Kháng nghị phúc thẩm đối với bản án “Tranh chấp hôn nhân gia đình”

Căn cứ Điều 27 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;

Căn cứ các Điều 278, 279 và 280 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Xét Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 23/2018/HNGĐ-ST ngày 08/02/2018 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ giải quyết vụ án: “Tranh chấp hôn nhân gia đình” giữa:

Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Hồng Vinh.

Địa chỉ: 21/24 Nguyễn An Ninh, phường E, thành phố B, tỉnh Đ.

Bị đơn: Ông Lê Văn Chính.

Địa chỉ: 21/24 Nguyễn An Ninh, phường E, thành phố B, tỉnh Đ.

Ngirờỉ có quyền lọi nghĩa vụ liên quan:

Ông Lê Xuân Sắc. Địa chỉ: số 106 - Liên gia 6, t dân phố 11, phường E, thành phố B, tỉnh Đ.

Ồng Trần Mạnh Hiền.

Ông Lê Văn Hiếu.

Cùng địa chỉ: Thôn Tân Hưng, xã E , thành phố B, tỉnh Đ.

tìà Trần Thị Thúy. Địa chỉ: 16 Nguyễn Duy Trinh, phường T, thành phố B, tỉnh Đ.

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, chi nhánh tỉnh Đ

Phòng giao dịch Đại học T (Phòng giao địch Đại học T). Địa chỉ: 567 Lê Duẩn, phường E, thành phố B, tỉnh Đ.

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - chi nhánh E, tỉnh Đ (Ngân hàng E). Địa chi: 445 Lê Duẩn, phường E, thành phố B, tỉnh Đ.

NHẬN THẤY

Ông Lê Văn Chính và Bùi Thị Hồng Vinh tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 13/11/1995 tại ƯBND phường E, thành phố B, tỉnh Đ. Quá trình chung sống, ông bà có 02 con chung là cháu Lê Quang Minh, sinh ngày 16/11/1996 và cháu Lê Minh Khôi, sinh 01/02/2003. Đến năm 2015, do vợ chồng nghi ngờ nhau không chung thủy nên phát sinh mâu thuẫn, ông bà đã sông ly thân. Nhận thấy tình cảm vợ chng không còn nên bà Vinh khởi kiện xin ly hôn, ông Chính đồng ý.

Về con chung: Cháu Minh đã đủ tuổi trưởng thành nên các bên không yêu cầu giải quyết, cả hai ông bà đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Khôi và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Cháu Khôi có nguyện vọng ở với b.

Về tài sản chung yêu cầu chia gồm:

1/ Thửa đất có diện tích 203,2m2 tại số 25 Nguyễn An N, thành phố B, trị giá đất và tài sản trên đất là 1.374.360.000 (Đất đã kê khai đăng ký nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đẩt (Giấy CNQSDĐ), do ông bà chưa nộp thuế đt theo quy định.

2/ Thửa đất 270B, tờ bản đồ số 29 có diện tích 375m2 tại thôn Tân Hưng, xã E, thành ph B, theo Giấy CNQSDĐ số A920117 do ƯBND thành phố B cấp ngày 08/5/2007 cho hộ ông Chính, bà Vinh, trị giá 200.000.000đ.

Bà Vinh có nguyện vọng giao toàn bộ tài sản cho ông Chính và nhận giá trị chênh lệch băng tiền. Ông Chính cho rằng 02 thửa đất này là tài sản riêng của ông, bà Vinh không có công sức đóng góp nên không đồng ý là tài sản chung.

Về công nợ: ông Chính, bà Vinh thống nhất chia đôi nợ chung.

1/ Ông Chính, bà Vinh có ký hợp đồng vay 120.000.000đ của Phòng giao dịch Đại học T (cho chị Lê Thị Nga cháu ông Chính). Ông Chính, bà Vinh thống nhất ông Chính có nghĩa vụ trả nợ. Ngân hàng không có đơn yêu cầu độc lập, đê nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

2/ Năm 2016, ông Vinh vay tín chấp số tiền 110.000.000đ ca Ngân hàng E để làm nhà, dư nợ gốc tính đến ngày 25/8/2017 là 60.160.000đ. Đến ngày 15/01/2018, ông Vinh đã trả xong và đáo hạn khoản vay để trả nợ.

3/ Nợ bà Trần Thị Thúy số tiền 20.000.000d.

4/ Nợ ông Lê Xuân Sắc số tiền 40.000.000đ.

5/ Nợ ông Nguyễn Mạnh Hiền số tiền 6.600.000đ.

6/ Nợ ông Lê Văn Hiếu số tiền 6.600.000đ.

Quá trình giải quyết, Ông Vinh đã trả xong các khoản nợ cho bà Thúy, ông Sắc, ông Hiền, ông Hiếu, tổng cộng: 73.200.000đ.

Tại Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 23/2018/HNGĐ-ST ngày 08/02/2018 của Tòa án nhân dân thành phố B, đã quyết định:

Căn cứ các Điều 28, 35 và 39 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 55, 57, 59, 60, 62, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình năm 20ỉ4; Nghị quyết 326/2016/ ƯBTVQH14 ngày 30/12/2016 cùa ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phỉ Tòa án. Tuyên xử:

Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn của bà Bùi Thị Hồng Vinh. Bà Vinh được ly hôn với ông Lê Văn Chính, về con chung: giao cho ông Chính trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung là Lê Minh Khôi đến tui trưởng thành. Ông Chính không yêu câu bà Vinh cấp dưỡng nuôi con.

Vê tài sản chung: giao cho ông Chính quản , sử dụng tất các tài sản là:

1/ Đt và tài sản trên diện tích đt 203,2m2 tại 25 Nguyễn An Ninh, thành ph B, tỉnh Đ. Trị giá tài sản: 314.360.000đ

2/ Thửa đất có diện tích 375m2 tại thôn Tân Hưng, xã E, thành phố B, tỉnh Đ, theo Giấy CNQSDĐ s A920117. Trị giá 200.000.000đ

Sau khi đi trừ nghĩa vụ trả nợ, tổng tàỉ sản chung của vợ chồng được phân chia là 501.160.000d, ông Chỉnh có nghĩa vụ bù trừ chênh lệch chia tài sản ly hôn cho bà Vinh là 750.580.000d

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phỉ tố tụng và quyền khảng cáo của các đưomg sự.

Ngày 02/3/2018, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đ nhận được Bản án sơ thẩm trên

XÉT THẤY

Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 23/2018/HNGĐST ngày 08/02/2018 của Tòa án nhân dân thành phố B có một số vi phạm sau:

Về xác định tư cách người tham gia t tụng: Tòa sơ thẩm xác định Phòng giao dịch Đại học T và Ngân hàng E là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án là không đúng, vì Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, không phải là pháp nhân nên không có năng lực pháp luật dân sự, không th tự mình độc lập tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam là người quyn lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án này mới đúng quy định tại Điêu 84 Bộ luật dân sự năm 2015.

Thửa đất 270B được cấp cho hộ gia đình ông Chính bà Vinh, nhưng cấp sơ thẩm không đưa cháu Lê Quang Minh (con của ông bà) vào tham gia t tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là xác định thiếu người tham gia t tụng; vi phạm quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về chia tài sản chung: cấp sơ thẩm xác định tha đất tại số 25 Nguyễn An Ninh là tài sn chung ca ông Chính, bà Vinh nên chia đôi tài sản. Ông Chính không đồng ý vì tài sản có trước thời kỳ hôn nhân (nhận sang nhượng ngày 16/11/1994, kết hôn ngày 13/11/1995). Bà Vinh cho rng ông bà chung sống trước khi kết hôn và có đóng góp 4 chỉ vàng để nhận chuyển nhượng thửa đất này. Mặc dù hồ sơ kê khai có tên cả bà Vinh nhưng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử đụng đất ghi ngày 16/11/1994 với ông Đoàn Pha, chỉ có một ông mình ông Chính ký tên nhận chuyển nhượng, không có chữ ký bà Vinh, cấp sơ thẩm chưa đưa ông Pha vào tham gia tổ tụng với tư cách người làm chứng để làm rõ: tại thời đim nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất bà Vinh có tham gia nhận chuyển nhượng không để có cơ sở xem xét công sức đóng góp vào khối tài sản để phân chia theo đúng quy định của pháp luật.

Về nợ chung: Các bên đồng ý việc chia đôi nợ chung. Quá trình giải quyết vụ án, ông Chính đã tự nguyện sẽ trả toàn bộ số nợ chung cho những người có quyn lợi nghĩa vụ liên quan, nhưng phần Quyết định của Bản án sơ thẩm không tuyên rõ. Đồng thời, đối với khoản nợ 120.000.000đ của Phòng giao dịch Đại học Tây Nguyên, các bên thống nhất ông Chính có nghĩa vụ trả nợ, nhưng phần Quyết định của Bản án sơ thẩm không ghi nhận thỏa thuận về nghĩa vụ trả khoản nợ này của các bên là giải quyết vụ án chưa triệt để.

Do Bản án sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, xác định thiếu người tham gia tố tụng, giải quyết vụ án chưa chính xác và chưa triệt để làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự nên cần hủy một phần Bn án sơ thm nêu trên v phn tài sản và công nợ, giao h sơ v cho Tòa án nhân dân thành phố B giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYT ĐỊNH

Kháng nghị Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 23/2018/HNGĐ-ST ngày 08/02/2018 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ.

Đ nghị Toà án nhân dân tỉnh Đ xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng hủy một phần Bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân thành ph B, tỉnh Đ giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm./.

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi