Kháng nghị phúc thẩm bản án dân sự sơ thẩm vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyền nhượng quyền sử dụng đất"

            Căn cứ khoản 7 Điều 27 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;

         Căn cứ Điều 278, Điều 279, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm2015,

Xét Bản án dân sự sơ thẩm số: 33/2017/DSST ngày 31/10/2017 của Tòa án nhân dân huyện A, giải quyết vụ án:“Tranh chấp hợp đồng chuyền nhượng quyền sử dụng đất giữa:

Nguyên đơn: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1984

Địa chỉ: số 75D32, khu vục 2, phường D, Quận B, thành phố E. Người đại diện theo ủy quyền của anhĐ có ông Nguyễn Thanh C, sinh năm 1955, trú tại 178, đường 30 tháng 4, phường D, Quận B, thành phố E.

Bị đơn: Ngô Văn K, sinh năm 1972.

Địa chi: tổ 03, ấp H, xã I, huyện A, tỉnh Y. Người đại diện theo ủy quyền của anh K có anh Lê Phan Hoàng D, sinh năm 1990 trú tại kH 1, phường H, thịM, tỉnh Y.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

1/ Ngô Văn B, sinh năm 1975

Địa chi: tổ 06, ấp LT, huyện X, tỉnh Y

2/ Chị Vỗ Thị L, sinh năm 1974

Địa chỉ: tổ 03, ấp L, xã T, huyện A, tỉnh Y.

Người đại diện theo ủy quyển của chị L có anh Lê Phan Hoàng D, sinh năm 1990 trú tại kH 1, phường H, thịM, tỉnh Y.

NHẬN THẤY

Theo nguyên đơn Nguyễn Văn Đ trình bày: Ngày 04/5/2016 anh Đ và anh Ngô Văn B lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 184, tờ bản đồ số 15, diện tích 2.948 m2 loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp H, xã I, huyện A, tỉnh Y do anh B đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng với giá 200.000.000 đồng, được công chứng tại Phòng công chứng số 02, thị xã M, tỉnh Y. Khi chuyển nhượng anh B có cam kết đất không có tranh chấp, anh Đ đã giao tiền cho anh B xong và anh B đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Đ lập thủ tục sang tên. Đến khoảng tháng 01 năm 2017 anh Đ làm thủ tục sang tên thì anh Ngô Văn K đứng ra ngăn cản vì anh K cho rằng phần đất trên anh đã mua của anh B vào ngày 14/4/2010, hai bên có viêt giy tay. Nay anh Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 04/5/2016 giữa anh Đ và anh B, không công nhận việc mua bán đất theo giấy tay ngày 14/4/2010 giữa anh B với anh K, buộc anh K phải giao phần đất tranh chấp trên cho anh.

Bị đơnNgô Văn K không đồng ý theo yêu cầu của anh Đ vì lúc anh B lập hợp đồng chuyển nhượng với anh Đ thì anh K không hay biết vì anh đã chuyển nhượng của anh B phần đất trên vào ngày 14/4/2010, việc chuyn nhượng ch lập giấy tay và anh đã canh tác phần đất tranh chấp trên từ đó cho đến nay.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Ngô Văn B: Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đến nay anh B vẫn không có ý kiến gì phản hồi cho Tòa án.

Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2017/DSST của Tòa án nhân dân huyện A đã quyết định:

Căn cứ Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 144, 147, 157, 165, Khoản 3 Điều 228 và Khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 3 Điều 188 luật đất đai năm 2013; căn cứ các Điều 117, 119, 122, 129 và Điều 131, 502 và Điều 503 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 357 và Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ Khoản 3 Điều 26 và Điểm a Khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 04/5/2016 tại phòng công chứng số 02, địa chỉ: tổ 01, kH 2, thị xã M, tỉnh Y giữa anh Nguyễn Văn Đ và anh Ngô Văn B chuyển nhượng quyển sử dụng đất tha số 184, tờ bản đồ số 15, diện tích 2948 m2 loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc ấp H, xã I, huyện A, tỉnh Y do anh Ngô Văn B đứng tên giấy chứng nhận quyển s dụng đất.

Buộc anh Ngô Văn B phải có trách nhiệm trả lại cho anh Nguyễn Văn Đ số tiền 200.000.000 đồng.

K từ ngày người đựơc thi hành án có làm đơn yêu cầu thi hành án, mà bên phải chịu thi hành án chưa tự nguyện thi hành án xong, thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo điều 357 và khoản 2 điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Buộc anh Nguyễn Văn Đ có trách nhiệm trả lại do anh Ngô Văn B bản gốc giấy chứng nhận quyển sử dụng đất thửa số 184, tờ bản đồ số 15, diện tích 2.948m2loại đất chuyên trồng lúa nưởc, tọa lạc ấp H, xã I, huyện A, tỉnh Y do anh Ngô Văn B đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Về hậu qu của hợp đồng chuyển nhượng qvyền sử dụng đất lập ngày 04/5/2016 tại phòng công chứng số 02, địa chỉ, tổ 1, kH 2, thị xã M, tinh Y giữa anh Nguyễn Văn Đ và anh Ngô Văn B đi với thửa số 184, tờ bản đồ s 15, diện tích 2.948m2 loại đất chuyên trồng a nước, tọa lạc tại ấp H, xã I, huyện A, tỉnh Y do anh Nguyễn Văn Đ không yêu cầu nên hội đồng xẻt xử không đặt ra xem xét

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn Đ đối với anh Ngô Văn K về việc anh Nguyễn Văn Đ yêu cầu anh Ngô Văn K phải giao phần đất thửa 184, tờ bản đồ số 15 diện tích 2.948 m2 loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp H, xã I, huyện A, tỉnh Y cho anh Nguyễn Văn Đ

3.  Không chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn Đ về việc yêu cầu không công nhận việc mua bán đất theo giấy tay ngày 14/4/2010 phần đất thửa 184, tờ bản đồ số 15 diện tích 2.948 m2 loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp H, xã I, huyện A, tỉnh Y giữa anh Ngô Văn B và anh Ngô Văn K là không có căn cứ.

4.  Đình chỉ yêu cầu của anh Nguyễn Văn Đ đối với anh Ngô Văn B phải giao phần đất thửa số 184, tờ bản đồ số 15, diện tích 2.948 m2 tọa lạc tại ấp H, xã I, huyện A, tinh Y cho anh Nguyễn Văn Đ.

5. Về chi phí khảo sát, đo đạc, định giá anh Nguyễn Văn Đ phải chịu số tiền 2.355.500 đồng, anh Nguyễn Văn Đ đã nộp đủ nên không phải nộp thêm

6.   B án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh Nguyễn Văn Đ phải nộp số tiền 600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ s tiền tạm ứng án phí là 5.000.000 đồng theo lai thu số 001 1710 ngày 21/4/2017 ca Chi cục thi hành án dân sự huyện A. Vậy anh Nguyễn Văn Đ còn nhận lại s tiền 4.400,000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A.Ngoài ra án còn tuyên về quyền, nghĩa vụ của các đương sự trong giai đoạn thi hành án và kháng cáo.

XÉT THY

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Y nhận thấy Bản án dân sự sơ thẩm số: 33/2017/DSST ngày 31/10/2017 của Tòa án nhân dân huyện A đã quyết định có những vi phạm như sau

1. Áp dụng pháp luật về vô hiệu hp đồng không đúng

*Đối với hợp đồng viết tay ngày 14/4/2010 giữa ông B và ông K:

Theo qui đinh tại Khoản 2 Điều 689 Bộ luật dân sự năm 2005 thì hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực theo qui định của pháp luật. Đối với hợp đồng viết tay ngày 14/4/2010 giữa ông Bvớiông K, ông K cho rằng ông đã nhận đất sử dụng và giao 56 chỉ vàng cho ông B nhưng hợp đồng không đúng hình thức và nội dung qui định tại Điều 689 và Điều 698 Bộ luật dân sự 2005, không có công chứng, chứng thực nên phải tuyên bố vô hiệu theo Điều 134 Bộ luật dân sự năm 2005.

Án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông Đ về việc vô hiệu hợp đồng viết tay giữa ông B với ông K là không đúng các điều luật đã nêu.

*Đối với hợp đồng ngày 04/5/2016 giũa ông Đ và ông Ngô Văn B:

Ngày 04/5/2016 anh Đ và anh Ngô Văn B lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 184, tờ bản đồ số 15, diện tích 2948 m2 loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp H, xã I, huyện A, tỉnh Y do anh B đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng với giá 200.000.000 đồng, được công chứng tại Phòng Công chứng số 02 thị xã M. Ông Đ đã giao tiền cho ông B xong và anh B đã giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Đ lập thủ tục sang tên.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 188 Luật đất đai năm 2013: "Người s dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thửa kế tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây: a/ Có giấy chứng nhận; b/ Đất không tranh chấp; c/ Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án; d/ Trong thời hạn sử dụng."

Việc ông B chuyển nhượng thửa đất 184 cho ông Đ là hoàn toàn tự nguyện, có lập hợp đồng, có công chứng và đủ các điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 188 Luật đất đai năm 2013 nên hợp đồng giữa ông B với ông Đ là hoàn toàn hợp pháp và không thuộc trường hợp vô hiệu theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005. Do dó hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông B với ông Đ phải được công nhận nhưng án sơ thẩm vô hiệu hợp đồng giữa ông B với Đ là không đúng.

2. Giải quyết vượt quá phạm vi yêu cầu và tính án phí không đúng:

Vhậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, tại Khoản 2 Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: "Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không th hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tin đ hoàn trả."

Tại Điểm c3 Tiểu mục 2.3 Mục 2 Phần II của Nghị quyết số 02/2004/NQ- HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình quy định: “Khi tuyên bé hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu thì Toà án cần xác định thiệt hại gồm:

Khoản tiền mà bên chuyển nhượng phải bỏ ra để khôi phục lại tình trạng ban đầu của diện tích đất do bên nhận chuyển nhượng đã làm huỷ hoại đất; khoản tiền mà bên nhận chuyển nhượng đã đầu tư để cải tạo làm tăng giá trị quyển sử dụng đất, giá trị công trình, tài sản, cây lâu năm... trên đất. Trong trường hợp hợp đồng chuyn nhượng qưyển sử dụng đất không có thỏa thuận khác về việc áp dụng biện pháp phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 379 Bộ luật Dân sự để bảo đm thực hiện hợp đồng thì thiệt hại còn bao gồm khoản tiền chênh lệch giá trị quyn sử dụng đất do các bên thoả thuận với giá trị quyềnsử dụng đất tại thời điểm xét xử sơ thẩm hoặc các thiệt hại khác, nếu có."

Tại đơn yêu cầu ngày 11/9/2017 về việc sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện (BL149), ông Đ có nêu: Trong trường hợp Tòa án xét xử tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa tôi và ông B vô hiệu thì tôi sẽ khởi kiện ông B bằng vụ kiện khác”. Tại biên bản hòa giải ngày 18/9/2017 (BL 155), đại diện theo ủy quyền của ông Đ yêu cầu: Nếu yêu cầu của nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận thì nguyên đơn không yêu cầu Tòa án xử lý hậu quả hợp đồng chuyển nhượng ngày 04/5/2016 giữa ông Đ và ông B.

Án sơ thẩm tuyên: “Về hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 04/5/2016 tại phòng công chứng sổ 02 địa chi, tổ 1, kH 2, thị xã M, tỉnh Y giữa anh Nguyễn Văn Đ và anh Ngô Văn B đôi với thửa số 184, tờ bản đồ số 15, diện tích 2948 m2 loại đt chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại lusaH, xã I, huyện A, tỉnh Y do anh Nguyn Văn Đ không yêu cầu nên hội đồng xét xử không đặt ra xem xét" Là đúng theo yêu cẩu của nguyên đơn. Nhưng thực tế án sơ thẩm đã buộc ông Btrả lại cho ông Đ số tiền là 200.000.000 đồng là giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu v nghĩa vụ hoàn trả trong giao dịch bị tuyên vô hiệu là vượt quá yêu cầu khi kiện của nguyên đơn.

Khi tuyên buộc ông B hoàn trả cho ông Đ s tiền là 200.000.000 đồng là giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu nhưng án sơ thẩm không buộc ông B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là vi phạm tại Điểm b Khoản 3 Điều 27 Nghị quyết 327/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy địnhvề mức thu, min, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, gây thất thu cho ngân sách nhà nước 10.000.000 đồng.

Tại Điểm b, Khoản 3 Điều 27 Nghị quyết 326 quy định: “Trường hợp một bên yêu cầu công nhận hợp đồng mua bán tài sản, chuyến nhượng quyển sử dụng đất và một bên yêu cầu tưyên bố hợp đồng mua bán tài sàn, chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và có yêu cu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu thì ngoài việc chịu án phí không có giá ngạch được quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều này, người phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản hoặc bồi thường thiệt hại phải chịu án phí như trường hợp vụ án dân sự có giá ngạch đi với giá trị tài sản phải thực hiện nghĩa vụ.

Do bản án sơ thẩm vi phạm như phân tích, nên cần phải sửa án sơ thẩm theo hướng vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng viết tay giữa ông B và ông K. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Đ và ông B; buộc ông K phải giao phần đất thửa 184, tờ bản đồ sổ 15 diện tích 2948 m2 loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp H, xã I, huyện A, tỉnh Y cho ông Nguyễn Văn Đ. Đồng thời sửa án sơ thẩm về án phí và nghĩa vụ chịu tiền chi phí đo đạc tương ứng với nghĩa vụ của các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

        1. Kháng nghị đối với Bản án dân sự sơ thẩm s: 33/2017/DSST ngày 31/10/2017 của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Y

        2. Đề nghị Tòa án nhân dân tnh Y xét xử phúc thẩm theo hướng sửa án sơ thẩm như phân tích trên./.


 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi