Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm của của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng đồi với vụ án "Tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả”

 

Căn cứ Điều 273 và Điều 275 Bộ luật tố tụng hình sự.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự đối với bị cáo:

Nguyễn Quang Phức sinh năm 1974; trú tại tổ dân phố 1, thị trấn Đăk Hà, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon tum; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: khi phạm tội là Trưởng Công an xã Đăk Hring (cán bộ Công an huyện Đăk Hà tăng cường); con ông Nguyễn Quang Phố và bà Nguyễn Thị Vê, có vợ và 02 con; bị bắt giam từ ngày 28-5-2013, tại phiên tòa phúc thẩm ngày 25-3-2015 được trả tự do.

 Trong vụ án còn có các bị cáo Ngô Quốc Trưởng và Lê Trần Quốc Đạt bị kết án về tội “Tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả”.

NHẬN THẤY

Theo Bản án phúc thẩm nội dung vụ án như sau:

Vào năm 2003, trong một lần lên thị trấn Đăk Hà, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum tìm mua đá cảnh, Lê Trần Quốc Đạt quen Nguyễn Quang Phức (lúc này Phức đang là cán bộ điều tra – Công an huyện Đăk Hà). Kể từ đó, khi đi ngang qua địa phận Đăk Hà, có việc gì cần như bị Cảnh sát giao thông thổi phạt, Đạt đều điện thoại nhờ Phức giúp. Có lần Đạt đưa một số mẫu đá xuống cho Phức nhưng vì đá có giá trị thấp nên Đạt không mua. Trong khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 3-2012, Đạt có hai lần vào Công an xã Đăk Hring thăm Phức (lúc này Phức là Trưởng công an xã Đăk Hring).

Vào lúc 7 giờ 36 phút 23 giây ngày 01-5-2012, Nguyễn Quang Phức dùng số điện thoại 0983 407 927 gọi vào số di động 093905720322 cho Đạt nói Đạt tìm những người mua gian bán lận, lừa đảo, nhiều tiền dẫn lên Kon Tum “ký quỹ” để cho Phức bắt. Đạt trả lời “để tôi thử xem”. Ngày 3-5-2012, Đạt điện cho Ngô Quốc Trưởng theo số 0935 789 280 (Trưởng ở Gia Lai, quen biết từ trước với Đạt, làm nghề môi giới buôn bán tự do) để hỏi có ai kỹ quỹ mua lư hương bằng đồng đổi màu thì nói Đạt. Chiều 09-5-2012, Trưởng gọi cho Mùi Cẩm (ở thành phố Hồ Chí Minh, số điện thoại 0919 052 223) cũng làm nghề môi giới,buôn bán tự do hỏi có ai mua bát hương bằng đồng đổi màu với giá 05 tỷ. Cẩm đồng ý tìm đối tác mua. Sau đó, Cầm và Trưởng thống nhất việc “ký quỹ” để chứng minh về khả năng mua và bán của hai bên, cụ thể: bên Trưởng sẽ bỏ ra 100.000.000 đồng và bên mua của Mùi Cẩm sẽ bỏ ra 01 tỷ đồng để “kỹ quỹ”, nếu bên Trưởng không có hàng để bán thì bị mất 100.000.000 đồng đã “ký quỹ”, còn có hàng mà bên phía Mùi Cẩm không mua hoặc không đủ tiền mua thì bị mất 01 tỷ đồng đã “ký quỹ”.

Sau khi tìm được đối tác “ký quỹ” mua chiếc lư hương bằng đồng đổi màu, Mùi Cẩm gọi điện thoại báo cho Trưởng biết và hẹn ngày 14-5-2012 Mùi Cẩm sẽ lên thành phố Kon Tum gặp Trưởng trước để bàn bạc cụ thể. Nghe vậy, Trưởng gọi điện cho Đạt biết.

Tối ngày 11-5-2012, Đạt từ thành phố Hồ Chí Minh gọi điện thoại cho Nguyễn Quang Phức và nói “Tối nay đi lên Kon Tum”, Phức bảo Đạt khi lên đến nơi thì đến thẳng cơ quan Phức. Do hết vé đi Kon Tum nên Đạt đi xe lên Gia Lai. Lúc 05 giờ 34 phút 23 giây ngày 12-5-2012. Đạt gọi điện cho Trưởng đến đón, sau đó Trưởng dùng xe mô tô của gia đình chở Đạt lên Kon Tum. Trên đường đi, Đạt điện thoại báo cho Phức biết. Khi đến thành phố Kon Tum, Đạt chỉ cho Trưởng đi đến khách sạn Phượng Hồng và lấy phòng số 304 (đây là khách sạn Đạt thường nghỉ lại mỗi khi lên Kon Tum). Cất đồ xong, Trưởng tiếp tục sử dụng xe mô tô của mình chở Đạt lên trụ sở Công an xã Đăk Hring để gặp Phức. Trên đường đi, do chạy quá tốc độ nên Trưởng bị Tổ tuần tra thuộc Phòng cảnh sát giao thông xử phạt 150.000 đồng. Đạt gọi điện cho Phức 02 lần nhờ Phức xin, nhưng Phức bảo nộp tiền phạt luôn, nên Trưởng chở Đạt đi nộp tiền tại kho bạc, sau đó quay lại lấy bằng lái rồi tiếp tục đi lên gặp Phức. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, Trưởng và Đạt đến Ủy ban nhân dân xã Đăk Hring, thấy cổng Ủy ban nhân dân xã đóng nên Đạt chỉ cho Trưởng điều khiển xe chạy theo đường tắt bên hông để vào phòng làm việc của Phức tại Công an xã Đăk Hring.

Khi vào trụ sở Công an xã Đăk Hring thì gặp Phức, Phức dẫn Đạt, Trưởng vào phòng và đóng cửa lại. Đạt giới thiệu Trưởng với Phức rồi hỏi Phức về số tiền dùng để “ký quỹ” thì Phức nói: “Tiền ký quỹ không phải lo, cứ mang nó lên đây”, sau đó Phức đi tới chiếc tủ gỗ bên trong gần giường ngủ của Phức lấy ra một bọc tiền bỏ ra giữa bàn cho Đạt và Trưởng xem rồi nói: “Tiền đây, tiền em mới bắt được dùng về để ký quỹ”. Đạt và Trưởng nhìn thấy có 06 cục tiền Poolyme, loại mệnh giá 200.000 đồng. Lúc này Đạt nói cho Phức: “Thế chú định bắt bọn đó ở đây à”. Phức trả lời: “Anh bị điên à, tý nữa đi ăn cơm rồi em dẫn đi xem luôn chỗ em bố trí”. Sau đó, Phức hỏi Trưởng “Đối tác khi nào lên”. Trưởng trả lời: “Người ta nói cuối tuần Ngân hàng không làm việc, đầu tuần người ta lên”.

Nói chuyện được một lúc thì Phức mời Đạt và Trưởng đi ăn cơm, tiện thể đi xem chỗ Phức bố trí bắt, Phức chạy xe mô tô của Phức đi trước dẫn đường, còn Trưởng chở Đạt đi theo sau. Khi đến mỗi bãi đất trống ven đường liên xã Đăk Hring và Đăk Pờxi, cách đường quốc lộ 14 khoảng 02km, cách ngã ba thôn 1, xã Đăk Hring khoảng 20m có một đường đi vào xã Đăk Pờxi, một đường cấp phối đi vào thôn 3 xã Đăk Hring. Đến đây Phức dừng xe lại và nói với Trưởng: “Mày dẫn đối tác tới đây rồi đi bộ vào con đường này (Phức vừa nói vừa chỉ tay vào con đường cấp phối đi vào thôn 3 xã Đăk Hring) mày đi một đoạn sẽ có người đón. Việc của mày chỉ có vậy thôi”, còn sau đó thì Phức sẽ lo. Nói xong Phức dẫn Đạt và Trưởng đi ăn. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Trưởng chở Đạt về khách sạn Phượng Hồng.

Vào lúc 16 giờ 39 phút 21 giây ngày 13-5-2012, Đạt gọi cho Phức, Phức hỏi số phòng rồi lên phòng Đạt ở chơi. Khi vào phong, Phức lấy gói thuốc lá ra hút thì hết thuốc. Thấy vậy, Đạt nói Trưởng xuống lễ tân của khách sạn mua thuốc lá cho Phức hút. Trong lúc Trưởng đi mua thuốc lá thì Phức hỏi khi nào đối tác lên. Đạt trả lời đối tác đang lên, khi nào đến nơi Đạt sẽ gọi cho Phức. Khi Trưởng mang thuốc lá lên thì Phức mở ra lấy 01 điếu, hút xong điếu thuốc thì Phức về. Buổi tối hôm đó, Đạt còn gọi cho Phức 3 cuộc nữa để bàn chuyện “ký quỹ”.

Vào lúc 08 giờ 54 phút 50 giây ngày 14-5-2012, Mùi Cẩm gọi điện cho Trưởng biết đã lên Kon Tum và hẹn Trưởng đến phòng 202 khách sạn Hoàng Thịnh để bàn chuyện “ký quỹ”. Tại đây, Trưởng, Mùi Cẩm và Vòng Kín (đi cùng Cẩm) đã thống nhất việc mua bán chiếc lư hương bằng đồng đổi màu với giá 04 tỷ đồng, bên mua bỏ ra 01 tỷ đồng để tiến hành “ký quỹ”, hai bên đồng ý. Mùi Cẩm nói ngày mai những người ở thành phố Hồ Chí Minh sẽ lên mua hàng và nói Trưởng chuẩn bị tiền. Trưởng trả lời ở đây người ta cũng có tiền rồi. Khoảng 11 giờ cùng ngày thì Trưởng quay về khách sạn Phượng Hồng.

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 14-5-2012, Phức đi cùng Hoàng Công Viễn (phó Công an xã Đăk Hring) đến phòng 304 khách sạn Phượng Hồng. Khi vào phòng Phức lấy trong túi áo khoác ra một bọc tiền, ném ra giường nằm của Đạt và nói: “tiền em mang xuống để ký quỹ”. Đạt và Trưởng mở bọc tiền ra xem thì thấy toàn bộ đều bị ướt. Trưởng lấy chiếc chăn ở giường để trải tiền lên lau cho khô (lúc này Viễn đang nằm trên giường của Trưởng, mặt quay vào tường và không nói gì). Trưởng lau 01 cục tiền thì phát hiện thấy màu tiền hơi lạ nên hỏi Phức: “tiền này giống tiền giả”, sau đó Trưởng cầm một nắm tiền vò vò rồi thả ra giường thì thấy tiền không bung thẳng ra, cho nên Trưởng biết chắc chắn là tiền giả. Trong lúc đang lau tiền thì Đạt cũng nói: “Ôi tiền rởm”. Thấy vậy, Phức nói: “tiền này không được xài đâu, chỉ cầm nhá cho người ta xem thôi, không được ký giấy tờ gì với bọn nó”. Lau tiền xong, Trưởng đếm được 06 cục tiền pôlyme loại mệnh giá 200.000 đồng thì biết có tổng cộng 120.000.000 đồng. Lúc này có anh Jơn (là người quen của Trưởng được Trưởng dẫn lên Kon Tum để mua bán đất, tối 13/5/2012 anh Jơn ngủ chung với Đạt tại phòng 304) gõ cửa phòng. Trưởng ở trong phòng nói ra là đang có khách, anh đi chơi đi, tý nữa lên. Lúc này ở trong phòng Phức tiếp tục dặn Trưởng chỉ được nhá tiền, rồi Trưởng cất bọc tiền vào tủ ti vi tại phòng 304. Khoảng 13 giờ cùng ngày, Phức và Viễn ra về, lúc ra đến cửa phòng Phức còn nói với Đạt: “Khi nào Trưởng gửi biển số xe của đối tác thì anh nhắn biển số xe ô tô cho em”.

Vào lúc 8 giờ 59 phút 29 giây ngày 15-5-2012, Trưởng gọi điện cho Mùi Cẩm, thì Mùi Cẩm bảo Trưởng qua khách sạn Hoàng Thịnh uống cà phê rồi chờ đối tác lên. Khi gặp Mùi Cẩm, Trưởng hỏi: “Tiền bạc sao rồi”. Mùi Cẩm nói: “11 giờ mới có người mang tiền ra”.

Khoảng gần trưa ngày 15-5-2012 thì những người “ký quỹ” trong nhóm của Mùi Cẩm từ thành phố Hồ Chí Minh đi trên 01 chiếc xe Inova 7 chỗ tới thành phố Kon Tum. Lúc 11 giờ 32 phút 45 giây cùng ngày, sau khi thấy những người “ký quỹ” trong nhóm của Mùi Cẩm, Trưởng đã nhắn tin số xe của đối tác về cho Đạt, tin nhắn có nội dung: “soxe 51A-16196”.

Sau khi ăn cơm trưa với Mùi Cẩm, Trưởng về khách sạn Phượng Hồng lấy tiền. Lúc này Đạt đang ăn cơm, Trưởng gọi điện nói Đạt về mở cửa phòng lấy tiền đưa Trưởng để gặp đối tác. Đạt đưa tiền cho Trưởng, thì Trưởng hỏi Đạt có đi luôn không. Đạt trả lời: “Tí nữa tôi lên sau”. Trưởng hỏi: Cầm hết số tiền 120.000.000 à?. Đạt trả lời: “Cứ cầm hết đi”. Sau đó, Đạt lấy xe mô tô của Trưởng chở Trưởng mang theo 120.000.000 đồng tiền giả đi từ khách sạn Phượng Hồng đến ngã 3 Trần Phú – Nguyễn Huệ, thành phố Kon Tum thì Trưởng xuống xe và đi bộ đến chỗ đối tác đang đứng gần xe ô tô đậu trước khách sạn Hoàng Thịnh; còn Đạt chạy xe về khách sạn Phượng Hồng.

Sau khi nhận được tin nhắn của Trưởng, Đạt gọi điện cho Phức và nói: “Em lấy bút ra ghi số xe của bọn đi buôn này”. Phức trả lời: “tý nữa, em đang chạy xe, anh nhắn tin qua cho em đi”. Một lúc sau, vào lúc sau vào lúc 11 giờ 46 phút 16 giây Đạt đã sử dụng nguyên văn tin nhắn của Trưởng có nội dung “soxy 51A-16196” để nhắn tin chuyển tiếp tới máy di động của Phức và Phức đã nhận được tin nhắn này.

Còn Trưởng sau khi lấy 120.000.000 đồng tiền giả đã leenxe ô tô của đối tác và cùng các đối tác lên huyện Đăk Hà. Trên xe lúc này có 07 người của phía  Mùi Cẩm. Khi mọi người đã lên xe, nhớ lời Phức dặn, Trường lấy bọc tiền ra nhá cho Mùi Cẩm xem. Sau khi xem xong Mùi Cẩm nói: “Thôi cất đi đã”.

Khi xe ô tô chạy đến trước Ngân hàng Sacombank tại số 70A Phan Đình Phùng, thành phố Kon Tum thì dừng lại để đón thêm 02 người phía Mùi Cẩm lên xe (02 người này đi rút tiền). Vì xe Inova chỉ chở tối đa 7 người nên Mùi Cẩm đã gọi thêm chiếc xe taxi của hãng Mai Linh. Mùi Cẩm nói với Trưởng: “cháu đi xe này với chú Năm, để chú đi xe taxe Mai Linh”. Khi xe tiếp tục chạy được một đoạn thì người đàn ông tên Năm hỏi Trưởng: “Tiền đâu cháu”; Lúc này Trưởng đưa gói tiền ra nhá cho ông Năm biết là Trưởng có tiền, nhưng khi vừa đưa bọc tiền ra nhá thì người đàn ông tên Năm đã chụp luôn lấy bọc tiền, rồi đưa cho người ngồi phía trước bỏ vào hộc xe.

 Khi xe chạy qua ngã ba Trung Tín (trên quốc lộ 14) được khoảng 01 km thì ông Năm nhận thấy có điều gì nghi vấn là tại sao lại thỏa thuận “ký quỹ” chỉ có 100.000.000 đồng mà Trưởng lại đưa tới 120.000.000 đồng, thì ông Năm đã lấy bọc tiền ra kiểm tra xem thì thấy có nhiều tờ tiền có số seri trùng nhau nên đã phát hiện ra toàn bộ số tiền 120.000.000 mà Trưởng đã đưa dùng để giao dịch “ký quỹ” đều là tiền giả. Vì vậy ông Năm hô mọi người trên xe bắt giữ Trưởng và cho xe quay lại thành phố Kon Tum. Khi đến Ngân hàng Sacombank thì dừng lại để một số người xuống xe gửi số tiền 01 tỷ đồng vừa mới rút vào tài khoản trong Ngân hàng; sau đó giao nộp Ngô Quốc Trưởng cùng 120.000.000 đồng tiền giả cho Phòng PC 81 và Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Kon Tum lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang.

Trong thời gian này, do chờ lâu không thấy Trưởng dẫn đối tác đến nên Nguyễn Quang Phức liên tục gọi điện thoại cho Đạt và hỏi: “Thằng Trưởng đi đến đâu rồi? Em đón ở ngoài đường mà không thấy”. Đạt trả lời: “Coi đó, anh ở khách sạn không biết, anh điện nó cũng không nghe máy”.

Sau khi bị bắt, Ngô Quốc Trưởng đã khai ra Lê Trần Quốc Đạt là đồng phạm, ngay sau đó Cơ quan an ninh điều tra đã bắt Đạt. Vì không biết Đạt đã bị bắt nên Nguyễn Quang Phức liên tục gọi 03 lần vào điện thoại di động của Đạt để hỏi tình hình của đối tác “ký quỹ” nhưng vì Đạt đã bị bắt nên không nghe máy được. Vào lúc 15 giờ 04 phút 30 giây cùng ngày, Phức tiếp tục gọi cuộc thứ 4 cho Đạt thì đồng chí Nguyễn Thanh Nhàn – Trưởng phòng an ninh điều tra Công an tỉnh Kon Tum đã bấm máy lên nghe và nói: “Tôi là Nhàn, Trưởng phòng An ninh điều tra Công an tỉnh Kon Tum; chủ thuê bao anh gọi tới đã bị bắt, anh có mối quan hệ với người này như thế nào?”, thì Phức trả lời: “Tôi là Phức – Trưởng Công an xã Đăk Hring, tôi có quen biết với anh Tuấn chủ thuê bao này, lý do làm sao mà anh ấy bị bắt”. Anh Nhàn trả lời: “Việc này là của chúng tôi”. Nói đến đây anh Nhàn tắt máy. Kể từ đó Phức không gọi vào số máy của Đạt nữa.

Toàn bộ 600 tờ tiền poolyme, loại mệnh giá 200.000 đồng mà Nguyễn Quang Phức đã đưa cho Đạt và Trưởng sử dụng vào việc giao dịch “ký quỹ” bị thu giữ ngày 15-5-2012 đã được giám định là “không phải do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành”.

Quá trình điều tra xác định từ ngày 01-5-2012 đến chiều ngày 15-5-2012: Phức đã gọi cho Đạt 26 cuộc điện thoại. Đạt gọi cho Phức 53 cuộc điện thoại. Đạt gọi cho Trưởng 51 cuộc điện thoại. Trưởng gọi cho Đạt 28 cuộc điện thoại. Ngoài ra giữa Phức, Đạt, Trưởng còn nhiều lần nhắn tin trao đổi với nhau về việc thực hiện kế hoạch “ký quỹ”.

Trong quá trình điều tra cũng xác định: thực tế không có chiếc lư hương bằng đồng đổi màu nặng 3kg, giá trí 4-5 tỷ đồng. Đây chỉ là thủ đoạn gian dối do Phức, Đạt, Trưởng bịa đặt ra để câu nhử, lừa những người phía đối tác do Mùi Cẩm môi giới mang theo 01 tỷ đồng tiền mặt “ký quỹ” để Phức bắt.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 20/2013/HSST ngày 7-6-2013, Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum đã áp dụng khoản 3 Điều 180; điểm g khoản 1 khoản 2 Điều 46 (áp dụng thêm điểm p khoản 1 Điều 46 và Điều 47 đối với Ngô Quốc Trưởng) Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Quang Phức 12 năm tù, Lê Trần Quốc Đạt 11 năm tù, Ngô Quốc Trưởng 06 năm tù đều về tội “Tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiển giả”. Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 11-6-2013, Nguyễn Quang Phức kháng cáo với nội dung kêu oan, Lê Trần Quốc Đạt kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 288/2013/HSPT ngày 22/8/2013, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 248 và Điều 250 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của Lê Trần Quốc Đạt, giữ nguyên Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với Đạt; hủy phần bản án sơ thẩm đã xét xử đối với Nguyễn Quang Phức để điều tra lại theo thủ tục chung.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2014/HSST ngày 02/10/2014, Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum áp dụng khoản 3 Điều 180; điểm g khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Quang Phức 10 năm tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả”. Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 06-10-2014, Nguyễn Quang Phức kháng cáo kêu oan.

Tại Quyết định số 72/QĐKNPT-VKS ngày 14-10-2014,Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum kháng nghị phúc thẩm Bản án số 60/2014/HSST ngày 02-10-2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum và đề nghị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xét xử lại theo hướng tăng mức hình phạt tù đối với bị cáo Phức.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 93/2015/HSPT ngày 25-3-2015, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng căn cứ điểm d khoản 2 Điều 248 và Điều 251 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Quang Phức, bác kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum, hủy bản án hình sự sơ thẩm, tuyên bố Nguyễn Quang Phức không phạm tội “Tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả” và đình chỉ vụ án.

XÉT THẤY

Tại giai đoạn điều tra cũng như tại các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, Nguyễn Quang Phức đều không thừa nhận đã đưa số tiền giả 120.000.000 đồng cho Ngô Quốc Trưởng và Lê Trần Quốc Đạt. Tuy nhiên, ngay sau khi vừa bị bắt, Lê Trần Quốc Đạt đã khai số tiền giả bị bắt quả tang 120.000.000 đồng là của Phức đưa (Biên bản bắt người phạm tội quả tang vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 15-5-2012) và ở các lời khai sau này các bị cáo Trưởng và Đạt đều khẳng định số tiền giả bị bắt quả tang là của Phức đưa cho Đạt và Trưởng.

Trong vụ án này, Bảng chi tiết dữ liệu online là chứng cứ vật chất rất quan trọng để đánh giá tính khách quan của các lời khai, nhưng tại Bản tường trình và các lời khai của Phức về nội dung sự việc đều không phù hợp với Bảng chi tiết dữ liệu online này; cụ thể:

- Theo lời khai của Phức thì Phức mới quen Đạt vào khoảng thán 3-2012 khi Đạt nhờ Phức tìm mua bàn ghế gỗ trắc, nhưng theo lời khai của Đạt thì Đạt và Phức đã quen biết nhau trên 10 năm (từ năm 2003) khi Đạt tìm mua đá cảnh, Đạt biết nhà của Phức vì Phức đã dẫn về nhà chơi. Phức khai ngày 12-5-2012 Đạt gọi cho Phức 01 lần lúc 10 giờ 30 phút để mời Phức ra cổng cơ quan uống nước, nhưng theo bản dữ liệu chi tiết online, thì ngày 12-5-2012 Đạt gọi cho Phức 03 lần vào thời gian 7 giờ 16 phút, 8 giờ 50 phút, 8 giờ 51 phút, phù hợp với diễn biến sự việc là sáng 12-5-2012 Đạt đến Gia Lai và báo cho Phức biết, sau đó Trưởng đón Đạt chở lên Kon Tum, trên đường đi do chạy quá tốc độ nên bị Tổ tuần tra Phòng Cảnh sát giao thông tỉnh Kon Tum lập biên bản xử phạt (Quyết định xử phạt hành chính số 0004763 ngày 12-5-2012) nên Đạt gọi cho Phức nhờ xin, nhưng Phức bảo Đạt đi nộp phạt, khi đến Ủy ban nhân dân xã Đăk Hring, Đạt và Trưởng đi bên hông của Ủy ban nhân dân xã để vào Công an xã Đăk Hring gặp Phức, chứ không gọi Phức ra ngoài cổng. Ngoài ra sơ đồ bố trí trong phòng làm việc của Phức do Trưởng và Đạt vẽ tương đồng với sơ đồ do anh Hoàng Công Viễn – Phó Trưởng Công an xã Đăk Hring vẽ, có cơ sở xác định Đạt và Trưởng có vào phòng làm việc của Phức. Như vậy, lời khai của Phức là không có căn cứ.

Theo bản tường trình của Phức ngày 22-5-2012 và lời khai của Phức, thì ngày 13-5-2012 Phức không gọi cho Đạt, mà vào lúc 10 giờ Đạt gọi cho Phức mời Phức tới khách sạn Phượng Hồng và uống nước ở phòng khách tầng 3, không vào phòng Đạt trong khoảng thời gian từ 10 giờ đến 10 giờ 30 (Biên bản đối chất với Trưởng). Theo Bản chi tiết dữ liệu online thì ngày 13-5-2015 Phức gọi cho Đạt 04 lần (10 giờ 25, 10 giờ 26, 12 giờ 45 và 13 giờ 01 phút), Đạt gọi cho Phức 5 lần (09 giờ 54, 16 giờ 39, 18 giờ 11, 19 giờ 19, 20 giờ 23 phút). Như vậy, từ 09 giờ 54 đến 10 giờ 26 phút (là khoảng thời gian ngắn (30 phút) với tần suất liên lạc như vậy thì liệu có diễn ra việc gặp nhau giữa Đạt và Phức không, nếu gặp nhau sao còn phải gọi liên tục như vậy? Theo lời khai của Trưởng và Đạt thì ngày 13-5-2012, Phức lên phòng 304 vào khoảng 16 giờ 30 phút, sau đó Đạt bảo Trưởng xuống Lễ tân của khách sạn mua thuốc lá mang lên cho Phức là phù hợp với dữ liệu online và phù hợp với lời khai của anh Hoàng Văn Huy, chị Nguyễn Thị Kim Ly (về việc phòng 304 có mua 01 gói thuốc con ngựa); do đó, lời khai của Phức về việc ngày 13-5-2012, không gọi cho Đạt, đến khách sạn Phượng Hồng lúc hơn 10 giờ là không có cơ sở.

Theo lời khai của Phức thì trưa ngày 14-5-2012 sau khi uống trà với các anh Hoàng Công Viễn và Phạm Ngọc Điệp tại phòng, Phức xuống ăn cơm tại nhà ăn của Cơ quan với ông Nguyễn Văn Hậu – Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, sau đó ngủ trưa tại cơ quan, có anh Điệp nhìn thấy.Tại phiên tòa phúc thẩm lần 1, các anh Viễn, Điệp và ông Hậu khai trưa ngày 14-5-2012, nhìn thấy Phức ở cơ quan. Tuy nhiên, sau khi Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại, quá trình điều tra lại các anh Điệp và Viễn khai không có việc khoảng 11 giờ ngồi uống nước tại phòng Phức. Anh Viễn khai khoảng 11 giờ trưa ngày 14-5-2015, Viễn về nhà ăn cơm đến 13 giờ 10 phút mới có mặt ở cơ quan, khoảng hơn 14 giờ thấy Phức đánh bóng chuyền ở sân bóng; còn anh Điệp khai lại là nhìn thấy Phức ngủ trưa tại cơ quan ngày 13-5-2012, chứ không phải 14-5-2012, như trước đây đã khai (có văn bản đính chính lời khai). Về việc ăn cơm, tại phiên tòa phúc thẩm lần 1 ông Hậu khai thường ngày nào ông cũng ăn cơm cùng với Phức, không nhớ rõ ngày 14-5-2012, có ăn cơm cùng không vì đã lâu; tại phiên tòa sơ thẩm lần 2 ông Hậu khai ngày 14-5-2012, có ăn cơm không vì đã lâu; tại phiên tòa sơ thẩm lần 2 ông Hậu khai ngày 14-5-2012 có ăn cơm cùng Phức về về hỏi ông Phạm Hữu Hán (bảo vệ của Ủy ban nhân dân xã), người nấu cơm cho Phức và ông Hậu ăn, nhưng theo lời khai của ông Hán thi sổ sách ghi chép đã đốt hết, không nhớ ngày 14-5-2012, có nấu cơm cho Phức và ông Hậu ăn không. Như vậy, không có cơ sở xác định trưa ngày 14-5-2012, Phức ăn cơm cùng với ông Hậu và ông Hán tại cơ quan và ngủ trưa tại cơ quan. Trong khi theo lời khai của Trưởng và Đạt thì khoảng 12 giờ 30 phút ngày 14-5-2012, Phức cùng Viễn đến phòng 304, Phức đưa tiên cho Đạt, lời khai của Trưởng và Đạt phù hợp với lời khai của anh Hoàng Văn Huy (lễ tân khách sạn Phượng Hồng) là trưa ngày 14-5-2012, lúc khoảng 12 giờ có 02 người đàn ông khoảng hơn 30 tuổi đi vào khách sạn không thuê phòng mà lên thăm người ở phòng 304 (tại khách sạn lúc đó có phòng 304 có khách), phù hợp với lời khai của anh Jơn là trưa 14-5-2012, về phòng gõ cửa thì Trưởng bảo đi chơi đi, đang có khách, anh Jơn ngồi dưới sảnh chờ khoảng 10 phút sau thấy có 02 người đàn ông đi ra. Như vậy lời khai của Trưởng và Đạt có cơ sở tin cậy hơn.

          - Theo lời khai của Phức và bản tường trình của Phức thì từ 13 giờ ngày 15/5/2012, Phức cùng đội bóng chuyền tập trung ở Ủy ban nhân dân xã, đến 14 giờ kém thì cả đội bóng đi bằng xe ô tô lên huyện, khoảng 14 giờ 30 thì đánh bóng chuyền với đội Điều tra Công an huyện, khoảng 16 giờ thì kết thúc trận đấu; trong thời gian đó thì khoảng 14 giờ 30 phút Phức điện cho Đạt 3 cuộc nhưng Đạt không nghe máy, khoảng 20 phút sau Phức gọi tiếp thì đồng chí Nhàn (Trưởng phòng An ninh điều tra Công an tỉnh Kon Tum) trả lời Đạt đã bị bắt. Tuy nhiên, theo Biên bản xác minh và Bản kết hoạch thi đấu thì từ ngày 14/5/2012, thời gian thi đấu vào buổi chiều bắt đầu từ 16 giờ đến 18 giờ hàng ngày. Như vậy, Phức khai thi đấu từ 14 giờ là không đúng. Hơn nữa, theo bảng chi tiết dữ liệu online thì trong khoảng thời gian từ 14 giờ 39 phút đến 15 giờ 04 phút Đạt gọi cho Phức 01 lần, Phức gọi được cho Đạt 01 lần (ngoài ra còn 3 lần Phức gọi Đạt không nghe máy, do lúc đó Đạt đã bị bắt), theo như Phức khai khoảng thời gian này Phức đang thi đấu vậy sao vẫn nghe và gọi điện liên tục được; do đó, lời khai của Phức là không có cơ sở.

          Theo bảng chi tiết dữ liệu online, ngày 15/5/2012, Đạt gọi cho Phức 09 cuộc (trong khoảng thời gian từ 8 giờ 52 đến 14 giờ 39 phút), Phức gọi cho Đạt 06 cuộc (trong khoảng thời gian từ 7 giờ 54 đến 15 giờ 04 phút), với số lượng gọi nhiều như vậy mà Phức khai là chỉ quanh việc Đạt nhờ mua bàn ghế gỗ trắc (Phức cũng thừa nhận chưa thành công việc nào mới chỉ bàn), giải thích với Đạt về việc chưa tìm được là không phù hợp. Đạt khai không có việc nhờ Phức mua bàn ghế, Đạt không buôn bán bàn ghế gỗ trắc, không điện thoại la mắng Phức về việc chưa tìm được bàn ghế. Nhưng cuộc điện thoại giữa Đạt và Trưởng, Đạt và Phức phù hợp với thời gian diễn biến khách quan của sự việc mà Trưởng và Đạt đã khai. Hơn nữa, Phức thừa nhận có nhận được tin nhắn “soxe 51A 16196” từ Đạt và thực tế theo bản chi tiết dữ liệu online vào 11 giờ  46 phút Đạt có nhắn tin cho Phức, sau đó Phức nhắn lại.

          Mặc dù, Nguyễn Quang Phức không thừa nhận hành vi phạm tội, tuy nhiên các bị cáo còn lại trong vụ án là bị cáo Trưởng thừa nhận hành vi phạm tội từ đầu đến cuối, còn bị cáo Đạt tại cơ quan điều tra nhận tội, tại phiên tòa sơ thẩm không thừa nhận hành vi phạm tội, nhưng sau đó tại phiên tòa phúc thẩm (lần 1) và khi tiến hành điều tra lại, bị cáo Đạt đều thừa nhận hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai Đạt đã khai ở giai đoạn điều tra và các tài liệu chứng cứ khác, do đó có cở sở xác định lời khai nhận tội của Đạt là khách quan. Nội dung lời khai nhận tội của Đạt và Trưởng phù hợp với bảng chi tiết dữ liệu online về thời điểm liên lạc điện thoại giữa Phức và Đạt, giữa Đạt và Trưởng, giữa Trưởng và Mùi Cẩm, phù hợp với lời khai của các anh Hoàng Văn Huy và Jơn về hình dáng, thời điểm Phức cùng một người đàn ông đến khách sạn Phượng Hồng trưa ngày 14/5/2012. Như vậy, lời khai của các bị cáo Đạt và Trưởng phù hợp với diễn biến của vụ án và các chứng cứ khách quan. Tòa án cấp sơ thẩm kết án Nguyễn Quang Phức về tội “Tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả” là có căn cứ. Tuy nhiên, trong cụ án này Phức là người chủ mưu, cầm đầu mà chỉ bị Tòa án cấp sơ thẩm (xét xử lần 2) xử phạt 10 năm tù, thấp hơn mức hình phạt tù đối với bị cáo Lê Trần Quốc Đạt phạm tội với vai trò giúp sức là không tương xứng. Sau khi xét xử sơ thẩm, Viện trưởng VKSND tỉnh Kon Tum kháng nghị Bản án sơ thẩm đề nghị tăng hình phạt với Phức, còn Phức kháng cáo kêu oan, Tòa án cấp phúc thẩm (xét xử lần 2) đã không triệu tập Đạt, Trưởng đến phiên tòa để trình bày, đối chất làm rõ hành vi phạm tội của Phức mà đã hủy Bản án sơ thẩm, tuyên Phức không phạm tội và đình chỉ vụ án là không đúng.

          Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

          Kháng nghị đối với bản án hình sự phúc thẩm số 93/2015/HSPT ngày 25/3/2015 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng (nay là Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng) và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên đối với Nguyễn Quang Phúc để xét xử phúc thẩm lại.

 

 Tại quyết định giám đốc thẩm số 11/2016/HS-GĐT ngày 04-8-2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định:

          - Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 93/2015/HSPT ngày 25/3/2015 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi