Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm các tội phạm về chức vụ.

1. Kháng nghị giám đốc thẩm số 08/KSXXHS Ngày 24-3-2003 đối với vụ án Nguyễn Thị Cúc phạm tội: “Tham ô tài sản”

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 191/HSPT ngày 19-3-2002 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân  tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt: Nguyễn Thị Cúc sinh năm 1957; trú tại số 23 đường Lê Lợi, khu phố 4, phường 2, thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, về tội “tham ô tài sản”.

(Trong vụ án này còn có Nguyễn Thị Thanh Thuý bị xử phạt 3 năm tù về tội “tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa” nhưng không bị kháng nghị).

Nhận thấy:

Ngày 20-6-2000, phòng kế hoạch kinh doanh công ty dược và vật tư y tế tỉnh Tây Ninh kiểm tra kho thuốc do thủ kho Nguyễn Thị Thanh Thuý quản lý đã phát hiện 3 mặt hàng thuốc kháng sinh Ampicilin, amocylline, cephalexin bị hao hụt với số lượng lớn. Các thùng chứa thuốc chỉ có thùng phía  trên có thuốc, còn thùng phía dưới chứa các loại thuốc rẻ tiền hoặc thùng không.

Ngày 4-7-2000 Giám đốc công ty ra quyết định thành lập tổ thanh tra để thanh tra kho thuốc, sổ  sách xuất, nhập thời điểm từ tháng 1 năm 1999 đến tháng 6 năm 2000. Kết quả thanh tra xác định 6 loại thuốc kháng sinh trong khi do Thuý quản lý bị hao hụt, cụ thể là:

- Ampiciline 500mg hụt 6.108 vỉ trị giá là 22.250.579 đồng

- Tetracylline 500mg hụt 100 vỉ trị giá là 178.500 đồng

- Cephalexin 500mg hụt 10.654 vỉ trị giá là 72.385.530 đồng

- Amocylline, 500mg hụt 10.747 vỉ trị giá là 41.883.450 đồng

- Cencomycille 500mg hụt 45 vỉ trị giá là 275.730 đồng

- Erythromycine 500mg hụt 225 vỉ trị giá là 1.346.625 đồng.

 Tổng giá trị thuốc bị hao hụt là 138.320.414 đồng.

Ngoài ra trong các ngày 20-6-2000 và ngày 22-6-2000 Thuý còn mua thuốc ngoài trả vào kho 1.200 vỉ Ampicilline và 840 vỉ Erythromycine trị giá là 12.414.182 đồng.

Như vậy tổng số thuốc bị hao hụt thực tế là 150.734.596 đồng và gia đình Thuý đã nộp trả đủ số tiền này trong quá trình thanh tra.

Qua kiểm tra thể hiện trên các thẻ kho của thủ kho Thuý và thẻ kho của kế toán kho Nguyễn Thị Cúc đều bị tẩy xoá, sửa chữa số lớn thành số nhỏ, sửa số ở cuối kỳ, tăng số xuất, giảm số tồn… nhưng qua giám định các thẻ kho bị tẩy xoá sửa chữa thì tại bản kết luận giám định số 1125 ngày 4-6-2001 của Viện khoa học hình sự Bộ công an trả lời không xác định được chữ viết của ai trên các số bị tẩy sửa.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 164/HSST ngày 31-10-2001 Toà án nhân dân  tỉnh Tây Ninh áp dụng điểm c khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự  năm 1985; điểm p; khoản 1 Điều 46 (áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 46 đối với Thuý và khoản 2 Điều 46 đối với Cúc); Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt Nguyễn Thị Thanh Thuý và Nguyễn Thị Cúc mỗi bị cáo 3 năm tù về tội “Tham ô tài sản XHCN”; buộc hai bị cáo có trách nhiệm liên đới bồi thường cho công ty dược và vật tư y tế tỉnh Tây Ninh số tiền là 150.734.596 đồng, mỗi bị cáo chịu trách nhiệm 1/2 là 75.367.298 đồng.

Ghi nhận bị cáo Thuý đã bồi thường cho công ty 150.734.596 đồng và bị cáo Cúc phải có trách nhiệm hoàn trả cho bị cáo Thuý 75.367.298 đồng.

Ngày 5-11-2001 Nguyễn Thị Thanh Thuý kháng cáo xin được hưởng án treo và nộp tiền cho công ty là 75.367.298đồng.

Ngày 12-11-2001 Nguyễn Thị Cúc kháng cáo không phạm tội tham ô mà phạm tội thiếu trách nhiệm và xin hưởng án treo, không phải bồi thường.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 191/HSPT ngày 19-3-2002, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quyết định về tội danh và hình phạt của bản án sơ thẩm đối với Nguyễn Thị Cúc và Nguyễn Thị Thanh Thuý.  

Xét thấy:

Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện Nguyễn Thị Thanh Thuý thừa nhận lỡ lấy thuốc cho người khác mượn, nên đã tự sửa chữa thẻ kho, khi bị phát hiện đã mua thuốc ngoài nhập vào kho. Thuý đã viết thư cho Cúc để xin Cúc cho mua thuốc bỏ vào kho nhưng không được Cúc đồng ý. Thuý không có sự thông đồng với Cúc để chiếm đoạt tài sản. Thuý xin bồi thường và đã bồi thường toàn bộ giá trị tài sản bị thất thoát cho công ty dược và y tế Tây Ninh nên Toà án các cấp kết án Nguyễn Thị Thanh Thuý về tội tham ô tài sản là đúng.

Đối với Nguyễn Thị Cúc là kế toán kho, Cúc khai thẻ kho bị mất tìm được ở  Thuý và Thuý có nói là mượn thuốc và xin mua bỏ vào kho. Cúc nhận có sửa thẻ kho khi cộng trừ sai số ở hàng đơn vị và hàng chục, khi sửa viết chồng lên hoặc ghi lại số đúng ở cột kề bên bằng mực đỏ. Anh Tòng (là trưởng phòng kinh doanh) khai : Thuý đã đến nhà nói lỡ cho người khác mượn thuốc, chị Quyết (là bí thư đảng uỷ) khai Thuý nói do hoàn cảnh khó khăn có nhờ đại lý ở Ninh Sơn bán thuốc lấy tiền chi tiêu, Chị Nhi (cung ứng) khai: thấy Thuý nhiều lần đến sớm lục thẻ chị Cúc.

Như vậy không có căn cứ kết luận Nguyễn Thị Cúc thông đồng với Nguyễn Thị Thanh Thuý để sửa thẻ kho chiếm đoạt tài sản. Nhưng Nguyễn Thị Cúc là kế toán kho không những không kiểm tra sổ sách của thủ kho Thuý mà còn không quản lý chặt chẽ thẻ kế toán kho, tạo điều kiện sơ hở cho Thuý sửa chữa thẻ kho chiếm đoạt tài sản có giá trị trên 150 triệu đồng, gây thiệt hại nghiêm trọng tài sản của Nhà nước. Hành vi của Cúc có dấu hiệu của tội “thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản XHCN” được quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1985 và quy định tại Điều 144 Bộ luật hình sự năm 1999 chứ không phải là tội “tham ô”.

Hậu quả của vụ án đã được khắc phục, người chiếm đoạt là Nguyễn Thị Thanh Thuý đã tự nguyện bồi thường đầy đủ cho công ty vật tư và y tế Tây Ninh. Mặt khác, sau khi có bản án sơ thẩm cả 2 bị cáo đều có kháng cáo về phần bồi thường nhưng chưa được Toà án cấp phúc thẩm xem xét là vi phạm nghiêm trọng pháp luật tố tụng hình sự. 

Vì các lẽ trên,

Quyết định:

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 191/HSPT ngày 19-3-2002 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại TP Hồ Chí Minh. Đề nghị Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm huỷ phần quyết định áp dụng Điều luật, tội danh và hình phạt đối với Nguyễn Thị Cúc và phần quyết định về bồi thường thiệt hại để Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm lại theo hướng kết án Nguyễn Thị Cúc về tội “Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của nhà nước” theo quy định tại Điều 144 Bộ luật hình sự năm 1999 và xem xét lại kháng cáo của cả 2 bị cáo về phần bồi thường dân sự cho đúng quy định của pháp luật.

_____________________________

-  Lý do kháng nghị để huỷ một phần bản án hình sự  phúc thẩm :

+Xử phạt Nguyễn Thị Cúc tội tham ô là không đúng.

+ Toà án cấp phúc thẩm bỏ sót kháng cáo về bồi thường.

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

 Tại quyết định giám đốc thẩm số 5/HĐTP-HS ngày 26-5-2003,  Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã quyết định: “Huỷ một phần Quyết định của bản án hình sự phúc thẩm 191/HSPT ngày 19-3-2002 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại TP Hồ Chí Minh về áp dụng điều luật, tội danh và hình phạt đối với Nguyễn Thị Cúc và phần quyết định bồi thường thiệt hại để Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm lại theo hướng áp dụng Điều 144 Bộ luật hình sự  năm 1999 kết án Nguyễn Thị Cúc về tội “thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến các tài sản Nhà nước” và xem xét lại kháng cáo của cả 2 bị cáo về phần bồi thường thiệt hại” với nhận định như kháng nghị nêu trên.

 

2. Kháng nghị giám đốc thẩm Số 14/VKSTC-V3 ngày 29-6-2005 đối với vụ án: Lê Thị Nguyệt cùng đồng bọn phạm tội :"Tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa”.

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 885/HSPT ngày 25-6-2003 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã xử phạt đối với:

1- Lê Thị Nguyệt sinh năm 1956; trú tại: khu Tân Tiến, xã Tân Yên, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

2- Hoàng Thị Thái sinh năm 1957; trú tại:  khu Tân Tiến, xã Tân Yên, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

3- Đỗ Thị Hồng sinh năm 1958; trú tại: khu Tân Tiến, xã Tân Yên, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

4- Trần Thị Xuân sinh năm 1957; trú tại: khu Tân Phú, xã Tân Yên, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

Đều về tội “Tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa”.

Nhận thấy:

Từ tháng 3-1996 đến tháng 4-1997, Lê Thị Nguyệt khi còn là Tổ trưởng tổ kế toán cũng như khi được bổ nhiệm làm Cửa hàng trưởng Cửa hàng thương nghiệp huyện Hàm Yên trực thuộc Công ty dịch vụ Miền núi và Dân tộc – Sở thương mại tỉnh Tuyên Quang đã chỉ đạo Đỗ Thị Hồng (là thủ quỹ) lập hai quyển sổ theo dõi, một quyển sổ theo dõi đúng quy định của Nhà nước còn một quyển sổ tay để theo dõi các khoản vay nợ cá nhân. Nguyệt nói với Hồng và Hoàng Thị Thái (là kế toán) cho Nguyệt ứng tiền trong quỹ của Cửa hàng 17 lần với số tiền là 27.250.000đ để sử dụng, nhưng chỉ ký vào sổ tay của Hồng với tư cách cá nhân. Đầu tháng 4-1997 thấy số nợ quá cao không có khả năng trả và bị Thái và Hồng đòi nhiều lần nên Nguyệt nói với Thái, Hồng và Trần Thị Xuân (là thủ kho) khi nào bán được muối thì cho Nguyệt vay nộp vào quỹ để giảm số nợ của Nguyệt xuống, nhưng vẫn báo cáo muối thì cho Nguyệt vay nộp vào quỹ để giảm số nợ của Nguyệt xuống, nhưng vẫn báo cáo muối còn tồn trong kho. Ngày 8-4-1997, Thái, Hồng và Xuân đã bán 20 tấn muối trong kho được 14.000.000đ và trừ vào tiền nợ của Nguyệt trên sổ tay của Hồng còn lại là 13.250.000đ, nhưng vẫn báo cáo với công ty là muối còn tồn chưa bán được. Từ tháng 6-1997 đến 27-4-1998, Nguyệt tiếp tục 7 lần lấy tiền trong quỹ với số tiền là 5.350.000đ cũng bằng hình thức ký vào sổ tay của Đỗ Thị Hồng. Mặc dù đã lấy số tiền trên chi tiêu cho cá nhân, nhưng từ tháng 12-1996 đến khi bị phát hiện (tháng 6-1998), Nguyệt cùng với Thái, Hồng vẫn lập báo cáo với Công ty là tiễn vẫn còn đủ trong quỹ.

Sau khi bán 20 tấn muối Nguyệt, Thái, Hồng và Xuân vẫn báo cáo còn tồn khống từ tháng 4-1997 đến tháng 5-1998. Đến tháng 6-1998 khi biết công ty chuẩn bị kiểm tra Nguyệt đã chỉ đạo Xuân lập hóa đơn bán 20 tấn muối và ghi nợ tiền bán muối cho Nguyệt.

Như vậy, Lê Thị Nguyệt đã lấy tổng số tiền 32.600.000đ từ quỹ của cơ  quan chi tiêu cho cá nhân với sự giúp sức của Thái, Hồng và Xuân.

Ngoài ra, do nợ nần nhiều và cần có tiền để đầu tư khai thác vàng nên dù không có chức năng đi thu nhưng Nguyệt vẫn đến các quầy bán lẻ để thu tiền bán hàng với tổng số tiền là 15.930.000đ mà không báo cho kế toán và thủ quỹ để lập phiếu thu và nộp vào quỹ, cụ thể như sau:

- Tháng 9-1996 Nguyệt thu của chị Nguyễn Thị Chần và chị Nông Thị Bích số tiền 2.100.000đ nhưng không nộp quỹ. Sau đó Nguyệt chỉ đạo chị Chần và chị Bích báo cáo tồn khống 3050 kg muối tương đương với 2.100.000đ.

- Tháng 12-1997, Đỗ Thị Hồng bán chịu muối ở quầy Văn phòng cho khách hàng được 5.000.000đ, nhưng không viết hóa đơn. Khi khách hàng đến nộp tiền thì chỉ có Nguyệt ở cửa hàng và đã thu tiền, nhưng không lập phiếu thu, không nộp quỹ mà sử dụng hết.

- Đầu năm 1998 Nguyệt thu của anh Tướng Văn Kiên 1.880.000đ tiền bán hàng, nhưng chỉ nộp quỹ 680.000đ còn lại 1.200.000đ sử dụng hết.

- Đầu năm 1998 Nguyệt thu của anh Trần Văn Mạnh 230.000đ tiền bán hàng và sử dụng hết.

- Tháng 6-1998 Nguyệt thu của chị Trương Thị Trưng 6.600.000 đồng tiền bán hàng đã sử dụng hết.

- Tháng 6-1998 Nguyệt thu của chị Vũ Kim Liên 800.000đ, nhưng không nộp quỹ và sau đó chỉ đạo Liên báo cáo tồn khống 222 lít dầu hỏa tương đương với 800.000đ.

Ngày 30-6-1998 khi biết Công ty chuẩn bị kiểm tra Nguyệt đã chỉ đạo cho Thái lập các phiếu thu tiền của anh Kiên, chị Trưng, tiền do Đỗ Thị Hồng bán muối, gộp với khoản tiền 18.600.000đ mà Nguyệt còn nợ trong quỹ và lập phiếu chi tạm ứng cho Nguyệt, đồng thời đưa vào bảng kê theo dõi nợ của Cửa hàng.

Tổng hợp tất cả các hành vi trên Lê Thị Nguyệt đã chiếm đoạt của Cửa hàng số tiền là 48.530.000đ.

Ngày 7-7-1998 Công ty dịch vụ miền núi và dân tộc tiến hành kiểm tra đã phát hiện hành vi vi phạm của Nguyệt, Thái, Hồng và Xuân. Nguyệt bị đình chỉ công tác từ ngày 20-8-1998, Nguyệt nhận nợ xin được trả dần. Từ ngày 24-7-1998 đến ngày 27-6-2001, Nguyệt đã trả cho Công ty toàn bộ số tiền mà Nguyệt đã chiếm đoạt.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 67/HSST ngày 26-6-2002, Tòa án nhân dân  tỉnh Tuyên Quang áp dụng điểm d khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự năm 1985; các điểm b và p khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự  năm1999, xử phạt Lê Thị Nguyệt 05 năm tù về tội "Tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa" .

áp dụng khoản 1 Điều 133 Bộ luật hình sự  năm 1985; các điểm b và p khoản 1 Điều 46 và Điều 60 Bộ luật hình sự  năm 1999 xử phạt: Hoàng Thị Thái và Đỗ Thị Hồng mỗi bị cáo 03 năm tù về tội “tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm; Trần Thị Xuân 02 năm tù  về tội "Tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa" nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm.

Cấm các bị cáo đảm nhiệm chức vụ liên quan đến tài sản xã hội chủ nghĩa trong thời hạn 01 năm, kể từ khi chấp hành xong hình phạt tù.

Về phần bồi thường dân sự không đặt ra giải quyết trong vụ án này vì Lê Thị Nguyệt đã hoàn trả đầy đủ, Công ty không có đề nghị gì.

Ngày 27-6-2002 Lê Thị Nguyệt kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 885/HSPT ngày 25-6-2003, Tòa phúc thẩm  Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội áp dụng điểm d khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự  năm 1985; các điểm b và p khoản 1 và 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự  năm 1999 giảm hình phạt cho Lê Thị Nguyệt xuống còn 03 năm tù về tội “tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa”.

Xét thấy:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nhận thấy: Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm kết án Lê Thị Nguyệt tham ô số tiền 48.530.000đ, Hoàng Thị thái, Đỗ Thị Hồng và Trần Thị Xuân đồng phạm với Nguyệt về tội "Tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa" là có căn cứ, bởi lẽ:

Đối với số tiền 32.600.000đ mà Lê Thị Nguyệt đã lấy trong quỹ do Đỗ Thị Hồng quản lý, thì chính Lê Thị Nguyệt, Hoàng Thị Thái và Đỗ Thị Hồng thừa nhận từ khi còn làm Tổ trưởng tổ kế toán cũng như khi được bổ nhiệm làm Cửa hàng trưởng, Nguyệt đã chỉ đạo Đỗ Thị Hồng lập hai quyển sổ theo dõi, một quyển sổ theo dõi theo đúng quy định của Nhà nước, còn một quyển sổ tay để theo dõi các khoản vay nợ cá nhân. Nguyệt đã nói với Hồng và Thái cho Nguyệt ứng tiền trong quỹ 17 lần với số tiền là 27.250.000đ để chi tiêu cho cá nhân, nhưng chỉ ký vào quyển sổ tay của Hồng với tư cách cá nhân và không theo dõi trên sổ sách kế toán. Khi thấy số tiền đã lên cao không có khả năng trả và bị Hồng và Thái đòi nhiều lần, thì Nguyệt đã chỉ đạo Thái, Hồng và Trần Thị Xuân bán 20 tấn muối trong kho để lấy 14.000.000đ nộp vào quỹ nhằm giảm bớt số tiền mà Nguyệt đã lấy, nhưng vẫn báo cáo là muối còn tồn kho chưa bán được. Như vậy, Nguyệt đã chiếm đoạt số tiền 14.000.000đ tiền bán muối để chi tiêu cho cá nhân.

Sau đó, Nguyệt lại tiếp tục lấy 07 lần với tổng số tiền là 5.350.000đ trong quỹ để chi tiêu cho cá nhân cũng bằng hình thức ký vào sổ tay của Đỗ Thị Hồng, cộng với 13.250.000đ là tiền còn lại sau khi đã lấy tiền bán muối khấu trừ ở quỹ của Hồng, tổng cộng hai khoản Nguyệt lấy chi tiêu cho cá nhân là 18.600.000 đồng. Nhưng Nguyệt chỉ đạo kế toán và thủ quỹ lập báo cáo với Công ty là tiền quỹ còn đủ. Đến tháng 6-1998 khi Công ty kiểm tra mới phát hiện thiếu quỹ. Như vậy, Nguyệt đã chiếm đoạt số tiền 18.600.000đ để chi tiêu cho cá nhân.

Đối với số tiền 15.930.000đ, Lê Thị Nguyệt hoàn thành hành vi chiếm đoạt từ khi Nguyệt thu tiền bán hàng của các quầy bán lẻ nhưng không báo cho kế toán để lập phiếu thu, không nhập quỹ và vào sổ theo dõi.

Đến ngày 30-6-1998 khi biết Công ty chuẩn bị kiểm tra Nguyệt mới chỉ đạo Thái và Hồng lập các phiếu thu và phiếu chi tạm ứng khống, đồng thời đưa số nợ của Nguyệt vào bảng kê theo dõi nợ theo tài khoản 131 và tài khoản 141 của cửa hàng.  Đây là hành vi nhằm hợp pháp hóa khoản tiền Nguyệt đã chiếm đoạt và để tránh sự phát hiện của Công ty.

Như vậy, có đủ căn cứ kết luận Nguyệt đã chiếm đoạt của Cửa hàng khoản tiền 32.600.000đồng mà Nguyệt lấy trong quỹ do Hồng quản lý và tiền bán muối trong kho do Trần Thị Xuân quản lý, cộng với khoản tiền 15.930.000đồng mà Nguyệt đi thu của các quầy hàng bán lẻ là 48.530.000đồng. Tuy nhiên, sau khi bị phát hiện, Lê Thị Nguyệt đã khai báo thành khẩn, bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt trước khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên hình phạt tù giam đối với bị cáo là không cần thiết mà cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa.

Đối với Hoàng Thị Thái và Đỗ Thị Hồng có hành vi giúp sức Lê Thị Nguyệt. Nhưng đối với số tiền 15.930.000đ, Nguyệt tự mình thu của các quầy bán lẻ mà không thông báo cho Thái là kế toán biết và không nhập quỹ nên Thái và Hồng không đồng phạm với Nguyệt trong việc chiếm đoạt khoản tiền này.

Trần Thị Xuân chỉ có hành vi đồng phạm với Lê Thị Nguyệt về lấy khoản tiền 14.000.000 đồng bán 20 tấn muối để trừ vào số tiền mà Nguyệt lấy trong quỹ của Hồng.

Mặt khác, Hoàng Thị Thái, Đỗ Thị Hồng và Trần thị Xuân phạm tội vì nể nang Nguyệt và không được hưởng lợi gì về vật chất, các bị cáo đều có nhân thân tốt, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều khai báo thành khẩn và hậu quả của vụ án cũng đã được khắc phục. Khi xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ chú ý xem xét kháng cáo của Lê Thị Nguyệt và giảm hình phạt cho Nguyệt mà không cân nhắc giảm hình phạt cho các bị cáo khác không kháng cáo là không công bằng.

Vì các lẽ trên,

Quyết định:

Kháng nghi bản án hình sự phúc thẩm số 885/HSPT 25-6-2003 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội. Đề nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên để  xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

__________________

 

- Lý do kháng nghị hủy bản án hình sự phúc thẩm:

+ Bị cáo có đủ điều kiện để cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự.

+ Giảm hình phạt cho bị cáo đầu vụ nhưng lại không xem xét giảm hình phạt cho các bị cáo đầu vụ nhưng lại không xem xétgiảm hình phạt cho các bị cáo khác trong vụ án không có kháng cáo là không đúng.

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

Tại quyết định giám đốc thẩm số 20/2005/HSST-GĐT ngày 31-10-2005, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định: Hủy bán án Hình sự phúc thẩm số 885/HSPT ngày 25-6-2003 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội để xét xử đối với Lê Thị Nguyệt để Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật”  với nhận định như kháng nghị nêu trên.

  

1. Kháng nghị giám đốc thẩm số 08/KSXXHS Ngày 24-3-2003 đối với vụ án Nguyễn Thị Cúc phạm tội: “Tham ô tài sản”

2. Kháng nghị giám đốc thẩm Số 14/VKSTC-V3 ngày 29-6-2005 đối với vụ án: Lê Thị Nguyệt cùng đồng bọn phạm tội :"Tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa”.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi