Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án “Tranh chấp tài sản sau khi ly hôn và tranh chấp tài sản thừa kế”

-         Căn cứ Điều 24 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014;

-         Căn cứ Điều 250, 251, 252 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2001;

Xét Bản án số: 04/2015/HNGĐ-ST ngày 29/10/2015 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh giải quyết vụ kiện về “Tranh chấp tài sản sau khi ly hôn và tranh chấp tài sản thừa kế”, giữa:

-         Nguyên đơn: bà Tô Thị Trừng, sinh 1945

-         Bị đơn: ông Lê Thanh Phúc, sinh 1933

Cùng địa chỉ: tổ 21, khóm 5, phường Cái Vồn, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

  •         Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
  1.      Lê Thanh Cường, sinh 1972
  2.      Nguyễn Thị Ngọc Hương, sinh 1976
  3.      Lê Nguyễn Đình Huy, sinh 2004 (có anh Cường là cha của cháu Huy làm đại diện theo pháp luật)
  4.      Lê Thị Mỹ Lệ, sinh 1969
  5.      Đặng Văn Thịnh, sinh 1972
  6.      Đặng Lê Bà Quý, sinh 1997
  7.      Đặng Lê Phương Nam, sinh 2007 (có chị Lệ là mẹ của cháu Nam làm đại diện theo pháp luật)

Cùng địa chỉ: số 4101, tổ 21, khóm 5, phường Cái Vồn, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long

  1.      Lê Văn Biên, sinh 1963
  2.      Nguyễn Thị Tám, sinh 1969
  3.                         Lê Ngọc Anh Pha, sinh 1988
  4.                         Lê Anh Điền, sinh 1996

Cùng địa chỉ: tổ 21, khóm 5, phường Cái Vồn, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long

  1.                         Lê Thị Thu Trang, sinh 1975

Địa chỉ: 140A/11, ấp Long Bình, xã Lộc Hòa, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

  1.                         Lê Văn Liệp, sinh 1924 (chết ngày 08/3/2013). Người kế thừa quyền và nghĩa vụ t tụng của ông Hiệp là bà Lê Thị Đèo, sinh 1955.

Địa chỉ: số 181, khu vực Thạnh Thắng, phường Phú Thứ, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

Tại bản án dân sự sơ thẩm nêu trên, đã quyết định:

Áp dụng các Điều 59, khoản 2, Điều 62 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 100 Luật Đất đai năm 2013; Điều 674, 675, 676, 697, 698, 127, 137 Bộ luật Dân sự. Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tô Thị Trừng. Không chấp nhận yêu cu phản tcủa ông Lê Thanh Phúc. Bác yêu câu độc lập của bà Lê Thị Đèo đòi hưởng thừa kế phân hùn quyn sử dụng đt của cụ Lê Văn Liệp (Hiệp); chp nhận một phân yêu cu độc lập của ông Lê Văn Biên, bác yêu cu độc lập của anh Cường.

Bà Trừng và ông Phúc được chia quyền sử dụng đất cụ thể như sau:

  •         Thửa đất 722:

+ Chia cho bà Tô Thị Trừng:

Dài giáp thửa 721 là 37,79m

Dài giáp thửa 723 là 36,96m

Ngang giáp kênh là 23,39m

Ngang giáp phần còn lại của thửa 722 là 19,59m

Diện tích 802m2 loại đất ONT-LNQ (loại ONT là 150m2, loại LNQ là 652m2) tọa lạc tại khóm 5, phường Cái Vồn, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

Trên phần đất chia cho bà Trừng có 04 tum và phần mái che tạm do anh Cường xây cất, buộc anh Cường phải tháo d, di dời đi nơi khác để trả lại đất cho bà Trừng. Số cây trồng nằm trên phần đất chia cho bà Trừng thì bà Trừng được hưởng.

+ Chia cho ông Lê Thanh Phúc:

Dài giáp thửa 721 là 42m + 6,14m

Dài giáp thửa 723 là 40,83 + 7,67m

Ngang giáp thửa 740 là 13,97m

Ngang giáp phần đất chia cho bà Trừng là 19,59m

Diện tích 802,l m2 loại đất ONT-LNQ (loại ONT là 150m2, loại LNQ là 652,l m2) tọa lạc tại khóm 5, phường Cái Vồn, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

Trên phần đất chia cho ông Phúc có căn nhà kiên cố, một phần mái che (quán) của anh Cường, một phần nhà kho của anh Biên thì ông Phúc, anh Cường và anh Biên tự thỏa thuận với nhau. Khi nào có tranh chấp thì giải quyết thành vụ kiện riêng. Phần cây trng trên phn đất ông Phúc được chia thì ông Phúc tiếp tục hưởng.

  •         Thửa đất 740:

+ Chia cho bà Tô Thị Trừng:

i từ lề lộ đến giáp thửa 722 là 36,87m

Ngang giáp thửa 722 là 2m

Dài từ giáp thửa 722 kéo đến lề lộ là 36,73m

Ngang từ mí nhà của chị Lệ trở qua lối đi của thửa 740 là 1,58m

Diện tích 65,6m2 loại đất ao (hồ), tọa lạc tại khóm 5, phường Cái Vồn, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

+ Chia cho ông Lê Thanh Phúc:

Dài giáp phần đất chia cho bà Trừng là 36,73m

Ngang giáp thửa 722 là 2m

Dài giáp thửa 739 là 36,87m

Ngang giáp thửa 739 đến phần đất chia cho bà Trừng là l,57m (cặp lề lộ)

Diện tích 65,6m2 loại đất ao (hồ) tọa lạc tại khóm 5, phường Cái vồn, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

Bà Trừng và ông Phúc phải đến cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục tách thửa trên phần đất mà mình được hưởng, các khoản chi phí tách thửa của ai thì người đó chịu (Kèm theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 28/8/2015)

Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng miệng giữa chị Trang với anh Cường, giữa chị Lệ và ông Phúc.

+ Phần đất thực sử dụng của hộ anh Biên và hộ chị Mỹ Lệ thuộc một phần thửa 740 cụ thể như sau:

-         Phần đất thực sử dụng của hộ ông Lê Văn Biên:

Dài giáp thửa 741 từ cọc số 9 qua số 10 đến số 11 là 35,22m

Dài giáp nhà chị Lệ từ cọc số 8 đến cọc số 13 là 36,65m

Ngang giáp thửa 722 từ cọc số 11 qua cọc số 13

Ngang giáp lề lộ từ cọc số 8 đến cọc số 9

Diện tích 175,5m2 loại đất ao (hồ) tọa lạc tại khóm 5, phường Cái Vồn, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

-         Phần đất thực sử dụng của hộ chị Lê Thị Mỹ Lệ:

Dài giáp nhà anh Biên từ cọc số 8 đến cọc số 13 là 36,65m

Dài giáp lối đi đang tranh chấp giữa bà Trừng và ông Phúc từ cọc số 7 đến cọc số 14 là 36,60m

Ngang giáp lề lộ từ cọc số 7 đến cọc số 8

Ngang giáp thửa 722 từ cọc số 13 qua cọc số 14

Diện tích 186m2 loại đất ao (hồ) tọa lạc tại khóm 5, phường Cái Vồn, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

Buộc chị Lê Thị Mỹ Lệ phải trả tiền trược giá đất của một phần thửa 740 cho ông Lê Thanh Phúc là 18.335.500đ

Ông Lê Văn Biên phải đến cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục tách thửa trên phn đt mà hộ ông Biên thực sử dụng. Chị Mỹ Lệ sau khi thực hiện nghĩa vụ trả đủ 18.335.500đ cho ông Phúc thì chị Lệ đến cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục tách thửa trên phần đất thực sử dụng của hộ chị Lệ; các khoản chi phí tách thửa của ai thì người đó chịu (Kèm theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 28/8/2015)

-         Về án phí dân sự sơ thẩm: áp dụng Điều 27, Điều 14 Pháp lệnh án phí và lệ phí. Gim 50% án phí cho bà Tô Thị Trừng, ông Lê Thanh Phúc và bà Lê Thị Đèo. Buộc bà Trừng, ông Phúc và bà Đèo phải nộp 50% án phí dân sự sơ thẩm và buộc anh Biên, chị Lệ và anh Cường phải nộp án phí theo luật định, cụ thể như sau:

+ Bà Trừng phải nộp 19.245.000đ. Bà Trừng được khấu trừ vào biên lại thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 011564 ngày 30/7/2012 = 40.275.000đ và số tiền 2.872.400đ bà Trừng nộp thêm cho Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Minh đã thu theo bản án số 11/2013/HNGĐ-ST ngày 20/12/2013. Vậy bà Trừng được nhận lại 4.857.400đ tại Chi cục thi hành án dân sụ thị xã Bình Minh và 19.045.000đ sau khi ông Phúc nộp giao trả lại cho bà Trừng.

+ Ông Phúc phải nộp 19.245.000đ. Ông Phúc được khấu trừ vào biên lại thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 026432 ngày 07/7/2015 = 200.000đ. Vậy ông Phúc phải nộp thêm 19.045.000đ.

+ Bà Đèo phải nộp 23.140.000đ. Bà Đèo được khấu trừ vào biên lại thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án s 026388 ngày 26/5/2015 = 2.182.500đ. Vậy bà Đèo phải nộp thêm 20.958.000đ.

+ Anh Lê Văn Biên phải nộp 25.060.000đ. Anh Biên được khấu trừ 200.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 026389 ngày 26/5/2015. Vậy anh Biên phải nộp thêm 24.850.000đ.

+ Chị L phải nộp 26.320.000đ.

+ Anh Cường phải nộp 200.000đ. Anh Cường được khấu trừ vào biên lại thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 011651 ngày 16/10/2012. Anh Cường đã nhận lại 4.062.500đ, anh Cường được nhận lại số tiền còn lại là 937.500đ và 5.000.000đ theo biên lại thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 027546 ngày 21/10/2015. Tổng s tiền anh Cường được nhận lại là 5.937.500đ

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí khảo sát đo đạc, định giá tài sản, về thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự.

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long nhận thấy:

-         Về án phí:

Án sơ thm đã tính án phí trên tổng giá trị tài sản được hưởng của bà Trừng và ông Phúc, sau đó buộc mỗi người phải nộp 1/2 tiền án phí là không đúng. Trong trường hợp này, mỗi bên đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được hưởng theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và khoản 7 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.

-         Việc giảm án phí: Án sơ thẩm đã chia tài sản chung cho bà Trừng và ông Phúc, nhưng lại giảm 50% tiền án phí cho bà Trừng và ông Phúc là không đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và khoản 7 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án. Vì trong trường hợp này thì họ có tài sản để nộp toàn bộ án phí, lệ phí mà họ phải chịu.

-         Về nghĩa vụ nộp án phí: Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà Trừng phải nộp 19.245.000đ, bà Trừng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí 02 lần là 43.147.400đ (40.275.000đ + 2.872.400đ). Lẽ ra bà Trừng phải được nhận đủ số tiền còn thừa, nhưng bản án sơ thẩm tuyên: “bà Trừng được nhận lại số tiền 4.857.400đ và 19.045.000đ sau khi ông Phúc nộp thì giao trả lại cho bà Trừng” là không đúng quy định tại khoản 3 Điều 128 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Với những vi phạm đã viện dẫn trên, đề nghị cấp phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 275 Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên xử sửa bản án so thẩm về phần án phí.

Bởi các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  1.                  Kháng nghị một phần bản án số: 04/2015/HNGĐ-ST ngày 29/10/2015 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh theo thủ tục phúc thẩm.
  2.                  Đ nghị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét x phúc thẩm vụ án theo hướng sửa án sơ thm./.
Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi