Kháng nghị Bản án lao động sơ thẩm của TAND Quận 11 TP. Hồ Chí Minh đối với vụ án “Tranh chấp về hợp đồng lao động”

 

Căn cứ Điều 27 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;

Căn cứ Điều 250, Điều 251, Điều 252 Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011.

Xét Bản án lao động sơ thẩm số 25/2015/LĐ-ST ngày 24/8/2015 của Tòa án nhân dân Quận 11, giải quyết vụ án “Tranh chấp về hợp đồng lao động” giữa:

Nguyên đơn: bà Lê Thị Thu Tiên, sinh năm: 1982

Đia chl: 42A tổ 50 khu phố 3, phường Tân Thới Nhất, Quận 12 TP. HCM

Bị đơn: Công ty cổ phần dược phẩm Quan Sơn

Đia chl: 36 đường 7A, cư xá Bĩnh Thới, Phường 8, Quận 11 TP. HCM.

Đại diện hợp pháp của bị đơn: bà Lê Thị Ngọc Lan, sinh năm: 1967

Địa chl: 36 đường 7A, cư xá Bình Thới, Phường 8, Quận 11 TP. HCM.

Bản án nêu trên đã quyết định:

Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 31; Điểm c Khoản 1 Điều 33; Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 131, Điều 202, Điều 243, Điều 245 của Bộ luật Tố tụng dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011);

Căn cứ vào Điều 22, Điều 42, Điều 48, Điều 90, Điều 103 và Điều 123 của Bộ luật Lao động năm 2012;

Căn cứ vào Điều 305 của Bộ luật dân sự năm 2005;

Căn cứ vào Điều 14, Điều 21 và Điều 30 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động năm 2012;

Căn cứ vào Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thu Tiên.

  1.      Hủy Quyết định buộc thôi việc số 07/QĐ.DPQS-2014 ngày 26/4/2014 của Công ty cổ phần dược phẩm Quan Sơn. Buộc Công ty cổ phần dược phẩm Quan Sơn phải nhận người lao động (bà Lê Thị Thu Tiên) trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã ký kếtphải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
  2.         Trong trường hợp phía bị đơnCông ty cổ phần dược phẩm Quan Sơn không nhận bà Tiên trở lại làm việc tại Công ty thì:

Buộc Công ty cổ phần dược phẩm Quan Sơn có nghĩa vụ bồi thường cho bà Lê Thị Thu Tiên tổng số tiền là 89.600.000đ (tám mươi chín triệu sáu trăm nghìn đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật bao gồm:

-    Hai tháng tiền lương do buộc thôi việc trái pháp luật là 5.600.000 đồng (năm triệu hai trăm ngàn đồng);

-    Tiền lương trong những ngày làm việc chưa được hưởng lương và những ngày không được làm việc là: 16.800.000đ (Mười sáu triệu tám trăm nghìn đồng);

-     Tiền trợ cấp thôi việc là 67.200.000đ (sáu mươi bảy triệu hai trăm nghìn đồng);

Trường hợp Công ty cổ phần dược phẩm Quan Sơn chậm trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng Công ty cổ phần dược phẩm Quan Sơn còn phải trả thêm cho bà Tiên tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

  1.         Công ty cổ phần dược phẩm Quan Sơn phải lập hồ sơ truy đỏng BHXH, BHYT cho bà Tiên từ tháng 10/2011 theo mức lương 2.500.000 đồng/tháng. Ngay sau khi hoàn thành việc truy đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiếm y tế nêu trên, Công ty cổ phần dược phẩm Quan Sơn phải trả lại cho Lê Thị Thu Tiên sổ bảo hiểm xã hội.
  2.      Về án phí lao động sơ thẩm:

Công ty cồ phần dược phẩm Quan Sơn phải chịu án phí lao động sơ thẩm là 2.688.000đ (hai triệu sáu trăm tám mươi tám nghìn đồng).

Công ty cổ phẩn dược phẩm Quan Sơn phải chịu án phí có giá ngạch tương ứng với khoản tiền bảo hiểm xã hội phải truy đóng cho bà Lê Thị Thu Tiên.

Bà Lê Thị Thu Tiên phải chịu án phí lao động sơ thẩm đối với yêu cầu thanh toán số tiền chi phí cho khách hàng không được chấp nhận là 430.368đ (bốn trăm ba mươi nghìn ba trăm sáu mươi tám đồng).

  1.      Các quyền và nghĩa vụ về việc thi hành án của các đương sự được thực hiện tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  2.      Về quyền kháng cáo: Các đương sự cỏ quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng Bị đơn và Bảo hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo luật định.
  3.         Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Ngày 09/9/2015, Tòa án nhân dân Quận 11 ban hành Thông báo sửa chữa bổ sung bản án số 30/2015/TB-TA, nội dung sửa chữa các số liệu ở phần nhận định và quyết định của Bản án sơ thẩm số 25/2015/LĐ-ST ngày 24/8/2015.

Sau khi xem xét nội dung bản án, thông báo sửa chữa bổ sung bản án nêu trên, Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận thấy:

  1.   Về hình thức:

Ngày 24/8/2015, Tòa án nhân dân Quận 11 đưa vụ án ra xét xử và ban hành Bản án lao động sơ thẩm số 25/2015/LĐ-ST cùng ngày. Căn cứ Khoản 1 Điều 252 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 thì còn trong thời hạn kháng nghị phúc thẩm của Viện Kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh.

  1.   Về nội dung:

Tháng 10/2010, bà Lê Thị Thu Tiên và Công ty cổ phần dược phẩm Quan Sơn có ký Hợp đồng lao động khoán việc số 140/HĐKV với thời gian thử việc là 03 tháng mức lương 2.000.000 đ/tháng. Sau thời gian thử việc lương căn bản là 2.800.000đ, Công ty không ký hợp đồng mới và bà Tiên vẫn tiếp tục làm việc. Đến ngày 26/4/2014, Công ty có Quyết định số 07/QĐ.DPQS-2014 cho thôi việc đối với bà Tiên, thời gian nghỉ việc từ ngày 30/4/2014. Thời điểm này, bà Tiên đã có thai 9 tháng, Công ty cũng không báo trước cho bà biết và yêu cầu bà giao lại toàn bộ số hàng hóa đang quản lý của Công ty mà không có lý do chính đáng.

Sau khi nhận được quyết định cho thôi việc, bà Tiên đã nhiều lần liên hệ với Công ty để giải quyết nhưng không được. Bà Tiên có đến Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội Quận 11 xin can thiệp nhưng không hòa giải được.

Ngày 04/9/2014, bà Tiên có đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân Quận 11 yêu cầu giải quyết việc Công ty cổ phần dược phẩm Quan Sơn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, ra quyết định sa thải người lao động không đúng theo qui định của pháp luật, buộc bà Lan, đại diện cho Công ty cổ phần dược phẩm Quan Sơn thanh toán cho bà Tiên số tiền tổng cộng 114.013.600đ.

Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 24/8/2015, phía nguyên đơn yêu cầu trong trường hợp bị đơn không nhận nguyên đơn trở lại làm việc thi bị đơn phải có trách nhiệm bồi thường cho nguyên đơn tổng cộng tất cả các khoản như tiền lương, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm mất việc, trợ cấp thôi việc, trợ cấp sinh con, tiền viện phí sinh con, bồi thường tiền vi phạm thời hạn báo trước, chi phí đã chi cho khách hàng của doanh số tháng 4/2014 ... với tổng số tiền 171.948.600đ.

Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh nhận thấy: Tòa án cấp sơ

thẩm xác định việc Công ty cổ phần dược phẩm Quan Sơn đơn phương chấm dứt hợp đồng với bà Tiên là trái pháp luật nên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thu Tiên là có cơ sở. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ kiện, Hội đồng xét xử sơ thẩm quyết định các khoản bồi thường là chưa chính xác, chưa đúng với qui định của pháp luật, cụ thể:

Một, tại Phần 1 Quyết định của bản án đã quyết định:

“Hủy Quyết định buộc thôi việc số 07/QĐ.DPQS-2014 ngày 26/4/20l4 của Công ty cổ phần dược phẩm Quan Sơn. Buộc Công ty cổ phần dược phẩm Quan Sơn phải nhận người lao động (bà Lê Thị Thu Tiên) trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã ký kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhât 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động”.

Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên hủy Quyết định buộc thôi việc số 07/QĐ.DPQS-2014 ngày 26/4/2014 của Công ty cổ phần dược phẩm Quan Sơn là có căn cứ. Tuy nhiên chưa xác định cụ thể số tiền Công ty cổ phần dược phẩm Quan Sơn phải trả cho bà Tiên là bao nhiêu trong trường hợp này, nên sẽ không có cơ sở để các bên đương sự yêu cầu thi hành án và tổ chức thi hành án.

Hai, tại Phần 2 Quyết định của bản án đã quyết định:

“2. Trong trường hợp phía bị đơn Công ty cổ phần Dược phẩm Quan Sơn không nhận bà Tiên trở lạl lầm việc tại Công ty thì:

Buộc Công ty cổ phần dược phẩm Quan Sơn có nghĩa vụ bồi thường cho bà Lê Thị Thu Tiên tổng sổ tiền là 89.600.000đ (tám mươi chín triệu sáu trăm nghìn đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật bao gồm:

-  Hai tháng tiền lương do buộc thôi việc trái pháp luật là 5.600.000 đồng (năm triệu sáu trăm ngàn đồng);

-   Tiền lương trong những ngày làm việc chưa được hưởng lương và những ngày không được làm việc là: l 6.800.000đ (Mười sáu triệu tám trăm nghìn đồng);

-   Tiền trợ cấp thôi việc là 67.200.000đ (sáu mươi bảy triệu hai trăm nghìn đồng); ...”

*  Tại Thông báo sửa chữa bổ sung bản án số 30/2015/TB-TA chỉnh sửa lại

là:

2. Trong trường hợp phía bị đơn – Công ty cổ phần Dược phẩm Quan Sơn không nhận bà Tiên trở lại làm việc tại Công ty thì:

Buộc Công ty cổ phần dược phẩm Quan Sơn có nghĩa vụ bồi thường cho bà Lê Thị Thu Tiên tồng số tiền là 28.000.000đ (hai mươi tám triệu đồng) ngay sau khi bản ản có hiệu lực pháp luật bao gồm:

-    Hai tháng tiền lương do buộc thôi việc trái pháp luật là 5.600.000 đổng (năm triệu sáu trăm ngàn đồng);

-     Tiền lương trong những ngày làm việc chưa được hưởng lươngnhững ngày không được làm việc là: 16.800.000đ (Mười sáu triệu tám trăm nghìn đồng);

-     Tiền trợ cấp thôi việc là 67.200.000đ (sáu mươi bảy triệu hai trăm nghìn

đồng); …”

Xét thấy, sau khi sửa chữa bổ sung thì các khoản tiền được Tòa án cấp sơ thẩm tuyên ở Phần 2 này cũng chưa chính xác về mặt tính toán và cũng chưa đúng với các tình tiết của vụ kiện.

Hồ sơ thể hiện: Hợp đồng lao động giữa Công ty cổ phần dược phẩm Quan Sơn và bà Lê Thị Thu Tiên là hợp đồng lao động không xác định thời hạn nên thời điểm thanh toán tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật phải được tính đến thời điểm xét xử là 16 tháng (từ ngày 30/4/2014 đến 24/8/2015). Tiền luơng làm căn cứ bồi thường do đơn phương chấm dứt họp đồng lao động trái pháp luật là 2.800.000 đồng/tháng, nên số tiền bà Tiên được hưởng trong những ngày không được làm việc là 44.800.000 đồng (2.800.000 đồng x 16 tháng). Bản án sơ thẩm tuyên xử tiền lương trong những ngày làm việc chưa được hưởng lương và những ngày không được làm việc là: 16.800.000đ (mười sáu triệu tám trăm nghìn đồng) là không có căn cứ.

Đối với khoản tiền trợ cấp thôi việc: theo qui định tại Khoản 2 Điều 42, Điều 48 Bộ luật Lao động năm 2012 và Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ, Công ty cổ phần dược phẩm Quan Sơn phải chi trả trợ cấp thôi việc cho bà Tiên là 5.600.000đ (2.800.000đ/ tháng x 1/2 tháng lương x 4 năm).

Tại Bản án sơ thẩm xác định số tiền này là 67.200.000đ, sau đó thông báo đính chính ở phần nhận định thành 5.600.000đ, nhưng không đính chính bổ sung ở phần quyết định, dẫn đến quyết định tại Phần 2 của bản án sau khi đã đính chính bổ sung vẫn không phù hợp.

Ba, đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc Công ty cổ phần dược phẩm Quan Sơn phải có trách nhiệm thanh toán số tiền đã chi cho khách hàng doanh số tháng 4/2014 là 14.345.600đ:

Bản án sơ thẩm đã nhận định do phần chi phí này không được các bên thỏa thuận trong nội dung Hợp đồng lao động mà hai bên đã ký kết, do vậy không xem xét chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn, mà sẽ được tách ra thành một vụ kiện

dân sự khác khi có yêu cầu nhưng lại buộc bà Lê Thị Thu Tiên phải chịu án phí 430.368 đồng đối với yêu cầu này là không đúng.

Ngoài ra, nguyên đơn còn yêu cầu bị đơn phải thanh toán và bồi thường khoản tiền hưởng chế độ thai sản, trợ cấp một lần khi sinh con, bồi thường tiền viện phí khi sinh con do Công ty cổ phần dược phẩm Quan Sơn không đóng bảo hiểm y tế.

Xét thấy, Bà Tiên bị buộc thôi việc trong thời gian mang thai, các yêu cầu trên là quyền lợi của người lao động được hưởng khi tham gia lao động nên cần xem xét để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người lao động. Án sơ thẩm đã không xem xét đầy đủ các yêu cầu trên của đương sự làm cho việc giải quyết nội dung vụ án chưa đảm bảo toàn diện và khách quan, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của các bên đương sự.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1.   Kháng nghị Bản án lao động sơ thẩm số 25/2015/LĐ-ST ngày 24/8/2015 của Tòa án nhân dân Quận 11 theo thủ tục phúc thẩm.
  2.  Đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm theo hướng phân tích nêu trên./.

 

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi