Quyết định Kháng nghị giám đốc thẩm về các vụ án dân sự liên quan đến nhà, đất

1. Kháng nghị giám đốc thẩm số 04/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 18 tháng 01 năm 2006 kháng nghị đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 361/DSPT ngày 26/11/2004 của Tòa phúc thẩm tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh.

 Xét bản án dân sự phúc thẩm số 361/DSPT ngày 26/11/2004  của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hổ Chí Minh, giải quyết vụ kiện Tranh chấp quyền sử dụng đất, giữa:

Nguyên đơn:

1- ông Chung Sáu, sinh năm 1934;

2- ông Chung Thuỷ, sinh năm 1931  ;

3- Bà Chung Thị Huệ, sinh năm 1945;

Cùng trú tại: Khu phố 1, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

Bị đơn: Bà Hà Thị Sáu, sinh năm 1925 (Uỷ quyền cho con gái là chị Vũ Huệ Liên, sinh năm 1954)

Trú tại: 41 đường Vĩnh Phú, khu phố 4, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tứ, tỉnh Bến Tre.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng hộ khẩu với bà Hà Thị Sáu:

1. Vũ Huệ Liên, sinh năm 1954,;

2. Phạm Vũ Minh Triết, sinh năm 1975;

3. Trần Thị Thúy Duyên, sinh năm 1973;

(Triết và Duyên uỷ quyền cho Vũ Huệ Liên);

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là người thân của các nguyên đơn đang định cư ở nước ngoài:

1. Ông Chung Dậu, sinh năm 1942;

2. Ông Chung Nam, sinh năm 1924, chết ngày 17/11/2003 (có các con là: Chung Ái Liên, Chung Ngọc Sơn, Chung Ái Hoa, Chung Ái Châu, Chung Ngọc Danh, Chung Ái Hương, Chung Tuyết Nhung và Chung Ngọc Hưng).

Ông Chung Dậu và các con ông Chung Nam uỷ quyền cho các nguyên đơn.

Cùng trú tại: Liên bang Hoa Kỳ (nước Mỹ).

Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm:

1. Hộ bà Hà Thị Sáu được quyền sử dụng 508,5m2 đất thuộc thửa 202 tờ bản đồ số 22 theo căn nhà số 41 đường Vĩnh Phú, khu phố 4, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Có tứ cận cụ thể như sau:

- Đông giáp đất trống còn lại của thửa 202, có chiều dài 31,4 mét, cộng 01 mét phía trước và 01 mét phía sau, tổng cộng là 33,4 mét;

- Tây giáp phần đất Uỷ ban mặt trận Tổ quốc huyện Ba Tri đang sử dụng, có chiều dài 33,4 mét;

- Bắc giáp đất trống còn lại của thửa 202, theo chiều ngang nhà là 13,5 mét, cộng thêm 01 mét của phần đất trống phía Đông, tổng cộng là 14,5 mét;

- Nam giáp đất trống còn lại của thửa 202, theo chiều ngang nhà là 13,5 mét, cộng thêm 01 mét của phần đất trống phía Đông, tổng cộng là 14,5 mét và được quyền sử dụng lối đi từ nhà ra đường Vĩnh Phú có chiều ngang 2 mét, chiều dài 12,1 mét cặp sát theo ranh đất Uỷ ban mặt trận Tổ quốc Ba Tri đang sử dụng.

 2. Trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, hộ bà Hà Thị Sáu phải di dời cây cối, công trình liên quan để giao 737 m2 đất còn lại của thửa 202, tờ bản đồ số 22, khu phố 4, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre cho các ông bà Chung Thuỷ, Chung Sáu và Chung Thị Huệ hiện cùng trú tại khu phố 1 , thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Ghi nhận việc hộ bà Hà Thị Sáu không yêu cầu bồi thường công sức, hoa màu và các công trình xây dựng trên đất tranh chấp.

 3. Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P.403867 ngày 21 tháng 8 năm 2000 của hộ bà Hà Thị Sáu.

Yêu cầu Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Hà Thị Sáu và cho các ông bà Chung Thuỷ, Chung Sáu và Chung Thị Huệ phù hợp các diện tích và tứ cận đã ghi tại mục 1 và 2 trên đây.

Ngoài ra còn tuyên án phí.

Sau án phúc thẩm, bà Hà Thị Sáu khiếu nại. Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ và đơn khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xét thấy: Diện tích 1245,5m2 đất có tranh chấp nay thuộc thửa 202, tờ bản đồ số 22 toạ lạc tại số 41 đường Vĩnh Phú, khu phố 4, thị trấn Ba Tri, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre thể hiện một phần nằm trong tổng diện tích đất 0ha 40a 40 mà cụ Chung Hữu (cha các nguyên đơn) đứng tên trong bằng khoán số 411 lô 329, tờ bản đồ số 3 đăng ký ngày 9/10/1944 (bút lục 19; 22; 16). Tuy nhiên cụ Châu Lệ (mẹ chồng bà Hà Thị Sáu) đã đăng ký "bảo tồn cơ bản sở hữu chủ đất" ngày 13/9/1941 (bút lục 25; 116). Nguyên đơn cho rằng: Đất trên là của cụ Chung Hữu mua toàn bộ. Bị đơn cho rằng: Bà ngoại của chồng bà Hà Thị Sáu là cụ Nguyễn Thị Thì mua một phần đất của bằng khoán số 411 gồm 1500m2 của chủ đất người ấn Độ từ năm 1936, cất nhà ở được 8 năm - năm 1944 , ông Chung Hữu mới mua phần đất còn lại do con nuôi và là người thừa kế của chủ đất đứng bán và giao toàn bộ bằng khoán số 411 cho ông Chung Hữu. Do chỗ bà con ruột thịt tin tưởng nhau nên không tách thửa riêng. Gia đình ở đó gần 70 năm, làm kê khai và được Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 21/8/2000 (bút lục 30) nên không đồng ý giao đất theo yêu cầu của nguyên đơn.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm không tham khảo ý kiến chính thức của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre là cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận sử dụng đất, vì việc xảy ra tranh chấp quyền sử dụng đất đề nghị cơ quan hành chính ở địa phương giải quyết từ năm 1993 nhưng sau đó 7 năm (2000) bà Hà Thị Sáu vẫn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mặt khác, ông Chung Nam và ông Chung Dậu người liên quan đến nhà đất sang định cư tại Mỹ chưa rõ bằng con đường hợp pháp hay không hợp pháp? Năm 1979 khi ông Chung Dậu sang định cư tại Mỹ thì nhà đất thuộc bằng khoán số 411 bị trưng dụng (bút lục 44) và Uỷ ban nhân dân các cấp quản lý như thế nào chưa rõ. Do đó chưa đủ cơ sở vững chắc buộc bà Hà Thị Sáu giao trả lại cho phía nguyên đơn 737m2 trên tổng số 1245,5m2 mà bà Sáu đang sử dụng.

Bởi lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 361/DSPT ngày 26/11/2004  của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh theo thủ tục giám đốc thẩm. Đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đưa vụ án ra xét xử giám đốc thẩm huỷ toàn bộ án phúc thẩm nêu trên và án sơ thẩm số 08/DSST ngày 18/8/2004  của Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre, giao hồ sơ về cho Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre xác minh, xét xử sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật.

 2. Tạm đình chỉ thi hành Bản án dân sự phúc thẩm số 361/DSPT ngày 26/11/2004  của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh chờ kết quả xét xử giám đốc thẩm./.

 

Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 07/2006/DS-GĐT ngày 06-4-2006 về vụ án “Tranh chấp về quyền sử dụng đất”, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao Quyết định:

1. Huỷ bản án dân sự phúc thẩm số 361/DSPT ngày 26-11-2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và bản án dân sự sơ thẩm số 08/DS-ST ngày 18-8-2004 của Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre đã xét xử vụ án tranh chấp về quyền sử dụng đất giữa các nguyên đơn là ông Chung Sáu, ông Chung Thuỷ, bà Chung Thị Huệ với bị đơn là bà Hà Thị Sáu.

2. Giao hồ sơ vụ án về Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre giải quyết xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

____________________________________________

- Lý do huỷ bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm:

1. Chưa đủ căn cứ để buộc bị đơn trả lại diện tích đất cho các nguyên đơn như quyết định của bản án sơ thẩm và phúc thẩm;

2. Cần điều tra, xác minh thêm về kết quả giải quyết của các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền.

- Nguyên nhân dẫn đến việc huỷ các bản án sơ thẩm và phúc thẩm:

Thiếu sót trong việc xác minh, thu thập và đánh giá chứng cứ.

 

2. Kháng nghị giám đốc thẩm số 54/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 08/09/2005 kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 329/PTDS ngày 08/11/2004 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh.

Xét bản án dân sự phúc thẩm số 329/DSPT ngày 8/11/2004  của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh giải quyết vụ kiện "Tranh chấp quyền sử dụng đất", giữa:

Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Tuyết Hồng, sinh năm 1944

Trú tại: 5A Trà Khúc, phường 2, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

Uỷ quyền cho con trai là: anh Nguyễn Nam Hải, sinh năm 1972;

Bị đơn: Anh Nguyễn Nam Hải, sinh năm 1961

Và vợ là chị Đào Hồng Vân, sinh 1964

Trú tại: 5B Trà Khúc, phường 2, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

Uỷ quyền cho ông Nguyễn Xuân Có, sinh 1934 (cha ruột của anh Hải bị đơn).

Trú tại: số 6 Sông Đà, phường 2, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1- Ông Nguyễn Xuân Có và vợ là bà Phạm Thị Tào (bà Tào uỷ quyền cho ông Có).

2- Anh Nguyễn Hải (Nguyễn Xuân Hai), sinh năm 1954 và vợ là chị vũ Thị Xuân Lan, sinh năm 1959.

Trú tại : 4242 LariCa A Ve#B. Baldwin Park CA 91706 USD.

3- Anh Nguyên Nam Hải, sinh năm 1972

Anh Nguyễn Xuân Hoàng;

Chị Nguyễn Thị Tuyết Hạnh

Cùng trú tại: 5A Trà Khúc, phường 2, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

Đều uỷ quyền cho anh Nguyễn Nam Hải, sinh năm 1972.

Bản án phúc thẩm nêu trên quyết định:

1- Không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 1411/DS-ST ngày 9/7/2004 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Tuyết Hồng.

Buộc anh Nguyễn Nam Hải (sinh năm 1961) và chị Đào Hồng Vân phải trả lại một phần diện tích đất của nhà số 5B Trà Khúc kế nhà 5A Trà Khúc, phường 2, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh có chiều ngang lớn nhất 3,85m, nhỏ nhất 3,2m và chiều dài 17,15m cho bà Hoàng Thị Tuyết Hồng.

2- Phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

3- Anh Nguyễn Nam Hải (sinh năm 1961) phải nộp 50.000đ án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ 50.000đ tạm ứng án phí kháng cáo anh Hải (sinh năm 1961) đã nộp tại phòng thi hành án thành phố Hồ Chí Minh theo biên lai thu số 04467 ngày 15/7/2004.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành.

Sau án phúc thẩm, anh Nguyễn Nam Hải và vợ là chị Đào Hồng Vân, ông Nguyễn Xuân Có nhiều đơn khiếu nại. Tổng giám đốc cụm cảng hàng không Miền Nam có hai văn bản và một quyết định gồi Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Toà án nhân dân tối cao về vấn đề tranh chấp nêu trên.

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ, đơn khiếu nại cùng các tài liệu do đương sự và cơ quan liên quan cung cấp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xét thấy: Toà án cấp sơ thẩm và án cấp phúc thẩm xử chấp nhận yêu cáu của bà Hoàng Thị Tuyết Hồng là không có cơ sở, bởi lẽ:

 Về mặt pháp lý: Đất đang có tranh chấp không thuộc quyền sử dụng của bà Hồng, bởi đất trên chưa được Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quyết định số 240/QĐ ngày 30/6/1989 cấp cho anh Nguyễn Hải (Nguyễn Xuân Hai) nay bà Hồng sử dụng là không hợp pháp, vì theo các công văn số 566 ngày 12/5/2004; số 662 ngày l/6/2004; số 681 ngày 7/6/2004 của Tổng giám đốc cụm cảng hàng không miền nam gửi Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh; công văn số 1695 ngày 15/11/2004 và công văn số 1484 ngày 30/8/2005 trời Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Toà án nhân dân tối cao thể hiện rõ nội dung trên. Ngoài ra, ngày 29/8/2005 Tổng giám đốc cụm cảng hàng không Miền Nam ra quyết định số 1483/QĐ-CCMN về việc thu hồi và huỷ bỏ quyết định số 240/QĐ nêu trên của Phó giám đốc sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất ký ngày 30/6/1989.

Về hợp đồng tặng cho: Nhà số 5 (nay là số 5A) Trà Khúc ngày 26/9/1994 giữa anh Nguyễn Hải (Nguyễn Xuân Hai) là bên cho với ông Nguyễn Xuân Diều và bà Hoàng Thị Tuyết Hồng là bên nhận thì tại Điều 3 của hợp đồng thể hiện rõ: "Bên B đồng ý nhận nhà trong tình trạng hiện hữu . . .". Theo bản vẽ hiện trạng nhà, số 4000 ngày 9/9/1994 do phòng quản lý đô thị thuộc Uỷ ban nhân dân quận Tân Bình lập có chữ ký của bên cho là anh Nguyễn Xuân Hai và của bên nhận là ông Nguyễn Xuân Điều thì nhà số 5 (nay là 5A) Trà Khúc đất chiều ngang mặt đường chỉ có 9,3m tính từ giáp ranh nhà số 3 sang phía nhà số 5 và chiều dài từ đường vào hết đất là 16,6m (sấp sỉ 154m2). Như vậy nhà số 5A Trà Khúc không bao gồm cả diện tích đất có tranh chấp. Điều đó phù hợp với xác nhận của Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh, số 2343/Trba ngày 14/8/2002 thì nhà số 5 (5A) Trà Khúc chỉ chịu thuế sử dụng đất là 125,55m2 và phù hợp với giấy cho đất làm lối đi giữa anh Nguyễn Hải (Nguyễn Xuân Hai) với anh Nguyễn Nam Hải (sinh năm 1961) ngày 17/8/1994.

Về mặt thực tế: Vợ chồng anh Nguyễn Nam Hải và gia đình đã sử dụng đất từ lâu (từ năm 1991) làm lối đi cho đến nay .Lẽ ra Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm xử bác yêu cầu của bà Hoàng Thị Tuyết Hồng mới đúng.

Bởi các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1- Kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 329/DSPT ngày 8/11/2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh theo thủ tục giám đốc thẩm. Đề nghị Hồi đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đưa vụ án ra xét xử giám đốc thẩm huỷ toàn bộ án phúc thẩm số 329/DSPT ngày 8/11/2004  của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao và án sơ thẩm số 1411/DSST ngày 9/7/2004 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, giao hồ sơ về cho Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm theo hướng phân tích trên.

2- Tạm đình chỉ thi hành bản án dân sự phúc thẩm số 329/DSPT ngày 8/11/2004  của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và bản án dân sự sơ thẩm số 1411/DSST ngày 9/7/2004 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh chờ kết quả xét xử giám đốc thấm./.

    

Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 29/2005/DS-GĐT ngày 01-11-2005 về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Quyết định:

1. Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 329/DSPT ngày 08-11-2004 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh về vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là bà Hoàng Thị Tuyết Hồng với bị đơn là vợ chồng ông Nguyễn Nam Hải, bà Đào Thị Hồng Vân.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo đúng quy định của pháp luật

_____________________________

- Lý do hủy bản án phúc thẩm:

Quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm về việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

- Nguyên nhân dẫn đến việc hủy bản án phúc thẩm:

Thiếu sót trong việc xem xét, đánh giá chứng cứ.

 

3. Kháng nghị giám đốc thẩm số 110/QĐ/KNGĐT-DS ngày 26 tháng 12 năm 2005 kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 395/DSPT ngày 30/12/2004 cuả Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh.

Xét bản án dân sự phúc thẩm số 3951DSPT ngày 30/12/2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh giải quyết vụ kiện: " Đòi tài sản" giữa:

Nguyên đơn: Ông Trần Ngọc Bá, quốc tịch Cộng hoà Pháp, trú tại số 10 Cheminement, André Mesager, 31.000 Toulouse, France. Tạm trú tại 453/77 C42 Lê Văn Sỹ, phường 12, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Phan Viên Nguyệt, trú tại 338-340 Nguyễn Trung Trực, khu phố 4, phường Vĩnh Lạc, thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Tăng Thống, trú tại số 27 Đống Đa, khu phố 3, phường Vĩnh Lạc, thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

2/ Ông Đái Hữu Phước, trú tại số 17 Trương Vĩnh Ký, phường Rạch Sỏi, thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

3/ Bà Trần Thị Tuyết Vân, trú tại số 926/5/5 Nguyễn Trung Trực, phường An Hoà, thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

4/ Bà Châu Hồng Vân, trú tại số 82 Lạc Hồng, phường Vĩnh Lạc, thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

5/ Bà Hồ Lệ Hà, trú tại số 79/2 Trịnh Hoài Đức, phường Vĩnh Thanh Vân, thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

6/ Bà Trần Ngọc Tài, trú tại số 17 Mậu Thân, phường Vĩnh Thanh, thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Bản án phúc thẩm nêu trên đã quyết định:

* Áp dụng Điều 60, khoản 1 Điều 69 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự.

- Chấp nhận việc rút kháng cáo của ông Trần Ngọc Bá.

- Không chấp nhận kháng cáo của bà Phan Viên Nguyệt.

- Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

* Căn cứ Điều 14; Điều 223; Điều 238; khoản 2 Điều 313; Điều 830; Điều 833; khoản 1 Điều 827 BLDS. Điều 25; khoản 3 Điều 17 Luật Hôn nhân & gia đình năm 2000.

* Căn cứ Thông tư liên tịch số 01 TTLT ngày 19/6/1997 của TANDTC,VKSNDTC, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính.

Xử:

1/ Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Trần Ngọc Bá về việc kiện đòi bà Phan Viên Nguyệt phải chia cho ông Bá phần giá trị tài sản chung của nhà hàng Như Ngọc toạ lạc tại số 338-340 Nguyễn Trung Trực, thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Buộc bà Phan Viên Nguyệt phải chia cho ông Bá 50% tài sản chung trị giá 1 . 1 36.402.500đ (Một tỷ, một trăm ba mươi sáu triệu, bốn trăm linh hai ngàn, năm trăm đồng).

2/ Chấp nhận một phần yêu cầu của 06 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, buộc bà Phan Viên Nguyệt phải dùng tài sản chung với ông Bá trả cho các chủ nợ các khoản tiền sau:

2.1 Bà Trần Ngọc Tài 52.820.000đ (Năm mươi hai triệu, tám trăm hai chục ngàn đồng).

2.2 Bà Hồ Lệ Hà 22.528.000đ (Hai hai triệu, năm trăm hai tám ngàn đồng).

2.3 Ông Tăng thống 57.585.000đ (Năm mươi bẩy triệu, năm trăm tám mươi năm ngàn đồng).

2.4 Bà Châu Hồng Vân 21.242.535đ (Hai mươi mốt triệu, hai trăm bơn hai ngàn, năm trăm ba năm đồng).

2.5 Ông Đái Hữu Phước 59.639.062đ (Năm mươi chín triệu, sáu trăm ba chín ngàn, không trăm sáu mươi hai đồng).

2.6 Bà Trần Thị Tuyết Vân 7.350.000đ và 1,536 lượng vàng 24k(bảy triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng và Một lượng năm chỉ ba phân sáu ly vàng 24K). Kể từ ngày có đơn yêu cầu THA của các đương sự bà Phan Viên Nguyệt có trách nhiệm thanh toán tất cả các nghĩa vụ kể trên. Nếu bà Nguyệt không thanh toán hoặc thanh toán chưa xong thì phải chịu lãi suất nợ quá hạn theo qui định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tương ứng với số tiền chậm thi hành án.

3/ Giao cho bà Phan Viên Nguyệt quyền sở hữu toàn bộ tài sản nhà hàng Như Ngọc và các tiện nghi sinh hoạt gia đình cũng như các máy móc thiết bị và phương tiện phục vụ kinh doanh của nhà hàng toạ lạc tại số 338-340 Nguyễn Trung Trực, thị xã Rạch giá, tỉnh Kiên Giang sau khi bà Nguyệt đã thanh toán xong toàn bộ các nghĩa vụ về tài sản đã được xác định tại bản án này.

4/ Bản án phúc thẩm còn tuyên phần án phí và chi phí giám định.

Sau án phúc thẩm bà Phan Viên Nguyệt có đơn đề nghị xem xét lại bản án dân sự phúc thẩm nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đơn đề nghị của đương sự, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhận thấy: ông Trần Ngọc Bá là người Việt Nam đang sinh sống tại Cộng hoà Pháp về Việt Nam. Năm 1993 gặp lại bà Phan Viên Nguyệt hai người cùng hợp tác làm ăn, đến tháng 10/1999 do mâu thuẫn nên ông Bá bỏ đi, ngày 3/12/1999 ông Bá có đơn khởi kiện tới Toà án yêu cầu chia tài sản chung là nhà hàng Như Ngọc toạ lạc tại số 338-340 Nguyễn Trung Trực, thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang do bà Nguyệt đứng tên vì ông là Việt kiều không được đứng tên trong bất động sản. Toà án các cấp đã chấp nhận một phần yêu cầu của ông Bá; buộc bà Nguyệt phải chia cho ông Bá 50% giá trị tài sản chung trị giá l.136.402.500đ; giao bà Nguyệt sở hữu toàn bộ nhà hàng Như Ngọc sau khi thanh toán xong các khoản nợ chung cho các chủ nợ là chưa có cơ sở vì:

Tại phiên toà sơ thẩm lần thứ nhất do Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử ngày 17/12/2001 bà Nguyệt có xuất trình "giấy xác nhận" ghi nội dung: Hôm nay ngày 26/7/1997 tại phòng Công chứng Nhà nước tỉnh Kiên Giang tôi Trần Ngọc Bá, sinh năm 1951 hộ chiếu số 95 HE 92856 định cư ở Pháp. . .Tôi xác nhận rằng bà Nguyệt hiện ngụ và là chủ sở hữu căn nhà số 39/11 (số mới 340) đường Nguyễn Trung Trực khu phố 4, phường Vĩnh Lạc, Rạch Giá. Là vợ trước của tôi, song phần tài sản bà Nguyệt đứng tên là sở hữu riêng của bà không có liên quan gì đến tôi. Tôi không có điều chi khiếu nại về sau. (Ký tên Trần Ngọc Bá). Phòng Công chứng số 1 tỉnh Kiên Giang xác nhận bản gốc đang lưu tại hồ sơ thế chấp số 721, ngày 26/7/1997. Tài liệu này cũng được nhận định trong bản án sơ thẩm lần thứ nhất và ghi trong bút ký phiên Toà (BL343) nhưng không được các cấp Toà án thu thập để giám định tính xác thực của tài liệu, lấy lời khai của ông Bá về tài liệu này để đánh giá tính khách quan của vụ án là một thiếu sót nghiêm trọng.

Trong các giấy như giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở mang tên bà Nguyệt, sổ hộ khẩu của bà Nguyệt thì nhà đang tranh chấp là số 340 đường Nguyễn Trung Trực, phường Vĩnh Lạc, thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang; nhưng trong các bản án và trong đơn khiếu nại của bà Nguyệt và ông Bá lại ghi nhà hàng Như Ngọc toạ lạc tại số 338-340 Nguyễn Trung Trực vậy ở đây có một nhà hay hai nhà cũng chưa được làm rõ khi xác định khối tài sản chung để phân chia thoả đáng cho các đương sự.

Về khoản ông Bá vay 900.000.000đ của Công ty TNHH Nam Đảo từ tháng 6-8/1996 và trả nợ từ tháng 9-12/1996 là 965.000.000đ, bà Nguyệt không thừa nhận. Hơn nữa, trong một thời gian ngắn vừa vay, vừa trả số tiền lớn nhưng nguồn tiền trả từ đâu cũng chưa được xác minh làm rõ đầy đủ.

Khi ông Bá bỏ đi (l0/1999) đã thừa nhận hai người còn nợ Ngân hàng Công thương tỉnh Kiên Giang 205.000.000đ và Ngân hàng Sông Kiên 90.000.000đ (BL513), đến ngày 29/3/2001 bà Nguyệt một mình đã trả nợ xong cho Ngân hàng cũng không được các cấp Toà án đề cập đến cũng là một thiếu sót

Bởi các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1/ Kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 395/DSPT ngày 30/12/2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh theo thủ tục giám đốc thẩm.

Đề nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đưa vụ án ra xét xử giám đốc thẩm huỷ bản án dân sự sơ thẩm số IOIDSST ngày 30/8/2004 của Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang và bản án dân sự phúc thấm số 395/DSPT ngày 30/12/2004 của Toà phúc thâm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh , giao hồ sơ về cho Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang xác minh, xét xử lại từ sơ thẩm theo hướng phân tích trên.

2/ Tạm đình chỉ thi hành bản án, chờ kết quả xét xử giám đốc thẩm ./.

 

Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 06/2006/DS-GĐT ngày 06-04-2006 về vụ án “ Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản” Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Quyết định:

1. Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 395/DSPT ngày 30-12-2004 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và bản án dân sự sơ thẩm số 10/DSST ngày 30-08-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã giải quyết việc tranh chấp về quyền sở hữu tài sản giữa nguyên đơn là ông Trần Ngọc Bá với bị đơn là bà Phan Viên Nguyệt .

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang để giải quyết, xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

_______________________________­

- Lý do hủy bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm:

1. Tòa án cấp phúc thẩm xác định không chính xác quan hệ tranh chấp;

2. Bản án phúc thẩm nhận định không chính xác về quyền sở hữu đối với tài sản tranh chấp;

3. Quyết định của bản án sơ thẩm và phúc thẩm về việc chia đôi tài sản tranh chấp cho nguyên đơn và bị đơn là không đúng pháp luật;

4. Cần xác minh, làm rõ nội dung của “ Giấy xác nhận” do bị đơn xuất trình.

- Nguyên nhân dẫn đến việc hủy các bản án sơ thẩm và phúc thẩm:

1. Thiếu sót trong  việc áp dụng pháp luật để xác định quan hệ nguyên nhân giữa nguyên đơn và bị đơn;

2. Thiếu sót trong việc áp dụng pháp luật trong việc chia tài sản thuộc sở hữu chung;

3. Thiếu sót trong việc xác minh và đánh giá chứng cứ.

 

 

4- Kháng nghị giám đốc thẩm số 03/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 14-01-2009 kháng nghị Quyết định giám đốc thẩm số 75/2008/DS-GĐT ngày 15-05-2008 của Tòa dân sư- Tòa án nhân dân tối cao theo thủ tục giám đốc thẩm.

Xét Quyết định Giám đốc thẩm dân sự số 75/2008/DS-GĐT ngày 15/5/2008  của Toà Dân sự -Toà án nhân dân tối cao, giải quyết vụ án: "Tranh chấp quyền sử dụng đất" giữa:

Nguyên đơn:

Ông Nguyễn Văn Cư, sinh năm 1951;

Bà Huỳnh Thị Thu (vợ ông Cư), sinh năm 1955;

Trú tại: 149, Lý Thái Tổ, phường 9, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn Việt T&P;

Địa chỉ: số 30 đường ĐT 743, khu công nghiệp Sóng Thần n, Bình Dương.

Ủy quyền tham gia tố tụng cho ông Châu Ngọc Triết, sinh năm 1952.

Trú tại: 123/4 đường Lê Hồng Phong, phường 2, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Châu Lệ Phương, sinh năm 1960;

Trú tại: 201B7 đường 312, phường 12, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh.

Bà Châu Lệ Phương ủy quyền tham gia tố tụng cho ông Châu Ngọc Triết;văn bản uỷ quyền ngày 21/7/2004 .

Tại Quyết định Giám đốc thẩm nêu trên đã quyết định:

Huỷ Quyết định giám đốc thẩm số 01/UBTP-DS ngày 29/4/2005 của Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương và Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 40/CNST ngày 09/8/2004 của Toà án nhân dân huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Giao hồ sơ về Toà án nhân dân huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định pháp luật.

Sau khi có Quyết định giám đốc thẩm, ngày 21/7/2008 Công ty Hưng Thịnh có đơn khiếu nại đối với Quyết định giám đốc thẩm trên và cho rằng người khởi kiện không có đất và cũng không có liên quan gì đến quyền lợi và nghĩa vụ của Công ty

Ngày 18/7/2008, Công ty TNHH Việt T&P có đơn khiếu nại cho rằng bà Thu không có căn cứ chứng minh là đất của mình mà khởi kiện đòi đất là vu khống.

Ngày 27/8/2008 Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội có công văn số 1676/UBTP12 đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét đơn khiếu nại của ông Nguyễn Văn Cư và bà Huỳnh Thị Thu.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện, Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhận thấy:

Năm 1994 , Uỷ ban nhân dân tỉnh Sông Bé (cũ) có Quyết định số 4689/QĐUB ngày 23/12/1994 cấp cho 4 thành viên của Công ty TNHH Triệu Hưng Đạt để xây dựng nhà máy giấy da, trong đó bà Huỳnh Thị Thu được cấp 23.838m2 và bà Châu Lệ Phương được cấp 28.138m2. Hai phần đất này được liền kề nhau. Phần đất của bà Phương sau đó chuyển giao cho Công ty TNHH Việt T&P để xây dựng nhà xưởng.

Quá trình sử dụng, bà Thu có thoả thuận với ông Bùi Mạnh Lân (Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Thương mại- Sản xuất- Xây dựng Hưng Thịnh gọi tắt là Công ty Hưng Thịnh) với nội dung: bà Thu góp 300.000.000đ vào công ty bằng giá trị quyền sử dụng đất tương ứng 10% quyền sử dụng đất mà bà được quyền sử dụng, còn 90% giá trị quyền sử dụng đất Công ty Hưng Thịnh có trách nhiệm nộp 2.057.000.000đ vào Ngân sách Nhà nước.

Ngày 31/8/1996   Công ty Hưng Thịnh họp cổ đông kết nạp bà Thu là thành viên cổ đông của Công ty. Việc góp vốn vào công ty và giao quyền sử dụng đất nêu trên của bà Thu cho Công ty Hưng Thịnh thể hiện tại Hợp đồng góp vốn tham gia cổ đông Công ty được Phòng công chứng nhà nước tỉnh Bình Dương chứng thực ngày 7/9/1996. Sau đó Công ty Hưng Thịnh nộp đủ 2.057.000.000đ theo thoả thuận vào Kho bạc Nhà nước tỉnh Sông Bé.

Ngày 27/9/1996, bà Thu thoả thuận với Công ty Diên Hùng (là chi nhánh của Công ty EPCO), giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho Công ty Diên Hùng để vay 1.000.000.0000đ.

Khi xét xử phúc thẩm hình sự đối với Tăng Minh Phụng, Liên Khui Thìn và các bị cáo khác, thì tại bản án số 05/HSPT ngày 12/01/2000 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh nhận định việc bà Thu tự ý thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty Diên Hùng là không đúng, do đó quyết định buộc Ngân hàng Công thương chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh phải giao trả cho Công ty Hưng Thịnh 561.782m2 đất (kể cả 23.383m2 đất đứng tên bà Huỳnh Thị Thu) tại khu công nghiệp Đồng An và Công ty Hưng Thịnh phải hoàn trả cho ICBV-HCM 40.887.121.095đ.

Căn cứ vào quyết định thi hành án số 667/UTTHA ngày 25/6/2002 của Phòng thi hành án thành phố Hồ Chí Minh, thì Ngân hàng Công thương Việt Nam chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh đã giao cho Công ty Hưng Thịnh các giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng 561.782m2 đất (trong đó có 23.383m2 đất đứng tên bà Huỳnh Thị Thu) còn Công ty Hưng Thịnh đã nộp đủ 40.887.121.095đ cho Ngân hàng Công thương Việt Nam chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, từ năm 2000 Công ty Hưng Thịnh có quyền quản lý, sử dụng 23.383m2 đất nêu trên, bà Thu không có quyền sử dụng diện tích đất nêu trên nên cũng không có quyền khởi kiện đòi đất lấn chiếm với Công ty Việt T&P. Quyết định số 01/UBTP-DS ngày 29/4/2005 của Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương đã chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương với nhận định: Cá nhân bà Huỳnh Thị Thu không có uỷ quyền của Công ty Hưng Thịnh nên không có quyền khởi kiện tranh chấp lấn chiếm đất với Công ty Việt T&P. Việc Toà án nhân dân huyện Dĩ An không làm rõ quyền khởi kiện của bà Thu đã thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà Thu là trái pháp luật. Do đó đã quyết định: Huỷ quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 40/CNSTT ngày 09/8/2004 của Toà án nhân dân huyện Dĩ An và đình chỉ giải quyết vụ án đồng thời giành quyền khởi kiện cho Công ty Hưng Thịnh, ông Bùi Mạnh Lân thành vụ kiện khác là có căn cứ đúng pháp luật.

Việc Quyết định giám đốc thẩm số 75/2008/DS-GĐT nêu trên của Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao có yêu cầu Toà án cấp dưới xác minh: Công ty Hưng Thịnh bổ nhiệm bà Thuỷ thay thế ông Lân khi bị bắt tạm giam thì có hay không có việc cách chức Tổng giám đốc của ông Lân và yêu cầu ông Lân bàn giao chức vụ Tổng giám đốc cho bà Thuỷ? Số tiền ông Lân nhận của bà Thu có được nhập vào quỹ của Công ty Hưng Thịnh hay không? và việc không đưa Công ty Hưng Thinh và ông Lân vào tham gia tố tụng là không cần thiết vì:

Trong hồ sơ đã thể hiện: Các tài liệu ngày 29/4/2003 khi ông Bùi Mạnh Lân Tổng giám đốc của Công ty Hưng Thịnh bị bắt tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Tiền Giang thì ngày 15/5/2003 Đại hội cổ đông Công ty Hưng Thịnh đã họp và cử bà Hoàng Thuỷ làm giám đốc thay thế tạm thời ông Lân và ngày 20/5/2003 Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Bình Dương cấp giấy chứng nhận kinh doanh, người đại diện theo pháp luật của Công ty chức danh Giám đốc là bà Hoàng Thuỷ, việc làm trên của Công ty Hưng Thịnh là đúng các quy định của Luật doanh nghiệp. Việc ông Lân khi bị bắt tạm giam có thoả thuận với bà Thu giải quyết đất tranh chấp là hoàn toàn mang tính cá nhân, không đại diện cho công ty nên không hợp pháp.

Về số tiền 5.250.000.000đ của ông Thu, bà Cư nộp tại trại tạm giam tỉnh Tiền Giang, theo báo cáo số 2850/CAT(PCI4) ngày 03/12/2008 của Công an tỉnh Tiền Giang thì số tiền trên hiện đang tạm gởi tại kho bạc Nhà nước tỉnh Tiền Giang, Công ty Hưng Thịnh chưa nhận số tiền trên.

Về việc áp dụng pháp luật tố tụng: Như đã phân tích trên tại Quyết định Giám đốc thẩm của Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương đã giành cho Công ty Hưng Thịnh, ông Lân bằng vụ kiện khác nếu có khởi kiện là phù hợp với quy định của pháp luật Tố tụng.

Bởi các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1/ Kháng nghị Quyết định Giám đốc thẩm dân sự số 75/2008/DS-GĐT ngàyi51512008 của Toà Dân sự -Toà án nhân dân tối cao theo thủ tục giám đốc thẩm. Đề nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm: Huỷ Quyết định giám đốc thẩm nêu trên của Toà án nhân dân tối cao, giữ nguyên Quyết định giám đốc thẩm dân sự số 01/UBTP-DS ngày 29/4/2005 của Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.

2/ Tạm đình chỉ thi hành Quyết định Giám đốc thẩm dân sự số 75/2008/DS-GĐT ngày 15/5/2008 của Toà Dân sự -Toà án nhân dân tối cao chờ kết quả xét xử giám đốc thẩm./.

________________________________

-Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

Hủy Quyết định giám đốc thẩm số 75/2008/DS-GĐT ngày 15-05-2008 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao và giữ nguyên Quyết định giám đốc thẩm số 01/UBTP-DS ngày 29-04-2005 của Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Cư, bà Huỳnh Thị Thu với bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn Việt T&P


5- Kháng nghị giám đốc thẩm số 38/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 07-04-2009 khàng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 122/2006/DS-PT ngày 07/04/2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh.

Xét bản án dân sự phúc thẩm số 122/20061DS -PT ngày 07/4/2006 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, giải quyết vụ án " Đòi nhà đất và giấy tờ nhà đất" giữa:

Nguyên đơn:

Cụ: Nguyễn Văn Đức, sinh năm 1929 và vợ là cụ: Lê Thị Hạnh, sinh năm 1930;

Cùng trú tại: 47/5 ấp 2, xã Xuân Thời Sơn, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh .

Bị đơn:

Cụ : Nguyễn Thị Lượm, sinh năm 1917 (chị ruột cụ Nguyễn Văn Đức);

 Trú tại: 47/5 A ấp 2, xã Xuân Thời Sơn, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí linh. Uỷ quyền cho con là ông: Nguyễn Văn Công, sinh năm 1938.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn Công, sinh năm 1938 (con trai cụ Lượm);

Tạm trú: 47/5A ấp 2, xã Xuân Thời Sơn, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh, sinh năm 1954 (vợ ông Công);

Trú tại: 59 Bình Giả, phường 13, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 122/2006/DSPT ngày 07 tháng 04 năm 2006 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, nhận định:

 Tờ giấy xác nhận đề ngày 25/11/2001 mang nội dung trả lại đất. Vì vậy, căn cứ điều 22, điều 24 nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 08/2/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực, Uỷ ban nhân dân xã Xuân Thói Sơn chứng thực là lượt quá thẩn quyền. Việc cam kết trả nhà cửa chưa hợp lệ thì bà Lượm được quyền thay đổi ý chí của mình. Do đó quyết định:

Căn cứ khoản 2 Điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự. Sửa bản án sơ thẩm 62/DSST ngày 10/01/2002 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

Áp dụng điều 462, 463 Bộ luật dân sự.

Tuyên xử:

- Chấp nhận quyết định kháng nghị số 66/QĐ-KNDS ngày 21/01/2003 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Lượm do bà Nguyễn Thị Mỹ Linh làm đại diện theo uỷ quyền, kháng cáo của bà Nguyễn Thị Mỹ Linh và ông Nguyễn Văn Công.

- Bác yêu cầu đòi lại nhà đất và giấy tờ nhà đất tại số 47/5 ấp 2, xã Xuân Thời Sơn, huyện Hóc Môn của ông Nguyễn Văn Đức và bà Lê Thị Hạnh đối với bà Nguyễn Thị Lượm.

- Công nhận hợp đồng tặng cho ngày 16/01/2001 giữa ông Nguyễn Văn Đức, bà Lê Thị Hạnh với bà Nguyễn Thị Lượm hợp pháp, đã có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, bà Nguyễn Thị Lượm được quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất tại số 47/5 ấp 2, xã Xuân Thời Sơn, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh theo sự xác nhận của Uỷ ban nhân dân huyện Hóc Môn vào ngày 04/08/1999 chuyển sang bà Lượm trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 13611/97 ngày 01/12/1997 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh (diện tích nhà, đất được ghi rõ trong giấy chứng nhận này).

- Buộc ông Nguyễn Văn Công hoàn trả lại 23 .230.000 đồng (hai mươi ba triệu hai trăm ba mươi ngàn đồng chẵn) là số tiền đã nhận của ông Nguyễn Văn Đức và bà Lê Thị Hạnh cho ông Đức, bà Hạnh. Số tiền này ông Công đã giao nộp cho Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh, nên ông Đức, bà Hạnh được nhận tại cơ quan này.

- Buộc bà Nguyễn Thị Lượm, bà Nguyễn Thị Mỹ Linh và ông Nguyễn Văn Công phải trả cho ông Nguyễn Văn Đức và bà Lê Thị Hạnh chi phí lập bản vẽ, định giá nhà đất là 6.169.000đ (sáu triệu một trăm sáu mươi chín ngàn đồng chẵn).

- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Lượm, bà Nguyễn Thị Mỹ Linh, ông Nguyễn Văn Công cho ông Nguyễn Văn Đức và bà Lê Thị Hạnh ở tại nhà số 47/5 ấp 2, xã Xuân Thời Sơn, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh cho đến khi qua đời. Giữ nguyên diện tích hiện trạng phần ông Đức, bà Hạnh đang sử dụng tại nhà số 47/5 ấp 2, xã Xuân Thời Sơn, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh mà cơ quan Thi hành án đã thi hành xong.

- Tách việc ông Nguyễn Văn Công đòi nợ ông Nguyễn Văn Đức và bà Lê Thị Hạnh để giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.

- Tách yêu cầu của các đương sự tranh chấp phần đất phía trước và sau căn nhà và đất số 47/5 ấp 2, xã Xuân Thời Sơn, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu của một trong các bên đương sự.

Ngoài ra bản án còn tuyên phần án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm cụ Hạnh, cụ Đức có đơn đề nghị xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đơn đề nghị của đương sự, Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhận thấy:

Nhà đất số 47/5 ấp 2, xã Xuân Thời Sơn, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh, gồm một căn nhà được xây dựng trên diện tích đất 118m2 có diện tích sử dụng là 244 m2 thuộc quyền sở hữu của cụ Nguyễn Văn Đức và vợ là cụ Lê Thị Hạnh (cụ Đức, cụ Hạnh đã được Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở ngày 01/12/1997). Theo cụ Đức, cụ Hạnh thì do hai cụ có ý định đi định cư tại Úc theo diện đoàn tụ gia đình, nên ngày 27/01/1997 vợ chồng cụ Đức làm giấy uỷ quyền cho chị ruột cụ Đức là cụ Nguyễn Thị Lượm với nội dung: "Cụ Lượm được toàn quyền sử dụng căn nhà số 47/5 ấp 2, xã Xuân Thời Sơn, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh". Giấy uỷ quyền có cụ Lượm, cụ Đức, cụ Hạnh và bà Mai là con cụ Đức, cụ Hạnh điểm chỉ, ký tên (có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã Xuân Thời Sơn) (BL 189, 190). Khi cụ Đức, cụ Hạnh và cụ Lượm đem giấy uỷ quyền tới Uỷ ban nhân dân huyện Hóc Môn đế chứng thực thì ông Đinh Hồng Sơn là cán bộ tiếp nhận hồ sơ đã giải thích: Muốn đi xuất cảnh theo diện thăm thân phải chứng minh không còn bất động sản ở Việt Nam và khuyên các bên chuyển thành hợp đồng tặng cho. Ngày 16/01/1998, cụ Đúc, cụ Hạnh lập hợp đồng tặng cho căn nhà nêu trên cho cụ Lượm (có chứng thực của Uỷ ban nhân dân huyện Hóc Môn cùng ngày). Sau đó cụ Lượm làm thủ tục sang tên trước bạ ngày 04/8/1999 Uỷ ban nhân dân huyện Hóc Môn chuyển quyền sở hữu nhà đất (BL229,230). Cụ Đức, cụ Hạnh đã giao tầng trệt và phần khuôn viên căn nhà số 47/5 ấp 2, xã Xuân Thời Sơn, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh cho cụ Lượm. Sau khi được giao tầng trệt và phần đất khuôn viên căn nhà,. ông Nguyễn Văn Công (con cụ Lượm) đã cải tạo, sửa chữa và xây dựng thêm đế mở Trường mầm non tư thục. Khi vợ chồng cụ Đức không đi nước ngoài nữa và có yêu cầu lấy lại nhà thì ngày 25/11/2001  cụ Lượm đã ký giấy xác nhận, có nội dung: Trước đây vợ chồng em tôi có tặng cho tôi căn nhà này và đã sang tên cho tôi. Nay vợ chồng em tôi, muốn lấy lại căn nhà, tôi sẵn sàng trả lại với điều kiện sau đây:

-  Hoàn lái số tiền sang tên. 23.000.000 đồng cho con trai tôi Nguyễn Văn Công.

- Giấy tờ sang tên trở lại và các chi phí cho vấn đề này sẽ do vợ chồng em tôi chịu (có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã Xuân Thời Sơn ngày 26/1 1/2001)(BL175). Thực hiện các điều kiện trong giấy xác nhận trên nên ngày 29/04/2002, cụ Đức, cụ Hạnh đã giao 23.230.000 đồng cho ông Công. Do cụ Lượm không giao trả nhà như đã cam kết, ngày 06/6/2002 cụ Đức, cụ Hạnh khởi kiện yêu cầu cụ Lượm trả lại nhà đất, ngày 22/16/2002 Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết.

Xét thấy: Căn cứ vào lời trình bày của vợ chồng cụ Đức, cụ Hạnh, lời khai của nhân chứng ông Đinh Hồng Sơn, là cán bộ tiếp nhận và trả hồ sơ thuộc văn phòng Uỷ ban nhân dân huyện Hóc Môn (BL427,428); giấy uỷ quyền nhà và đất của cụ Đức, cụ Hạnh cho cụ Lượm ký ngày 27/01/1997 và cam kết ngày 25/11/2001  của cụ Lượm có đủ cơ sở hợp đồng tặng cho nhà số 47/5 ấp 2, xã Xuân Thời Sơn, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 16/01/1998 từ vợ chồng cụ Đức, cụ Hạnh sang cho cụ Lượm chỉ là giả cách như Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã nhận định tại phiên toà Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ngày 02/8/2005 , vì : Không phản ánh đúng ý chí chủ quan đích thực của cụ Đức, cụ Hạnh và cụ Lượm. Thực tế cụ Đức, cụ Hạnh vẫn ở tại căn nhà đó và sử dụng một phần nhà đất, nhưng Toà án cấp phúc thẩm lại công nhận hợp đồng tặng cho là không đúng. Lẽ ra, Toà án cấp phúc thẩm phải xác định giao dịch trên là vô hiệu và huỷ hợp đồng tặng cho nhà đề ngày 16/01/1998 giữa vợ chồng cụ Đức với cụ Lượm; buộc cụ Lượm, bà Linh, ông Công trả lại toàn bộ căn nhà số 47/5 ấp 2, xã Xuân Thời Sơn, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh cho cụ Đức, cụ Hạnh và buộc cụ Đức, cụ Hạnh thanh toán lại cho cụ Lượm, ông Công, bà Linh những khoản mà cụ Lượm, ông Công, bà Linh đã xây dựng, sửa chữa thêm mới đúng.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1 Kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 122/2006/DS-PT ngày 07/4/2006 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh .

Đề nghị Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ bản án dân sự phúc thẩm nêu trên; giao hồ sơ vụ án cho Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh xét xử lại phúc thẩm theo đúng quy định của pháp luật.

2. Tạm đình chỉ thi hành bản án phúc thẩm nêu trên đến khi có kết quả xét xử giám đốc thẩm./.

______________________________

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

+ Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 122/2006/DSPT ngày 07-04-2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh về vụ án đòi nhà đất và giấy tờ nhà đất giữa nguyên đơn cụ Nguyễn Văn Đức và cụ Lê Thị Hạnh với bị đơn là cụ Nguyễn Thị Lượm: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn Công, và bà Nguyễn Thị Mỹ Linh.

+ Giao hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật./.

 (Còn tiếp)

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi