Kháng nghị đối với quyết định giám đốc thẩm đối với vụ án vi phạm quy định về quản lý và bảo vệ đất đai

 

Căn cứ Điều 273 và Điều 275 Bộ luật tố tụng hình sự.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án đối với bị cáo:

Trịnh Văn Thanh, sinh năm 1933; trú tại 98C, tổ 10 Vạn Phúc Thượng, phường Cống Vị, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; con ông Trịnh Văn Mạc và bà Vũ Thị Cẩm (đều đã chết); có vợ và 03 con; tiền án, tiền sự: không.

NHẬN THẤY

Thực hiện chủ trương khoán 10, năm 1984 Ủy ban nhân dân quận Ba Đình giao cho bà Nguyễn Thị Loan 367,2 m2 đất nông nghiệp tại thửa 24 dải 118 xứ đồng Bảo Vân để trồng rau và nộp thuế nông nghiệp. Trong đó, có 220 m2 đất nguồn gốc là của bà Loan được Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp năm 1955, số còn lại của bà Hồ Thị Lộc cũng được Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp năm 1955. Toàn bộ số đất trên đã được hợp tác hóa.

Hợp tác xã hoa rau Ngọc Hà quản lý sản xuất từ năm 1960, đến năm 1988 Ủy ban nhân dân quận Ba Đình quản lý Nhà nước về đất đai theo Luật đất đai năm 1988.

Tháng 1-1993, bà Loan bán cho ông Trịnh Văn Thanh ở 21 Cửa Nam, Hà Nội 220m2  (có giấy tờ nguồn gốc của bà Loan) với giá 11,5 cây vàng. Sau đó bà Loan giới thiệu cho ông Thanh mua đất của bà Lộc. Bà Lộc. Bà Lộc và Bà Loan bán tiếp cho ông Thanh 100m2  đất liền kề đất của bà Loan (giấy tờ nguồn gốc đất của bà Lộc) với giá trị 05 cây vàng (bà Lộc được 03 cây vàng, bà Loan được 02 cây vàng gọi là tiền đền bù hoa màu). Khi giao dịch mua bán chỉ viết giấy biên nhận, nhưng sau này ông Thanh yêu cầu thì bà Loan có đơn gửi Ban chủ nhiệm Hợp tác xã xin chuyển nhượng 220m2  đất cho ông Thanh để xác nhận. Sau đó, ông Thanh biết đất anh mua không được làm nhà nên bán số đất trên cho ông Lê Đình Quý 110m2 , bán cho ông Đinh Văn Cử 55m2 , bán cho ông Nguyễn Đăng Hùng 55 m2  với tổng số tiền là 186.120.000 đồng (tương đương với 36 cây vàng). Những người mua đất của ông Thanh đã xây nhà để ở, khi xây đều không có giấy phép và đã có quyết định đình chỉ thi công nhưng vẫn làm nhà.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 156 ngày 20-6-1998, Tòa án nhân dân quận Ba Đình,thành phố Hà Nội áp dụng khoản 1 Điều 180, các điểm d và h khoản 1 Điều 38, Điều 44 Bộ luật hình sự xử phạt Trịnh Văn Thanh 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án về tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ đất đai. Về dân sự: Hủy hợp đồng mua bán đất giữa bà Hồ Thị Lộc với ông Trịnh Văn Thanh, hủy hợp đồng mua bán đất giữa bà Nguyễn Thị Loan với ông Trịnh Văn Thanh và các hợp đồng mua bán đất giữa ông Trịnh Văn Thanh với ông Lê Đình Quý, ông Đinh Quang Cử (ông Cử mua chung với ông Hùng). Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 33 Bộ luật hình sự buộc ông Trịnh Văn Thanh phải nộp 90.090.000 đồng tiền thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước; thu hồi số đất đã chuyển nhượng bất hợp pháp, sai mục đích sử dụng giao cho Ủy ban nhân dân quận Ba Đình giải quyết theo thẩm quyền, cụ thể: thu hồi 110 m2  đất ông Quý đang quản lý, thu hồi 55m2 đất ông Cử đang quản lý, thu hồi 55m2  đất ông Hùng đang quản lý.

Sau khi xét xử sơ thẩm, Trịnh Văn Thanh kháng cáo kêu oan.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 579 ngày 20-10-1998, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội áp dụng khoản 1 Điều 180; các điểm d và h khoản 1 và khoản 2 Điều 38; Điều 22 Bộ luật hình sự xử phạt Trịnh Văn Thanh cảnh cáo về tội vi phạm quy định về quản lý và bảo vệ đất đai. Về phần dân sự: hủy hợp đồng mua bán đất giữa bà Hồ Thị Lộc với ông Trịnh Văn Thanh, hủy hợp đồng mua bán đất giữa bà Nguyễn Thị Loan với ông Trịnh Văn Thanh và các hợp đồng mua bán đất giữa ông Trịnh Văn Thanh với ông Lê Đình Quý và ông Đinh Quang Cử (ông Cử mua chung với ông Hùng). Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 33 Bộ luật hình sự buộc Trịnh Văn Thanh phải nộp 90.090.000 đồng tiền thu lời bất chính để sung quỹ Nhà nước; thu hồi số đất do chuyển nhượng bất hợp pháp va sử dụng sai mục đích, giao cho Ủy ban nhân dân quận Ba Đình giải quyết theo thẩm quyền cụ thể: thu hồi 220m2 đất thửa 24 dải 118 xứ đồng Bảo Vân, hiện thẩm quyền giao đất thì có thẩm quyền thu hồi đất đó. Như vậy, Tòa án không có thẩm quyền thu hồi đất nên quyết định về biện pháp tư pháp, thu hồi đất trên của Tòa án các cấp là không đúng với quy định của luật đất đai.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Kháng nghị Quyết định giám đốc thẩm số 111/HS-GĐT ngày 10-11-1999 của Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao; đề nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy và đình chỉ vụ án đối với quyết định giám đốc thẩm nêu trên, Bản án hình sự phúc thẩm số 579 ngày 20-10-1998 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Bản án hình sự sơ thẩm số 156 ngày 20- 6-1998 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội về phần xử lý vật chứng quyết định: thu hồi 220 m2 đất thửa 24 dải 118 xứ đồng Bảo Vân, hiện do ông Lê Đình Quý quản lý 110m2 , ôn Nguyễn Đăng Hùng đang quản lý 55m2 , ông Đinh Quang Cử đang quản lý 55 m2 giao cho Ủy ban nhân quận Ba Đình giải quyết theo thẩm quyền.

 

 

 Tại quyết định số 06/2016/HS-GĐT ngày 16-6-2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định:

Hủy Quyết định giám đốc thẩm số 111/HS-GĐT ngày 10-11-1999 của Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao và bản án hình sự phuc thẩm số 579 ngày 20-10-1998 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về phần xử lý vật chứng quyêt định: Thu hồi 220 m2 đất thửa 24 dải 118 xứ đồng Bảo Vân, hiện do ông Lê Đình Quý quản lý 110m2 , ôn Nguyễn Đăng Hùng đang quản lý 55m2 , ông Đinh Quang Cử đang quản lý 55 m2 giao cho Ủy ban nhân quận Ba Đình giải quyết theo thẩm quyền. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi