì thời hiệu khỏi kiện yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của bà Đoài đã hết (hợp đồng có hiệu lực từ ngày 18/6/2012 đến hết ngày 18/6/2014). Căn cứ Điểm e Khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 thì sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án và thời hiệu đã hết. Như vậy, TAND huyện G vẫn xét xử và ban hành bản án khi đương sự (chị Hảo) đề nghị áp dụng thời hiệu trước khi xét xử vụ án là vi phạm nghiêm trọng tố tụng.

Về nội dung:

Theo quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 thì bà Đoài không phải nộp án phí dân sự do bà Đoài đã trên 60 tuổi nhưng TAND huyện G vẫn buộc bà Đoài phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là vi phạm pháp luật.

Ngoài ra, bản án còn thể hiện ngày ký kết hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Đoài và chị Hảo không thống nhất giữa phần nội dung vụ án với phần nhận định và quyết định. Cụ thể, phần nội dụng vụ án thì ghi hợp đồng ngày 18/6/2012 nhưng phần nhận định và quyết định lại ghi ngày 16/8/2012.

Như vậy, TAND huyện G đã vi phạm nghiêm trọng tố tụng và nội dung giải quyết vụ án làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Kháng nghị toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2018/DS-ST ngày 29/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh N.

2. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh N xét xử phúc thẩm theo hướng hủy bản án sơ thẩm số 03/2018/DS-ST ngày 29/8/2018 của TAND huyện G, tỉnh đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015./.

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi