Kháng nghị phúc thẩm vụ án “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” và “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”

Căn cứ các điều 41, 336 và 338 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Xét Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2017/HSST ngày 27 tháng 12 năm 2017 Tòa án nhân dân thị xã Y, tỉnh Q đã xét xử các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn H; Sinh ngày 16 tháng 9 năm 2000; Trình độ văn hóa: lớp 10/12; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Nơi ĐKHKTT: Khu Thống Nhất 2, phường Tân An, thị xã Y, tỉnh Q; Tiền án, tiền sự: chưa có; Bị can được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự.

2. Họ và tên: Trần Văn L; Sinh ngày 25 tháng 5 năm 1996; Trình độ văn hóa: lớp 12/12; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Nơi ĐKHKTT: Khu Thống Nhất 2, phường Tân An, thị xã Y, tỉnh Q; Tiền án, tiền sự: chưa có; Bị can được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, quy định tại khoản 1 Điều 205 Bộ luật Hình sự.

NHẬN THẤY

Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 02/7/2017, Trần Văn L mặc dù biết Nguyễn Văn H không có giấy phép lái xe nhưng vẫn giao xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 14X1 - 034.88 có dung tích xi lanh 134 cc cho Nguyễn Văn H để điều khiển. Khi đi đến km10 + 500 đường tỉnh 331, đoạn thuộc khu Rặng Thông, phường Y, là khu vực đông dân cư, thời tiết mưa nhỏ, đường trơn ướt, H điều khiển xe không giảm tốc, không đi về bên phải theo chiều đi của mình đã đâm vào bà Đặng Thị Hồng đang đi bộ qua đường gây thương tích, tổn hại sức khỏe 89%.

Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2017/HSST ngày 27/12/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Y, tỉnh Q đã tuyên bổ bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, Trần Vần L phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 69; Điều 74 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt Nguyễn Văn H 18 tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày bắt đi thi hành án. Áp dụng khoản 1 Điều 205; điểm b, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; Khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b khản 1 Nghị quyết 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017: Xử phạt Trần Văn L 9 tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Giao bị cáo L cho Ủy ban nhân dân phường Tân An, thị xã Y, tỉnh Q giám sát, giáo dục.

Phần bồi thường dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 42 Bộ luật Hình sự; Khoản 1 Điều 584, khoản 2 Điều 586, khoản 1 Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự: công nhận sự thỏa thuận về bồi thường thương tích cho bà Đặng Thị Hồng giữa bà Bùi Thị Hương (là người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn H) và ông Phạm Văn Chính (là người đại diện theo ủy quyền của bà Hồng). Bà Hương phải bồi thường cho bà Hồng số tiền 100.000.000đồng.

XÉT THẤY

Về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn H: Bị cáo H là vị thành niên, phạm tội do lỗi vô ý, hành vi của bị cáo H xuất phát từ hành vi giao phương tiện giao thông là nguồn nguy hiểm cao độ của bị cáo L (là người đã thành niên ) cho bị cáo H điều khiển. Người bị hại cũng có lỗi một phần vì đi bộ không đúng phần đường giành cho người đi bộ. Sau khi gây tai nạn gia đình bị cáo H đã bồi thường cho người bị hại 40.000.000đồng. Căn cứ vào Điều 2 Nghị Quyết số: 01/2013 ngày 06/11/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì bị cáo H đủ điều kiện để được hưởng án treo và việc cho bị cáo H hưởng án treo cũng đảm bảo nguyên tắc xừ lý đối với trẻ vị thành niên. Bản án sơ thẩm không cho bị cáo H được hường án treo là quá nghiêm khắc.

Về bồi thường dân sự: Bản án sơ thẩm công nhận sự thỏa thuận về bồi thường thương tích cho bà Đặng Thị Hồng giữa bà Bùi Thị Hương và ông Phạm Văn Chính. Bà Hương phải bồi thường cho bà Hồng số tiền 100.000.000 đồng. Bị cáo L là người chiếm hữu, sử dụng xe mô tô, biết H không có bằng lái xe nhưng vẫn giao xe cho H điều khiển và gây tai nạn, trong trường hợp này bị cáo L phải bôi thường thiệt hại chứ không phải bị cáo H. Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét trách nhiệm bôi thường của L, chỉ buộc đại diện gia đình bị cáo H phải bồi thường là vi phạm quy định tại khoản 2, mục III, Nghị quyết số 03 ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2017/HSST ngày 27 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân thị xã Y, tỉnh Q về phần hình phạt và trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Nguyễn Văn H.

Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Q xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng cải biện pháp thi hành án, cho bị cáo Nguyễn Văn H được hưởng án treo; hủy phần dân sự của bản án để xét xử lại buộc bị cáo Trần Văn L có tráchnhiệm bồi thường cho bà Đặng Thị Hồng./.

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi