Kháng nghị đối với vụ án Nguyễn Quốc Hùng và đồng bọn phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Quyết định Kháng nghị giám đốc thẩm số 26/2014/QĐ-VKSTC-V3 ngày 18/08/2014 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 370/2013/HSST ngày 27/08/2013 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

....

Căn cứ Điều 273, 275 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.

Xét Bản án hình sự sơ thẩm số 370/2013/HSST ngày 27/8/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh kết án Nguyễn Quc Hùng cùng với Lý Lê Giang và Nguyễn Thanh Toàn về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Nguyễn Quốc Hùng, sinh năm 1970; hộ khẩu thường trú số 493/20C đường Cách Mạng Tháng Tám, phường 13, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở số 1806 SHAPHIN 1 Sài Gòn PEARL, số 92 đường Nguyễn Hữu Cảnh, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn đại học; nghề nghiệp nguyên Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo Vạn Tín Anh Minh (viết tắt là VTAM); có một vợ và một con; tiền án tiền sự không; bị bắt tạm giam từ ngày 17/5/2012.

-Lý Lê Giang sinh năm 1985; hộ khẩu thường trú số 95/44 Đinh Tiên Hoàng, phường 3, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn đại học; nghề nghiệp nguyên là nhân viên Công ty VTAM, hiện là nhân viên Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại Thanh Lan; chưa có chồng con; tiền án tiền sự không; bị cáo tại ngoại.

-Nguyễn Thanh Toàn sinh năm 1980; hộ khẩu thường trú tại xóm 3, xã Nghị Đức, huyện Tám Linh, tỉnh Bình Thuận; tạm trú tại số 533/7 Phạm Văn Bạch, phường 15, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn 12/12; nghề nghiệp nguyên là nhân viên Công ty VTAM; chưa có vợ con; tiền án tiền sự không; bị cáo tại ngoại.

NHẬN THẤY

Công ty trách nhiệm hữu hạn Vạn Tín Anh Minh (VTAM) do Nguyn Quc Hùng đứng ra thành lập ngày 25/8/2004, thuê bà Lê Thị Ngọc Hân và ông Nguyễn Ngọc Nam làm Giám đốc điều hành, được Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh với nhiều ngành nghề, trong đó có dịch vụ quảng cáo thương mại. Trụ sở Công ty đặt tại tòa nhà A, s 520 đường Nguyễn Kim, phường 7, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh .

Trong thời gian năm 2007-2008, Công ty VTAM ký hợp đồng làm dịch vụ
quảng cáo cho T
ng Công ty bia rượu nước giải khát Sài Gòn (viết tắt là SABECO) để quảng cáo thương hiệu và sản phẩm của SABECO trên sóng Đài truyền hình kỹ thuật số VTC. Trước khi ký hợp đồng với SABECO, Công ty VTAM đã ký hợp đồng với Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền hình VTCAd thuộc Tổng Công ty truyền thông đa phương tiện VTC có địa chỉ tại số 65 Lạc Trung, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội để chào hàng, quảng cáo thương hiệu và sản phẩm của SABECO. Trong quá trình nghiệm thu thanh toán các dịch vụ quảng cáo, Nguyễn Quốc Hùng đã chỉ đạo Nguyễn Thanh Toàn và Lý Lê Giang, nhân viên Công ty VTAM làm giả Giấy chứng nhận phát sóng của VTCAd để thanh toán với SABECO nhm chiếm đoạt số tiền do tăng số lượng phát sóng quảng cáo bằng chứng từ không đúng sự thật. Cụ thể là:

  1. Khi thanh toán Hợp đồng kinh tế số 16/HĐKT-2007 ngày 30/11/2007 giữa Công ty SABECO và VTAM, thời điểm tháng 5/2008 Lý Lê Giang nhân viên kế toán Công ty VTAM sau khi kiểm tra lại thời lượng phát sóng quảng cáo thấy còn thiếu so với hợp đồng, Giang báo cho Nguyễn Quốc Hùng biết. Hùng đã chđạo Nguyễn Thanh Toàn làm giả Giấy chứng nhận phát sóng nhằm tăng số lượng phát sóng cho đủ với s lượng theo hợp đồng đã ký để thanh toán với SABECO.
    Tại Công ty VTAM Nguyễn Thanh Toàn đã sao chụp Giấy chứng nhận phát sóng
    tháng 5/2008 (ghi ngày 20/5/2008) do VTCAd phát hành, gửi cho Công ty VTAM có số lượng là 47 TVC, 27 panel, 39 lôgô, 39 chạy chữ đưa vào máy vi tính, sử dụng phần mềm photoshop để chỉnh sửa tăng số lượng phát sóng lên 72 TVC, 48 panel, 60 lôgô, 60 chạy chữ; số liệu chỉnh sửa do Lý Lê Giang cung cấp cho Toàn. Sau khi chỉnh sửa số liệu phát sóng chênh lệch tăng 25 TVC, 21 panel, 21 lôgô, 21 chạy chữ, Toàn sử dụng máy in phun màu của Công ty VTAM in Giấy chứng nhận giả. Nguyễn Quốc Hùng chỉ đạo Giang đưa Giấy chứng nhận giả này vào hồ sơ thanh toán và được SABECO thanh toán số tiền 1.982.400.000 đồng (khoản tiền năm trong tổng giá trị đã được thanh toán của Hợp đồng kinh tế số 16 là 14 tỷ đng). Số tiền chênh lệch tăng so với Giấy chứng nhận phát sóng gốc tháng 5/2008 do VTCAd phát hành bị Công ty VTAM chiếm hường là 733.040.000 đồng.

Công ty SABECO, trực tiếp là ông Phạm Thành Đức, cán bộ Công ty được phân công theo dõi, nghiệm thu, thanh toán hợp đồng giữa Công ty SABECO và VTAM đã tin tưng vào Giấy chứng nhận phát sóng do VTCAd phát hành và tin ng vào Công ty VTAM, không phát hiện được Giấy chứng nhận tháng 5/2008 là giả nên đã tổng hp đưa vào hồ sơ thanh toán, đề xuất SABECO chuyển cho Công ty VTAM số tiền 733.040.000 đồng.

2. Ngày 13/8/2008, Công ty VTAM ký Hợp đồng kinh tế số 40/QC-VTC với VTCAd, nội dung là quảng cáo và tài trợ phát sóng Giải ngoại hạng Anh mùa giải 2008-2009 trên kênh truyền hình VTC, tổng trị giá hợp đồng 1.540.000 đồng. Ngày 12/9/2008 Công ty SABECO ký hợp đồng kinh tế số 43/HĐQC với Công ty VTAM, nội dung là phát sóng trực tiếp Giải ngoại hạng Anh trên kênh truyền hình của Đài truyền hình kỹ thuật số VTC. Ngày 31/12/2008 Công ty VTAM và SABECO đã ký Biên bản thanh lý hợp đồng, SABECO thanh toán số tiền 6.999.998.995 đồng cho Công ty VTAM.

Khi phát hành giấy chứng nhận phát sóng quảng cáo, ông Trương Xuân Thu, nhân viên của VTCAd đã ghi nhầm tháng 12/2008 thành tháng 11/2008 gửi cho Công ty VTAM để làm căn cứ thanh toán với SABECO nên có sự trùng lắp 2 giấy chứng nhận phát sóng cùng một vòng đấu thứ 16 Giải ngoại hạng Anh. Lý Lê Giang, Kế toán của Công ty VTAM phát hiện sự nhầm lẫn ghi sai vòng đấu và sai tháng đã báo với Nguyễn Quốc Hùng. Hùng chỉ đạo cho Giang sử dụng Giấy chứng nhận phát sóng do VTCAd cung cấp ghi sai nhầm tháng, sai vòng đấu này đưa vào hồ sơ để thanh toán với SABECO theo Hp đồng số 43.

Khi kiểm tra các chứng từ thấy đầy đủ, tin vào Giấy chứng nhận phát sóng do VTCAd cung cấp cho VTAM, Nguyễn Xuân Thương, cán bộ SABECO được phân công theo dõi việc thực hiện Hp đồng số 43 không phát hiện được Giấy chứng nhận phát sóng quảng cáo tháng 11/2008 trùng với Giấy chứng nhận phát sóng tháng 12/2008 đã tổng hp đưa vào hồ sơ thanh toán chuyển tiền cho Công ty VTAM, gây thiệt hại cho SABECO 535.360.000 đồng. Ngày 31/12/2008 Công ty VTAM và Công ty SABECO đã thanh lý Hợp đồng số 43/HĐQC ngày 12/9/2008.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 370/2013/HSST ngày 27/8/2013 Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; điểm i khoản 1 Đỉều 48; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 20; Điều 45; Điều 53 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Quốc Hùng 6 năm tù;

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; điểm i khoản 1 Điều 48; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 20; Điều 45; Điều 53; khoản 1, khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự, xừ phạt Lý Lê Giang 1 năm 6 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 3 năm;

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; điểm i khoản 1 Điều 48; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 20; Điều 45; Điều 53; khoản 1, khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Thanh Toàn 1 năm 6 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 3 năm; đều về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

XÉT THẤY

Theo các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án, việc Tòa án áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự để xét xử các bị cáo Nguyễn Quốc Hùng, Lý Lê Giang, Nguyễn Thanh Toàn về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ.

Tuy nhiên, trường hợp phạm tội của ba bị cáo thuộc khoản 4 Điều 139 có khung hình phạt tù từ 20 năm đến tù chung thân, việc Tòa án xử phạt bị cáo Hùng 6 năm tù nằm trong khung hình phạt từ 2 năm đến 7 năm tù quy định tại khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự và xử phạt các bị cáo Giang, Toàn mỗi bị cáo 1 năm 6 tháng tù, cho hưởng án treo, nằm trong khung hình phạt tù 6 tháng đến 3 năm tù quy định tại khoản 1 Điều 139 là vi phạm nghiêm trọng Điều 47 Bộ luật hình sự. Vì Điều 47 quy định “khi có ít nhất 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật”. Theo quy định đó, khung hình phạt liền kề nhẹ hơn khung hình phạt quy định tại khoản 4 Điều 139 là khung hình phạt từ 7 năm đến 15 năm tù quy định tại khoản 3 Điều 139 Bộ luật hình sự.

-Tòa án không áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự đi với Nguyễn Quốc Hùng và Lý Lê Giang là không đúng, vì 2 bị cáo này có 2 lần phạm tội khác nhau như đã nêu trên.

-Trong lần phạm tội thứ nhất của ba bị cáo Nguyễn Quốc Hùng, Lý Lê Giang, Nguyễn Thanh Toàn, tài sản bị chiếm đoạt là 733.040.000 đồng; lần phạm tội thứ hai của hai bị cáo Nguyễn Quốc Hùng và Lý Lê Giang, tài sản bị chiếm đoạt là 535.360.000 đồng, như vậy cả hai lần phạm tội của Nguyễn Quốc Hùng và Lý Lê Giang, tài sản bị chiếm đoạt là 1.268.400 đồng. Với số tài sản bị chiếm đoạt này, việc Tòa án xử phạt ba bị cáo như trên còn vi phạm điểm a, tiểu mục 2.2, mục 2 Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, quy định ‘Trong trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ mà không có tình tiết tăng nặng hoặc có ít tình tiết tăng nặng hơn, đồng thời đánh giá tính chất giảm nhẹ và tính chất tăng nặng xét thấy có thể giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội, thì có thể ....xử phạt tù từ bảy năm đến dưới mười hai năm nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ năm trăm triệu đồng”.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Kháng nghị Bản án hình sự sơ thẩm số 370/2013/HSST ngày 27/8/2013 của Tòa án nhân dân thành ph H Chí Minh v phn quyết định hình phạt đi với các
bị cáo Nguyễn Quốc Hùng, Lý Lê Giang và Nguyễn Thanh Toàn
. Đ nghị Tòa hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, huỷ bản án hình sự sơ thẩm nêu trên để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật./.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi