Kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự "Trộm cắp tài sản"

Căn cứ các Điều 41, 336 và Điều 338 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Xét bản án hình sự sơ thẩm số 64/2017/HSST ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện P – tỉnh P đã xét xử các bị cáo:

Khổng Văn H - sinh năm 1982;

Nơi ĐKNKTT: Thôn P, xã C, huyện S, tỉnh V

Nghề nghiệp: Lao động tự đo; Văn hóa: 05/12;

Tiền sự: Không;

Tiền án:

+ Bản án số 23/2016/HSST ngày 29/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh V xử phạt 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Ra trại ngày 11/12/2016.      

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/6/2017. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh T.

Khẳng Tiến D - sinh năm 1982;

Nơi ĐKNKTT: Thôn P, xã C, huyện S, tỉnh V

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12;

Tiền án, Tiền sự. Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/6/2017. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tinh Tuyên Quang.

Các bị cáo bị xét xử về tội: "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

NHẬN THẤY

Ngày 02/4/2017 tại khu 6, xã Trung Giáp, huyện P, tnh P. Khổng Văn H và Khổng Tiến D đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 19P1- 219.30 có trị giá 14.000.000 đồng của anh Trần Công B.

Bản án số 64 ngày 29/12/2017 của TAND huyện P đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Khổng Văn H và Khổng Tiến D phạm tội "Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Khổng Văn H 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2017.

Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm h,p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Khổng Tiến D 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2017.

Ngoài ra bản án còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo.

XÉT THẤY

Với hành vi phạm tội như trên, Tòa án nhân dân huyện P đã xét xử các bị cáo về tội Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, qua nghiên cứu bản án thấy rằng:

Ngày 02/4/2017 bị cáo H và D trộm cắp 01 chiếc xe mô tô của anh Trần Công B. Sau đó hai bị cáo sử dụng luôn chiếc xe này làm phương tiện đi trộm cắp tài sản. Đến ngày 27/6/2017 khi bị cáo Khổng Văn H và Khổng Tiến D thực hiện hành vi trộm cắp khác tại địa bàn huyện S, tnh T thì bị Công an huyện S, tnh T bắt giữ, khỏi tố vụ án, khi tố bị can và bắt tạm giam H và D tự ngày 27/6/2017 (vụ án này Cơ quan điều tra Công an huyện S, tnh T giải quyết độc lập, không chuyển và nhập vụ án với Cơ quan điều tra công an huyện P)

Trong vụ án trộm cắp tài sản do các bị cáo H và D thực hiện tạỉ khu 6, xã T, huyện P, tỉnh P các cơ quan tiến hành tố tụng huyện P không áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo H và D.

Bản án số 64/2017/HSST ngày 29/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện P khi xét xử đã xử phạt bị cáo H 15 tháng tù, bị cáo D 12 tháng tù, nhưng thời hạn tù của hai bị cáo lại tính từ ngày 28/6/2017, là ngày mà Công an huyện S, tnh T bắt tạm giam các bị cáo tại vụ án khác xảy ra tại huyện S, tỉnh T là không đúng. Bởi hành vi trộm cắp của các bị cáo tại huyện S, tỉnh T đã bị các cơ quan tố tụng huyện S, tỉnh T áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam thì khi xét xử Tòa án huyện S, tỉnh T sẽ tính thời hạn chấp hành hình phạt tù của các bị cáo từ ngày bị bắt tạm giam theo quy định tại điều 33 BLHS năm 1999 và theo hướng dẫn tại điểm a mục 3 nghị quyết số 01 ngày 04/8/2000 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao.

Hơn nữa chưa biết quyết định của Tòa án huyện S, tỉnh T là như thế nào (các bị cáo có tội hay không có tội), và trong vụ án xảy ra tại huyện P các bị cáo không bị tạm giam, vì vậy khi xét xử thì Tòa án nhân dân huyện P chỉ được tuyên mức hình phạt đối với các bị cáo và tính thời hạn tù từ ngày các bị cáo đi chấp hành án, còn việc tổng hợp hình phạt tù của các bản án đối với các bị cáo sẽ đo Tòa án cấp có thẩm quyền quyết định theo điều 51 của luật hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm số 64/2017/HSST ngày 29/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện P, tnh P theo thủ tục phúc thẩm.

Đề nghị Tòa án nhân dân tnh P xét xử vụ án theo trình tự phúc thẩm, áp dụng Điều 355, khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự để sửa một phần bản hình sự sơ thẩm số 64/2017/HSST ngày 29/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện P.


 

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi