Kháng nghị phúc thẩm về giải quyết tranh chấp “Ly hôn, nuôi con, chia tài sản chung”

Căn cứ Điều 27 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;

Căn cứ Điều 278, Điều 279, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét Bản án số 02/2018/HNGĐ-ST ngày 07/02/2018 của Toà án nhân dân huyện D giải quyết về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con, chia tài sản chung” giữa:

Nguyên đơn: Anh Đỗ Tiến Dục - sinh năm 1984

Địa chi: thôn Đồng Văn, thị trấn Đ, huyện D, tỉnh H

Bi đơn: Chi Đỗ Thi Như La - sinh năm 1986

Địa chỉ: thôn Ninh Lão, xã Duy Minh, huyện D, tỉnh H.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: bàNguyễn Thị Nhì, sinh năm 1963 và ông Đỗ Toàn Long, sinh năm 1962 (ông Long ủy quyền cho bà Nhì); cùng trú tại thôn N, xã Duy Minh, huyện D, tnh H.

Người cỏ quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn Út, sinh năm 1969 và bà Trần Thị Vân, sinh năm 1975; cùng địa chỉ: phố Nguyễn Văn Trỗi, thị trấn Đồng Văn, huyện D, tỉnh H.

NHẬN THẤY

Anh Đỗ Tiến Dục và chị Đỗ Thị Như Lụa kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 05/10/2012 tại Đại sứ quán Việt Nam Hàn Quc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu đo điều kiện sinh hoạt ở Việt Nam khác với Hàn Quốc nên khi về nước sinh sống vợ chồng không cảm thông chia sẻ với nhau, tình cảm vợ chồng dần lanh nhạt mặc dù anh chị đã tự điều chỉnh để c gắng hòa hợp nhưng tình cảm không được cải thiện, cuộc sống không có hnh phúc. Anh chị đã sổng ly thân nhiều lần, lần gần đây là từ tháng 8/2016. Anh Dục nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống cùng nhau nên đ nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn, chị Lụa cũng nht trí.

- Về con chung: Anh Dục và chị Lụa có 01 con chung là cháu Đỗ Tường Vy, sinh ngày 16/01/2013 đang ở cùng chị Lụa. Khi ly hôn cả hai đều có nguyện vọng được nuôi con. Anh Dục yêu cầu chị Lụa cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ/tháng; chị Lụa u cầu anh Dục cấp dưỡng nuôi con 1.500.000đ/ tháng cho đến khi cháu Vy đủ 18 tuổi và phải cấp dưỡng nuôi con một lần.

- Về tài sản chung của vợ chồng:

Về đất ở: Trong thời gian lao động tại Hàn Quốc, anh Dục và chi Lụa gửi tiền về nhờ bà Nguyễn Thị Nhì (mẹ đẻ chị Lụa) mua hộ thửa đất số 424, tờ bản đồ phụ lục 07 thuộc thôn Trịnh, xã Duy Minh, huyện D, tỉnh H diện tích 90m2 của vợ chồng ông Nguyễn Văn Út và bà Trần Thị Vân ở số 8, phố Nguyễn Văn Trỗi, thị trấn Đ, huyện D, tỉnh H với số tiền 1.050.000.000đ, bà Nhì đã thanh toán đủ số tiền cho ông Út, bà Vân nhưng hai bên chưa làm thủ tục sang tên.

Về tài sản khác: Anh Dục, chị Lụa xác định có 1 nhà cấp 4, xây gạch bi, lợp mái tôn lạnh, bán mái cột thép, tổng diện tích sử dụng khoảng 70m2 trên diện tích đất nêu trên, số tiền bỏ ra đề xây nhà là 125.000.000đ. Hai xe mô tô (gồm 1 xe Lead BKS 90D1-062.95, 01 xe Air blade BKS 90D1-066.82); 1 nồi cơm điện cuckoo; 1 máy bơm nước; 1 bình nộng lạnh Rossi; 1 bộ cổng sắt.

Về tiền mặt: Anh Dục cho rằng, khi về nước vợ chồng có 50.000USD chị Lụa đang quản lý. Chị Lụa chỉ thừa nhận anh chị có 32.000USD và vợ chồng đã chi xây nhà hết 125.000.000đ, mua 2 xe mô tô hết 80.500.000đ, chị chi tiền nuôi con 3.000.000đ/tháng kể từ thời điểm ly thân tháng 8/2016 đến nay, số tiền còn lại chị đang quản lý.

Về tài sản chung anh chị thống nhất để anh Dục sử dụng nhà, đất và có trách nhiệm thanh toán chênh lệch cho chị. Về tiền mặt, do vợ chồng không thỏa thuận được nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bà Nguyễn Thị Nhì là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án đề nghị Tòa án giải quyết nếu anh Dục và chị Lụa ly hôn thì anh chị phải có trách nhiệm thanh toán cho vợ chồng bà (bà Nhì, ông Long) hai khoản tiền, gồm:

+ Tiền công sức nuôi cháu Đỗ Tường Vy từ khi anh chị gửi con cho ông bà vào thời điểm tháng 3/2013 đến khi anh chị về nước tháng 12/2015 (34 tháng) với số tiền 7.000.000đ/tháng, thành tiền là 238.000.000đ. Chị Lụa nhất trí với ý kiến của bà Nhì. Anh Dục chỉ đồng ý thanh toán cho ông bà mỗi tháng 3.000000đ, thành tiền là 102.000.000đ.

+ Tiền mua đất của ông Út, bà Vân: theo bà Nhì thì vợ chồng anh Dục, chị Lụa chỉ có 750.000.000d, số còn lại 300.000.000đ là bà cho anh chị vay. Nay bà yêu cầu anh Dục, chị Lụa phải thanh toán cho bà số tiền này. Chị Lụa nht trí thanh toán cho bà Nhì. Anh Dục không nhất trí vì cho rằng anh chị đã gửi cho bà Nhì đủ số tiền mua đất.

Bán án sơ thẩm số 02/2018/HNGĐ-ST ngày 07/02/2018 của Tòa án nhân dân huyện D quyết định (trích tóm tắt):

  1. Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Đỗ Tiến Dục và chị Đỗ Thị Như Lụa

2. Về con chung: Giao chị Đỗ Thị Như Lụa tiếp tục nuôi dường cháu Đỗ Tường Vy, sinh ngày 16/01/2013. Anh Dục có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng củng chị Lụa mỗi thảng là 1.500.000đ kể từ tháng 02/2018 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trường thành, tự lập được...

3. Về tài sn chung, công sức, công nợ:

3.1. Giao cho anh Đỗ Tiến Dục được sử dụng 90m2 đất (trị giá 1.350.000.000đ) tại thửa số 424 tờ bản đồ phụ lục 07 thuộc thôn Trịnh, xã Duy Minh, huyện D, tỉnh H....

Anh Đỗ Tiến Dục có trách nhiệm hoàn tất các thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất nêu trên tại cơ quan có thẩm quyền...

3.2. Giao anh Đỗ Tiến Dục sử dụng: 01 nhà cấp 4, Xây gạch bi lợp mái tôn lạnh (trị giá 103.25l.000đ); bán mái cột thép (trị giá 3.890.000đ); 01 nồi cơm điện cuckoo (trị giá 6.000.000đ); 01 máy bơm nước (trị giá 700.000đ); 01 bình nóng lạnh rossi (trị giả 1.750.000đ); 01 bộ cng sắt (trị giá 2.792.000đ); 01 xe Airblade BKS: 90D1 06682 (trị giả 32.400.000đ). Tổng giá trị tài sản anh Dục được hưởng là 1.500.783. OOOđ.

3.3Giao chị Đỗ Thị Như Lụa được sử dụng: tiền mặt 466.100.000đ (sổ tiền này chị đang quản lý), 01 xe Lead BKS 90D1 06295 (trị giá 32.800.000đ). Tổng giả trị tài sản chị Lụa được sử dụng là 498.900.000đ.

3.4. Anh Đ Tiến Dục phải thanh toán chênh lệch tài sản cho chị Đỗ Thị Như Lụa: 500.94L500đ;

4. Buộc anh Đỗ Tiến Dục, chị Đỗ Thị Như Lụa mi người phải thanh toán trả cho ông Đỗ Toàn Long và bà Nguyễn Thị Nhì tiền chi phí nuôi con: 51.000.000đ (Năm mươi mốt triệu đồng).

5. Án phí và chi phí t tụng:

Về chi phí định giá, xem xét thm định: Chị Lụa phải thanh toán tr cho anh Dục 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng)

Án phí ly hôn sơ thẩm: anh Đỗ Tiến Dục và chị Đỗ Thị Như Lụa mỗi người phi chịu 150.000đ.. Án phí cấp dưỡng nuôi con, anh Dục phải chịu 300.000đ. Án phí chia tài sản: Anh Dục, chị Lụa mỗi người phải chịu 40.465.000đ. Số tiền tạm ứng án phí 3.300.000đ anh Dục đã nộp ngày 12/6/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện D được đi trừ khi thi hành án. Bà Nguyễn Thị Nhì phải chịu án phí trên s tiên không được châp nhận 21.440.000đ, được đối trừ tiền tạm ứng án phí 10.000.000d bà đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện D ngày 03/02/2018.

Ngoài ra Bản án còn tuyên về quyền kháng cáo và quyền yêu cu thi hành án của đương sự.

XÉT THY

Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện D đã xử quyết định công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Đỗ Tiến Dục và chị Đỗ Thị Như Lụa, giải quyết các vấn đề về con chung và tài sản chung của anh Dục, chị Lụa cũng như yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Nhì cơ bản đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, về phần tính án phí dân sự sơ thẩm anh Dục, chị Lụa phải chịu chưa được chính xác cụ thể như sau:

Tổng giá trị tài sản của anh Dục và chị Lụa hiện có là 1.999.683.000đ. Tòa án đã quyết định giao cho anh Dục được sử dụng nhà, đất và một số tài sản khác có tổng giá trị 1.500.783.OOOđ; giao cho chị Lụa được sử dụng tài sản và tiền mặt có tổng là 498.900.000đ; anh Dục có trách nhiệm thanh toán tiền chênh lệch tài sản cho chị Lụa 500.941.500đ. Như vậy, mỗi người được hưởng 1/2 giá trị khối tài sản chung là 999.841.500đ. Đồng thời buộc anh Dục và chị Lụa mỗi người phải thanh toán trả cho ông Đỗ Toàn Long và bà Nguyễn Thị Nhì tiền chi phí nuôi cháu Vy là 51.000.000đ. Sau khi đối trừ nghĩa vụ thì anh Dục và chị Lụa mỗi người còn được hưởng là 948.841.500đ tương ứng với số tiền án phí chia tài sản chung mỗi người phải chịu là 40.465.OOOđ. Như vậy, Tòa án quyết định về việc chịu án phí chia tài sản chung là đúng nhưng lại không buộc anh Dục và chị Lụa phải chịu án phí đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được Tòa án chấp nhận (số tiền 102.000.000đ trả cho ông Long và bà Nhì về chi phí nuôi con chung của anh chị) là chưa tính toán đầy đủ số tiền án phí đương sự phải chịu, vi phạm khoản 6 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/IJBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Khoản 6 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016AJBTVQH quy định:

“Điều 26. Nghĩa vụ chịu án phỉ dân sự sơ thẩm

.... 6. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận. Người có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu độc lập được Tòa án chấp nhận.

Theo danh mục án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo Nghị quyết 326) thì anh Dục và chị Lụa phải chịu án phí đối với yêu cầu độc lập của bà Nhì được Tòa án chấp nhận là 102.000.000đ X 5% = 5.100.000đ, mỗi người phải chịu 2.550.000đ.

Như vậy, anh Dục và chị Lụa ngoài việc phải chịu án phí về phần tài sản được chia còn phải chịu án phí đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được Tòa án chấp nhận nhưng Bản án số 02/2018/HNGĐ-ST ngày 07/02/2018 của Tòa án nhân dân huyện D không buộc anh Dục và chị Lụa phải chịu khoản án phí trên là không đúng quy định của pháp luật làm thiệt hại đên lợi ích của Nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Kháng nghị đối với Bản án số 02/2018/HNGĐ-ST ngày 07/02/2018 của Tòa án nhân dân huyện D theo hướng sửa về phần án phí dân sự sơ thẩm; buộc anh Dục và chị Lụa mỗi người phải chịu thêm khoản án phí 2.550.000đ đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được Tòa án chấp nhận.

Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh H xét xử phúc thẩm theo hướng trên

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi