Kháng nghị Bản án hình sự phúc thẩm của Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng đồi với vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Trốn thuế”

Căn cứ Điều 275 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự đối với bị cáo Trần Thị Quý Phượng, sinh năm 1969; đăng ký nhân khẩu thư­ờng trú tại: số 08/34 Hoàng Văn Thụ, tổ 9, phường Ia Kring, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai; trình độ học vấn: lớp 7/12; nghề nghiệp: kinh doanh (nguyên giám đốc Công ty Cổ phần Xây dựng-Thương mại Bình An); dân tộc: Kinh; con ông Trần Ngọc Thọ (đã chết) và bà Đặng Thị Tánh (sinh năm 1948); có chồng và 02 con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22/10/2012.

(Trong vụ án này còn có bị cáo Võ Thị Thụ bị kết án về tội “Mua bán trái phép hóa đơn”).

                                      NHẬN THẤY

Theo Bản án phúc thẩm số 90/2015/HSPT ngày 20/3/2015 của Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng, hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thị Quý Phượng được tóm tắt như­ sau:

           Từ năm 2009 đến năm 2011, thông qua việc quan hệ mua bán vật tư là nhựa đường, sắt thép, xi măng…với các doanh nghiệp khác trong tỉnh, Trần Thị Quý Phượng đã dùng thủ đoạn sử dụng 67 hóa đơn giá trị gia tăng bất hợp pháp  để kê khai khấu trừ thuế và làm thủ tục hoàn thuế của 02 năm 2010 và 2011, chiếm đoạt số tiền 1.652.773.415 đồng (Theo kết luận giám định tài chính ngày 16/10/2012 và kết luận giám định bổ sung ngày 12/4/2013). Không những vậy, Trần Thị Quý Phượng còn sử dụng 10 hóa đơn giá trị gia tăng để kê khai khấu trừ thuế trong các tháng 6, tháng 7 năm 2010 và tháng 10, tháng 11 năm 2011, không nằm trong hai kỳ hoàn thuế của Công ty Bình An để trốn thuế với số tiền 140.781.700 đồng. Từ tháng 11/2008 đến năm 2011, Công ty Bình An do Trần Thị Quý Phượng làm giám đốc trúng thầu nhiều công trình trên địa bàn tỉnh Gia Lai với tổng số tiền đầu tư là 112.324.645.000 đồng, Công ty Bình An đã tạm ứng số tiền là 49.114.900.000 đồng. Quá trình rút tiền tạm ứng, Trần Thị Quý Phượng không nhập quỹ, không hạch toán trên sổ sách dẫn đến không có khả năng trả nợ tạm ứng cho các chủ đầu tư, thông qua hành vi gian dối và sử dụng tài sản không hợp pháp, chiếm đoạt của Ban quản lý các dự án huyện Ia Grai và huyện Kông Chro số tiền qua giám định kết luận là 12.685.385.342 đồng (BL 6304, 6023, 6773, 6774, 6775, 118, 119, 120)

           Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2014/HSST ngày 10,11,12/9/2014, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; điểm a khoản 4 Điều 140; các điểm b, p khoản 1 Điều 46; điểm g, i khoản 1 Điều 48; Điều 47 (đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”) Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Thị Quý Phượng 11 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, 13 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 161; các điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 31 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Thị Quý Phượng 09 tháng cải tạo không giam giữ chuyển sang thành 03 tháng tù về tội “Trốn thuế”; áp dụng Điều 50 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt buộc Trần Thị Quý Phượng phải chấp hành hình phạt chung cho cả ba tội là 24 năm 03 tháng tù.

          Về dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự tuyên bị cáo Trần Thị Quý Phượng phải trả lại cho Chi cục thuế thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai số tiền đã chiếm đoạt là 1.652.773.425 đồng và số tiền trốn thuế là 140.781.700 đồng.

           Buộc bị cáo Trần Thị Quý Phượng phải trả lại cho Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai số tiền tạm ứng là 8.642.358.000 đồng, (đối với số nợ của Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng huyện Ia Grai đã được giải quyết trong vụ án Nguyễn Bổng về tội “Thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” thể hiện tại Bản án số 81/2013/HSST ngày 19/11/2013 nên không đề cập giải quyết trong vụ án này).

          Về vật chứng có liên quan đến vụ án: Căn cứ Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên hủy Hợp đồng ủy quyền ngày 30/9/2011 giữa bị cáo Trần Thị Quý Phượng và bà Đặng Thị Lan Phương.

           Tuyên tịch thu bán đấu giá chiếc xe Volkswagen Tiguan Das Package màu đỏ, Giấy đăng ký số 003993, số máy: CAW 093082, số khung: 5NZAW 090148, biển kiểm soát 81A-00278 do Công ty Bình An đứng tên sở hữu để bảo đảm cho công tác thi hành án đối với bị cáo Phượng.

          Đối với số tiền bà Đặng Thị Lan Phương bỏ ra mua xe 750.000.000 đồng, tiền bán sắt 200.000.000 đồng và 50.000.000 đồng bà Phương đưa trực tiếp cho bị cáo Phượng, vấn đề này sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi các bên có yêu cầu.

          Tiếp tục biển thủ số tiền 200.000.000 đồng do bà Trần Thị Xong nộp để bảo đảm cho công tác thi hành án đối với bị cáo Trần Thị Quý Phượng.

          Ngoài ra Bản án còn tuyên về tội danh, hình phạt, trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Võ thị Thụ; tuyên về án phí, quyền kháng cáo, kháng nghị.

         Ngày 22/9/2014, bị cáo Trần Thị Quý Phượng có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

         Ngày 26/9/2014, bà Đặng Thị Lan Phương có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị được giữ lại chiếc xe ô tô biển kiểm soát 81A-00278.

         Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 90/2015/HSPT ngày 20/3/2015, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng đã sửa án sơ thẩm về phần hình phạt và phần xử lý vật chứng liên quan đến vụ án. Cụ thể: xử phạt Trần Thị Quý Phượng 08 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, 12 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và 09 tháng cải tạo không giam giữ chuyển thành 03 tháng tù về tội “Trốn thuế”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả ba tội, buộc bị cáo Trần Thị Quý Phượng phải chấp hành là 20 năm 03 tháng tù.

          Về xử lý vật chứng liên quan đến vụ án: Không tịch thu bán đấu giá mà giao trả bà Đặng Thị Lan Phương chiếc xe ô tô nói trên, bà Đặng Thị Lan Phương được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để hoàn chỉnh thủ tục sang tên sở hữu.

         Đối với số tiền bán sắt 200.000.000 đồng và 50.000.000 đồng tiền mặt giao dịch giữa bà Đặng Thị Lan Phương và bị cáo Trần Thị Quý Phượng sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi các bên có yêu cầu.

Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thấy rằng: Tòa án cấp phúc thẩm kết án Trần Thị Quý Phượng 20 năm 03 tháng tù về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Trốn thuế” là có căn cứ pháp luật.

Tuy nhiên, về phần xử lý vật chứng liên quan trong vụ án là chiếc xe ô tô Volkswagen Tiguan Das Package biển kiểm soát 81A-00278, của Tòa án cấp phúc thẩm giao trả cho bà Đặng Thị Lan Phương là chưa phù hợp với quy định của pháp luật; vì:

           Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trần Thị Quý Phượng khai đã sử dụng 1.667.500.000 đồng trong tổng số tiền tạm ứng của Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng huyện Kông Chro để mua chiếc xe này tặng cho ông Trần Thế Vinh, nguyên Giám đốc sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Gia Lai nhằm mục đích tạo mối quan hệ để ông Vinh giúp đỡ Công ty của bị cáo trong quá trình hoạt động. Lời khai trên của Trần Thị Quý Phượng phù hợp với thực tế là sau khi mua xe và làm thủ tục đăng ký lấy biển số xe xong, Phượng  đã giao chiếc xe này cho gia đình ông Vinh sử dụng ngay. Từ lúc mua chiếc xe này tới khi vụ án bị phát hiện, không có cá nhân nào trong gia đình bị cáo hoặc nhân viên Công ty Bình An sử dụng. Do chỉ có ý định mua xe để tặng cho ông Vinh nên bị cáo khẳng định không bán xe cho bà Đặng Thị Lan Phương, mà chỉ làm mọi việc (Hợp đồng mua bán, Hợp đồng ủy quyền) theo yêu cầu của bà Phương (vợ ông Vinh) để hợp thức hóa việc tặng xe. Như vậy, chiếc xe ô tô biển kiểm soát 81A-00278 đứng tên Công ty Bình An do Trần Thị Quý Phượng làm giám đốc đã được mua từ nguồn tiền tạm ứng của Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng huyện Kông Chro, hiện nay Công ty Bình An của Trần Thị Quý Phượng còn nợ và không có khả năng trả. Vì vậy, Hợp đồng mua bán và Hợp đồng ủy quyền giữa bị cáo Trần Thị Quý Phượng và bà Đặng Thị Lan Phương theo các quy định của pháp luật là hợp đồng có nội dung trái pháp luật. Công ty Bình An vẫn đứng tên quyền sở hữu đối với chiếc xe ô tô trên. Đó là vật chứng của vụ án nên theo quy định tại Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự cần phải được thu hồi trả về cho Công ty Bình An để bảo đảm việc trả nợ của Công ty Bình An đối với khoản tiền đã tạm ứng của các Ban quản lý dự án và bảo đảm công tác thi hành án đối với bị cáo Trần Thị Quý Phượng.  

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Kháng nghị Bản án hình sự phúc thẩm số 90/2015/HSPT ngày 20/3/2015 của Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng về phần xử lý vật chứng là chiếc xe ô tô biển kiểm soát 81A-00278 được giao dịch giữa bị cáo Trần Thị Quý Phượng và bà Đặng Thị Lan Phương. Đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tuyên bố huỷ bản án hình sự phúc thẩm nêu trên về phần xử lý vật chứng là chiếc xe ô tô nói trên để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật./.

 

 

 

 

Tại Quyết định Giám đốc thẩm số 12/2016/HS-GĐT ngày 4-8-2016 quyết định:

Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 90/2015/HSPT ngày 20/3/2015 của Tòa  phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng về phần xử lý vật chứng là chiếc xe ô tô biển kiểm soát 81A – 00278 được giao dịch giữa bị cáo Trần Thi Quý Phượng và bà Đặng Thị Lan Phương; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

 

 

 

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi