Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm về các tội xâm phạm sở hữu (phần I)

1. Kháng nghị giám đốc thẩm Số 27/VKSNDTC-V3 ngày 17-3-2003 đối với vụ án: Quách Thị Bích Tuyên phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

 Xét bản án hình sự phúc thẩm số 1748/HSPT ngày 18/10/2001 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt:

 

1- Quách Thị Bích Tuyên sinh năm 1963; trú tại: ấp Thanh Phước 1, xã  Trung An, huyện Thốt Nhốt, tỉnh Cần Thơ về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

 

2- Nguyễn Văn Hoà sinh năm 1960; trú tại: ấp Thanh Phước 1, xã Trung An, huyện Thốt Nhốt, tỉnh Cần Thơ về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN”

 

Nhận thấy:

 

Doanh nghiệp tư nhân Hiệp Thành Hưng ở Cần Thơ do Quách Thị Bích Tuyên là chủ được Uỷ ban nhân dân tỉnh Cần Thơ cấp giấy phép thành lập số 012109/GP-TLDN-01 ngày 19-6-1995 với ngành nghề chế biến lương thực.

 

Trong quá trình kinh doanh vợ chồng  Quách Thị Bích Tuyên và Nguyễn Văn Hoà đã ký nhiều hợp đồng kinh tế với các đơn vị kinh tế Nhà nước và tư nhân trong và ngoài tỉnh để nhận hàng, ứng tiền mà không thực hiện hợp đồng. Ngoài ra, bị cáo Tuyên còn vay tiền của nhiều cá nhân chiếm đoạt rồi bỏ trốn. Tổng số tiền lừa đảo và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt là 10.978.742.080 đồng trong đó của các đơn vị kinh tế Nhà nước là 5.536.500.000 đồng, của công dân là 5.442.242.080 đồng. Cụ thể như sau:

 

1- Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: Ngày 10-3-1999 ông Vưu Chấn Hùng là giám đốc công ty Ninh Kiều ký hợp đồng kinh tế số 14 với Nguyễn Văn Hòa là đại diện doanh nghiệp tư nhân Hiệp Thành Hưng với nội dung: Công ty Ninh Kiều bán cho Hoà là 600 tấn gạo 10% tấm giá 2.900.000đ/tấn thành tiền 1.870.500.000 đồng; Hoà  phải thanh toán cho công ty Ninh Kiều 100% tiền mặt, sau 5 ngày. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, phía Công ty Ninh Kiều đã giao cho Nguyễn Văn Hoà 600 tấn gạo và số gạo này sau khi nhận Tuyên và Hoà đã giao cho xí nghiệp 347 công ty Sông Hồng quân khu 3 để trừ nợ mà không trả tiền cho công ty Ninh Kiều.

 

Mặc dù hợp đồng số 14 nêu trên chưa thanh toán tiền cho Công ty Ninh Kiều nhưng Công ty Ninh Kiều lại tiếp tục ký hợp đồng kinh tế số 15 mua của Doanh nghiệp tư nhân Hiệp Thành Hưng 500 tấn gạo 15% tấm với giá 2.760.000đ/tấn, trị giá là 1.380.000.000 đồng. Theo hợp đồng Công ty Ninh Kiều đã ứng trước cho Doanh nghiệp Hiệp Thành Hưng số  tiền là 1.204.000.000 đồng, nhưng vẫn không nhận được giao.

 

Như vậy, thông qua việc ký kết 2 hợp đồng kinh tế nói trên, Quách Thị Bích Tuyên và Nguyễn Văn Hoà đã chiếm đoạt của Công ty Ninh Kiều là 3.070.500.000 đồng.

 

Ngoài ra Tuyên còn lợi dụng lòng tin của 157 người vay mượn tiền rồi chiếm đoạt 5.442.242.080 đồng.

 

2- Hành vi lừa đảo chiến đoạt tài sản: Cuối năm 1997 biết không có khả năng thanh toán nợ, nhưng Quách Thị Bích Tuyên vẫn dùng mọi thủ đoạn liên hệ với các đơn vị kinh tế ngoài tỉnh để ký hợp đồng nhằm chiếm đoạt tài sản, cụ thể là:

 

Ngày 2-4-1999 thông qua Trần Văn Danh phó giám đốc xí nghiệp bao bì thuộc Công ty lương thực An Giang, Tuyên ký hợp đồng số 10 với Nguyễn Thị Hồng – giám đốc xí nghiệp bao bì thuộc công ty lương thực An Giang với nội dung: Quách Thị Bích Tuyên đại diện doanh nghiệp tư nhân Hiệp Thành Hưng bán cho xí nghiệp bao bì 1.000 tấn gạo 25% tấm trị giá là 2.650.000.000 đồng  và được ứng trước số tiền là: 1.590.000.000 đồng.

 

Cùng ngày hai bên tiếp tục ký hợp đồng số 11 với nội dung: Doanh nghiệp tư nhân Hiệp Thành Hưng bán cho xí nghiệp bao bì 500 tấn gạo trị giá là 1.460.000.000 đồng và được ứng trước số tiền.

 

Thực hiện hợp đồng vào ngày 3-4-1999 Tuyên đến xí nghiệp bao bì nhận số tiền được ứng theo 2 hợp đồng là 2.466.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền Tuyên sử dụng trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn thương tín chi nhánh tại Cần Thơ là 1.080.000.000 đồng và trả cho xí nghiệp 347 thuộc công ty Sông Hồng – quân khu 3 số tiền là 600.000.000 đồng. Số tiền còn lại Tuyên và Hoà chiếm đoạt rồi bỏ trốn. Đến ngày 12-6-1999 thì Tuyên bị bắt và đến ngày 1-2-2000 thì Hoà ra đầu thú.

 

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 92/HSST ngày 28 tháng 4 năm 2001, Toà án nhân dân  tỉnh Cần Thơ áp dụng khoản 4 Điều 140; khoản 4 Điều 139; khoản 1 Điều 46; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt Quách Thị Bích Tuyên 20 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và 12 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt buộc Tuyên phải chấp hành chung cho cả 2 tội là 20 năm tù.

 

áp dụng khoản 3 Điều 135; khoản 3 Điều 38; Điều 44 Bộ luật hình sự  năm 1985, xử phạt Nguyễn Văn Hoà 3 năm tù về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 5 năm.

 

áp dụng Điều 41, 42 Bộ luật hình sự năm 1999.

 

1- Buộc hai bị cáo phải liên đới bồi thường cho:

 

a) Công ty Ninh Kiều Cần Thơ là 3.070.500.000đồng

 

b) Công ty lương thực An Giang là 2.466.000.000đồng

 

c) Bồi thương cho các cá nhân khác là 5.442.242.080 đồng

 

2- Buộc  Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn công thương chi nhánh Cần Thơ giao nộp lại số tiền là 1.080.000.000đồng.

 

3- Buộc xí nghiệp 347 thuộc công ty Sông Hồng, quân khu 3 giao nộp lại số tiền là 600.000đồng.

 

4- Tiếp tục quản số tiền 125.485.800 đồng.

 

5- Tiếp tục kê biên, phát mại tài sản … Các tài sản thu được giao cho cơ quan thi hành án để thi hành cho tất cả các đơn vị và cá nhân là bị hại trong vụ án.

 

6- Giao cho Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn công thương  chi nhánh Cần Thơ những giấy tờ thế chấp tài sản theo hợp đồng thế chấp tài sản theo hợp đồng thế chấp đã ký (ngoài số tài sản bị kê biên).

 

Ngày 8-5-2001 Quách Thị Bích Tuyên kháng cáo xin giảm hình phạt và phát mại số tài sản hiện có để trả nợ.

 

Ngày 3-5-2001 bà Nguyễn Thị Hồng đại diện cho xí nghiệp bao bì thuộc Công ty lương thực An Giang kháng cáo xin được nhận số tiền Ngân hàng thương mại cổ phần và xí nghiệp 347 nộp lại và buộc bị cáo phải trả tiền lãi suất của số tiền vay Ngân hàng mà bị cáo chiếm đoạt.

 

Ngày 4-5-2001 Công ty lương thực An Giang, kháng cáo yêu cầu xét lại phần dân sự, trả cho công ty lương thực số tiền thu từ ngân hàng thương mại cổ phần là 1.080.000.000 đồng và thu từ xí nghiệp 347 công ty Sông Hồng là 600.000.000 đồng và được tính lãi suất của số tiền bị chiếm đoạt.

 

Ngày 8-5-2001 Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn công thương chi nhánh Cần Thơ có đơn kháng cáo không phải nộp lại số tiền 1.080.000.000 đồng, hoặc được ưu tiên thanh toán nợ khi phát mại tài sản mà Tuyên đã thế chấp.

 

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 1748/HSPT ngày 18-10-2001, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình sự, sửa về phần trách nhiệm dân sự, cụ thể là:

 

+ Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn công thương chi nhánh Cần Thơ không phải giao nộp lại 1.080.000.000 đồng.

 

+ Bác yêu cầu tính lãi suất trên số tiền bị cáo Tuyên phải bồi thường của công ty lương thực An Giang và bà Nguyễn Thị Hồng.

 

Xét thấy:

 

Các khoản tiền 1.080.000.000đ và 600.000.000 đồng mà bị cáo Quách Thị Bích Tuyên trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn công thương chi nhánh  tại Cần Thơ và xí nghiệp 347 là tiền do hành vi lừa đảo của Tuyên chiếm đoạt của công ty lương thực An Giang, do vậy số tiền này phải được thu hồi trả lại cho Công ty lương thực An Giang.

 

Toà án cấp sơ thẩm tuyên tiếp tục kê biên phát mại tài sản trong đó có cả 2 khoản tiền do 2 đơn vị trên giao nộp để chia đều cho các bị hại và nguyên đơn dân sự là không đúng vì công ty lương thực An Giang là đơn bị chiếm đoạt số tiền trên.

 

Toà án cấp phúc thẩm không buộc Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn công thương chi nhánh tại Cần Thơ giao nộp 1.080.000.000 đồng là không phù hợp với Điều 41 Bộ luật hình sự  và không xem xét kháng cáo của công ty lương thực An Giang đối với khoản tiền 600.000.000 đồng là vi phạm Điều 214 Bộ luật tố tụng hình sự vì đã bỏ sót kháng cáo.

 

Vì các lẽ trên,

 

 Quyết định:

 

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 1748/HSPT ngày 18/10/2001 của Tòa phúc thẩm Toà án nhân dâ tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh.

 

 Đề nghị Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ phần quyết định dân sự: “không buộc Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn công thương chi nhánh tại Cần Thơ giao nộp 1.080.000.000 đồng” để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của bản án hình sự phúc thẩm nêu trên để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật đối với kháng cáo của Công ty lương thực An Giang về khoản tiền 1.080.000.000 đồng và khoản 600.000.000 đồng.

 

__________________ 

 

 -  Lý do kháng nghị huỷ một phần bản án hình sự  phúc thẩm :

 

+ Số tiền bị cáo đã chiếm đoạt không phải trả lại cho chủ sở hữu là không đúng pháp luật.

 

+ Toà án cấp phúc thẩm còn bỏ sót kháng cáo.

 

 - Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

 

 Tại quyết định giám đốc thẩm số 22/HĐTP-HS ngày 6-11-2003 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã quyết định: “Huỷ quyết định của bản án hình sự phúc thẩm số 748/HSPT ngày 18-10-2001 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh về việc “không buộc Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn công thương chi nhánh tại Cần Thơ phải giao nộp lại 1.080.000.000 đồng” để Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật đối với kháng cáo của Công ty lương thực An Giang về khoản tiền 1.080.000.000đ và khoản 600.000.000 đồng” với nhận định như kháng nghị nêu trên.

 

 

 

2. Kháng nghị giám đốc thẩm số 12/VKSTC-V3 ngày 4-4-2003 đối với vụ án Nguyễn Văn Hùng phạm tội: “trộm cắp tài sản”

 

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 130/HSPT ngày 11-7-2002 của Toà án nhân dân  tỉnh Đắc Lắc xử phạt Nguyễn Văn Hùng; sinh năm 1968; trú tại tổ 4, khối 10 thị trấn Buôn Hồ, Huyện KrôngBuk, tỉnh Đăk Lăk về tội “trộm cắp tài sản”.

 

Nhận thấy:

 

Vào khoảng 18h ngày 27-11-2001 Nguyễn Văn Hùng đến thôn Mỹ An II, xã Đoàn Kết, huyện Krông Buk, tỉnh Đắc Lăk đánh bả chó để bắt trộm đem đi bán. Khi Hùng đi qua nhà ông Nguyễn Cụt thấy có một con chó, Hùng ném miếng mồi  đã tẩm thuốc Natriyanua cho chó nhà ông Nguyễn Cụt và chó nhà ông Nguyễn Cụt ăn phải chạy vào nhà lăn ra chết. Gia đình ông Cụt phát hiện được tên Hùng nên bắt giữ cùng với tang vật: 1 đèn pin, bao xác rắn và tám miếng mồi tẩm hoá chất Natriyanua đem giao nộp cho công an xã Đoàn Kết, huyện Krông Buk.

 

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Văn Hùng khai nhận bằng thủ đoạn như trên từ năm 2000 đến tháng 11-2001 Hùng đã bắt trộm 14 con chó đem bán cho Chu Văn Luận 10 con được 900.000đồng còn 2 con bán cho Trần Đức Hạng được 150.000đồng.

 

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 26/HSST ngày 7-5-2002, Toà án nhân dân  huyện Krông Buk áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn Hùng 24 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”.

 

Ngày 20-5-2002 Nguyễn Văn Hùng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

 

Tại bản án hình sự phúc thẩm 130/HSPT ngày 11-7-2002, Toà án nhân dân  tỉnh Đăk Lăk  giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với Nguyễn Văn Hùng.

 

Xét thấy:

 

Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm kết án Nguyễn Văn Hùng về tội “trộm cắp tài sản” là có căn cứ và đúng pháp luật. Song việc xác định các tình tiết về nhân thân của bị cáo tại các tài liệu có trong hồ sơ vụ án còn có nhiều mâu thuẫn chưa được làm rõ đó là: Tại lý lịch bị can và tại bản kết luận điều tra số 11/KLĐT ngày 25-1-2002 của công an huyện Krông Buk thì Nguyễn Văn Hùng có 3 tiền án vào các năm 1991, 1993 và 1995, đều bị Toà án nhân dân  huyện Krông Buk xử phạt về tội “trộm cắp tài sản của công dân”.  Nhưng tại bản cáo trạng số 25/KSĐT –KT ngày 19-3-2002 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Buk và bản án hình sự sơ thẩm số 26/HSST ngày 7-5-2002 của Toà án nhân dân  huyện Krông Buk thì Nguyễn Văn Hùng không có tiền án. Theo công văn xác minh tại trại giam Đăk Trung (Bộ công an) số 279/KSXXHS ngày 21-6-2002 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh  Đăk Lăk và bản án hình sự phúc thẩm số 130/HSPT ngày 11-7-2002 của Toà án nhân dân  tỉnh Đăk Lăk thì Nguyễn Văn Hùng có 2 tiền án đó là: Năm 1993 bị Toà án nhân dân  huyện Krông Buk xử phạt 15 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản của công dân” và năm 1995 bị Toà án nhân dân  huyện Krông Buk xử phạt 36 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản của công dân”. Nhưng trong hồ sơ vụ án chỉ có trích lục bản án hình sự sơ thẩm số 5/HSST ngày 27-11-1995 của  Toà án nhân dân  huyện Krông Buk xử phạt Nguyễn Văn Hùng 36 tháng tù  về tội “trộm cắp tài sản của công dân”.

 

Việc xác định chính xác các tiền án của bị cáo Nguyễn Văn Hùng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc áp dụng pháp luật khi giải quyết vụ án, mà vấn đề này chưa được điều tra đầy đủ.

 

Vì các lẽ trên,

 

Quyết định:

 

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 130/HSPT ngày 11-7-2002 của Toà án nhân dân tỉnh Đăk Lăk. Đề nghị Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và bản án hình sự sơ thẩm số 26/HSST ngày 7-5-2001 của Toà án nhân dân  huyện Krông Buk đối với Nguyễn Văn Hùng để điều tra lại theo quy định của pháp luật.

 

_____________________________

 

- Lý do kháng nghị huỷ bản án phúc thẩm và sơ thẩm:

 

Chưa điều tra xác định rõ và chính xác tiền án của bị cáo.

 

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

 

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 12/HS-GĐT ngày 17-4-2003, Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao đã quyết định: “Huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 130/HSPT ngày 11-7-2002 của Toà án nhân dân  tỉnh Đăk Lăk và bản án hình sự sơ thẩm số 26/HSST ngày 7-5-2002 của Toà án nhân dân  huyện Krông Buk đối với Nguyễn Văn Hùng để điều tra lại” với nhận định như kháng nghị nêu trên.

 

 

 

3. Kháng nghị giám đốc thẩm Số 29/VKSTC-V3 ngày 7-8-2003 đối với vụ án: Bàn Thị Viện phạm tội “trộm cắp tài sản”

 

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 32/HSPT ngày 12/6/2003 của Tòa án nhân dân  tỉnh Tuyên Quang xử phạt: Bàn Thị Viện sinh năm 1972; trú tại: Xóm Đồng Giàn, xã Châu Sơn, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang về tội “trộm cắp tài sản”.

 

Nhận thấy:

 

Vào khoảng 10 giờ ngày 10-11-2002 anh Trần Xuân Mẫn đến xóm Đồng Giàn để thu mua tinh dầu xả. Sau đó anh Mẫn đến nhà anh Vi Văn Sáng ăn cơm trưa. Sau khi ăn cơm xong anh Mẫn cởi áo treo ở cột nhà anh Sáng rồi rủ anh Sáng, anh Quân và anh Đạt đánh bài ăn tiền.

 

Đến khoảng 14h cùng ngày Bàn Thị Viện bế con sang nhà anh Sáng tìm anh Đặng Văn Quân (là chồng Viện). Tại đây khi xem mọi người đánh bài Viện phát hiện áo khoác của anh Mẫn có một tập tiền thò lên miệng túi áo, Viện bế con đến gần chiếc áo này rồi rút trộm tập tiền và dấu vào trong áo đang mặc ra về. Ra đến cổng, Viện gọi chị Bàn Thị Tươi (vợ của anh Sáng) đi làm. Chị Tươi đi cùng về nhà  Viện, thấy thái độ Viện run sợ, chị Tươi hỏi: “mày lấy tiền ở túi áo à?” Viện trả lời “ừ” và bỏ toàn bộ số tiền ra đếm được 880.000đ. Sau khi Viện và Tươi đi, anh Mẫn lấy áo khoác thì phát hiện bị mất tiền và theo anh Mẫn khai thì tổng số tiền anh bị mất là 5.900.000đ. Mọi người đi tìm Viện và chị Tươi để hỏi nhưng cả 2 người đều không nhận đã lấy trộm tiền của anh Mẫn. Đến tối ngày 11/11/2002 ông Đặng Quang Hợp – Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Châu Sơn cùng vợ chồng anh Mẫn đến nhà Viện hỏi lại thì Viện thừa nhận đã lấy tiền của anh Mẫn với số tiền là 880.000đ và trả lại cho anh Mẫn.

 

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/HSST ngày 14-3-2003, Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn áp dụng khoản 1 Điều 138; các điểm h, k, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự xử phạt Bàn Thị Viện 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng.

 

Ngày 2-4-2003 anh Trần Xuân Mẫn kháng cáo đề nghị xét xử phúc thẩm buộc Viện bồi thường tiếp cho anh là  5.000.000 đồng và tăng hình phạt đối với bị cáo.

 

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 32/HSPT ngày 12-6-2003, Tòa án nhân dân  tỉnh Tuyên Quang giữ nguyên các quyết định của bản án HSST về tội danh và hình phạt đối với Bàn Thị Viện; buộc Bàn Thị Viện phải bồi thường tiếp cho anh Trần Xuân Mẫn số tiền là 5.000.000 đồng.

 

Xét thấy:

 

Quá trình điều tra, truy tố và xét xử  Bàn Thị Viện chỉ thừa nhận đã lấy trộm của anhTrần Xuân Mẫn số tiền là 880.000đ. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng là chị Bàn Thị Tươi và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án  Bàn Thị Viện về tội “trộm cắp tài sản” với số tiền là 880.000đ như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

 

Tòa án cấp phúc thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của bị hại Trần Xuân Mẫn để kết luận Bàn thị Viện đã trộm cắp của anh Mẫn số tiền 5.900.000 đồng và buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho anh Mẫn số tiền 5.000.000 đồng là không có căn cứ và không đúng pháp luật vì vi phạm nghiêm trọng Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự về giới hạn xét xử.

 

Vì các lẽ trên,

 

 Quyết định:

 

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 32/HSPT ngày 12/6/2003 của Tòa án nhân dân  tỉnh Tuyên Quang.

 

 Đề nghị Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm   đối với Bàn Thị Viện.

 

__________________ 

 

- Lý do kháng nghị huỷ bản án phúc thẩm:

 

Cáo trạng truy tố và Toà án cấp sơ thẩm xét xử kết án bị cáo trộm cắp số tiền 880.000.000 đồng. Toà án cấp phúc thẩm kết luận bị cáo trộm cắp số tiền 5.900.000 đồng và buộc  bị cáo phải bồi thường thêm 5.000.000 đồng là không đúng.

 

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

 

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 39/HS-GĐ ngày 9/9/2003, Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định: “Huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 32/HSPT ngày 12-6-2003 của Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 07/HSST ngày 14-3-2003 của Toà án nhân dân  huyện Yên Sơn như sau: áp dụng khoản 1 Điều  138; các điểm h, k, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự, xử phạt Bàn Thị Viện 6 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 12 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm” với nhận định như kháng nghị nêu trên.

 

 

 

 

 

4. Kháng nghị giám đốc thẩm Số 35/VKSTC-V3 ngày 15-10-2003 đối với vụ án: Trần Mạnh Sơn phạm tội “trộm cắp tài sản”.

 

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 94/HSPT ngày 01/8/2003 của Tòa án nhân dân  tỉnh Quảng Ninh xử phạt Trần Mạnh Sơn sinh năm 1974; trú tại: Tổ 68, khu 5a, phường Cao Xanh, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh về tội “trộm cắp tài sản”; tiền án: Tháng 3-1999 bị Toà án thị xã Phan Thiết xử phạt 12 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”.

 

Nhận thấy:

 

Khoảng 10 giờ ngày 20-8-2002 Trần Mạnh Sơn đi xe môtô DREAM đến nhà anh Nguyễn Văn Diệp ở tổ 2, khu 1, phường Hà Khẩu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Khi đến nhà anh Diệp thấy cửa nhà mở không có ai ở trong nhà, Sơn dừng xe ở cửa nhà rồi vào nhà mở ngăn tủ không khóa lấy một chùm chìa khóa trong tủ, mở cánh cửa trên ra lục soát lấy một đồng hồ nữ màu vàng trị giá 420.000đồng. Anh Nguyễn Du (em trai Diệp ở nhà ngang đi lên, phát hiện và hô hoán nên Sơn đã vứt chiếc đồng hồ xuống góc nhà, định bỏ chạy thì bị bắt giữ, thu hồi tài sản trả cho bị hại.

 

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 67/HSST ngày 11-4-2003 Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long áp dụng khoản 1 Điều 138, các điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Trần Mạnh Sơn 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

 

Ngày 16-4-2003 Trần Mạnh Sơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

 

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 94/HSPT ngày 01-8-2003 Tòa án nhân dân  tỉnh Quảng Ninh đã áp dụng Điều 138 khoản 1; các điểm g, khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự xử phạt Trần Mạnh Sơn 6 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”.

 

Xét thấy:

 

Trần Mạnh Sơn đã có một tiền án chưa được xóa án, phạm tội lần này là tái phạm. Tòa án cấp sơ thẩm phạt bị cáo 12 tháng tù là đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, nhưng còn bỏ sót tình tiết tăng nặng là tái phạm. Tòa án cấp phúc thẩm không những không áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ nào mà còn áp dụng thêm tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, nhưng lại giảm hình phạt cho Sơn là không đúng pháp luật. Vì vậy,

 

Quyết định:

 

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 94/HSPT ngày 01/8/2003 của Tòa án nhân dân  tỉnh Quảng Ninh. Đề nghị Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số 67/HSST ngày 11/4/2003 của Tòa án nhân dân  thành phố Hạ Long đối với Trần Mạnh Sơn.

 

__________________ 

 

- Lý do kháng nghị huỷ bản án hình sự phúc thẩm :

 

Toà án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 12 tháng xuống 6 tháng là không đúng.

 

 

 

-  Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

 

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 62/HS-GĐT ngày 25/11/2003, Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định: “Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 94/HSPT ngày 1-8-2003 của Toà án nhân dân  tỉnh Quảng Ninh và giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số 67/HSST ngày 11-4-2003 của Toà án nhân dân  thành phố Hạ Long đã áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Trần Mạnh Sơn 12 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” với nhận định như kháng nghị nêu trên.

 

 

 

 

 

5. Kháng nghị giám đốc thẩm Số 37/VKSTC-V3 ngày 28/10/2003 đối với vụ án Nguyễn Quang Hoá phạm tội “cướp tài sản”

 

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 912/HSPT ngày 23/6/2003, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt Nguyễn Quang Hoá, sinh năm 1978; trú tại: xã Nghi Quang, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An về tội “cướp tài sản”.

 

Nhận thấy:

 

Khoảng 20 giờ ngày 31/8/2002, Nguyễn Quang Hoá đi chơi có mang theo một con dao mác mũi nhọn, dài khoảng 60cm. Trên đường đi, Hoá gặp và rủ Trần Văn Hùng, Phan Văn Hùng, Nguyễn Ngọc Thảo và Trần Hồng Tư ra đoạn đường gần Trường cấp 2 xã Nghi Quang ngồi chơi hóng mát. Khoảng 30 phút sau, phát hiện xe máy do anh Phan Ngọc Trạch điều khiển đi đến. Hoá cầm dao ra chặn đường và Trần Văn Hùng ra giơ tay chặn xe máy của anh Trạch. Anh Trạch dừng xe lại hỏi: “Bay chặn tao có việc gì? Hoá nói: “Yêu cầu anh tắt xe máy, anh ở xóm mô?”. Anh Trạch trả lời: “ở xóm chợ Nghi Thiết”. Sau đó Hoá dùng dao chặt vào gương xe máy, tiếp đến dí dao vào cổ và sườn anh Trạch, còn Trần Văn Hùng nói: “Có tiền cho chai rượu”. Anh Trạch sợ bị đánh nên buộc phải đưa cho Hùng 15.000đồng. Sau khi gây án Trần Văn Hùng đã bỏ trốn.

 

Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, Hoá đi về nhà thì gặp anh Nguyễn Văn Liên (người cùng xã) ở dọc đường. Hai người đang đi với nhau thì gặp anh Nguyễn Võ Long (trú tại xã Nghi Quang) đi xe máy chở anh Nguyễn Xuân Thu. Hoá ra giữa đường giơ dao chặn xe và nói” “Thằng nào, đứng lại”. Anh Long sợ vứt xe máy bỏ chạy, còn anh Thu đứng lại thì bị Hoá đấm vào mặt. Sau đó Hoá đuổi theo anh Long đang chạy vào nhà anh Hoàng Trọng Dung nhưng được anh Dung cùng nhiều người khác can ngăn và  anh Long lấy xe máy chở anh Thu về xã Nghi Thiết. Khoảng 23 giờ anh Long chở anh Thu từ Nghi Thiết trở về, khi đi qua xã Nghi Quang (nơi bị Hoá chặn đường lần trước), anh Long tìm chiếc dép lúc trước bị rơi thì Hoá cầm dao đi lại. Anh Long quay xe máy bỏ chạy, anh Thu bị trượt ngã xuống xe liền bị Hoá cầm dao (dao đang ở trong vỏ bao) đánh vào hai bên tai và đầu anh Thu. Anh Liên can ngăn nên Hoá không đánh anh Thu nữa. Anh Thu không biết về đâu nên xin  về nhà anh Liên ngủ. Hoá và anh Liên đưa anh Thu đến quán nhà Trần Văn Hùng. Tại đây Hoá rút dao đe doạ anh Thu buộc anh Thu phải đưa cho Hoá 37.000 đồng.

 

Vào khoảng 23 giờ ngày 03/9/2002, anh Phan Văn Phú đi xe máy chở anh Nguyễn Văn Mỳ từ hướng Cửa Lò về. Khi đến đoạn đường trước Uỷ ban nhân dân xã Nghi Quang thì bị ngã. Thấy vậy Hoá cầm dao đến hỏi: “Bay quê ở mô mà đi xe láo vậy?”. Anh Phú trả lời “tôi quê ở Nghi Thiết” liền bị Hoá dí dao vào ngực rồi dùng dao đánh vào đầu anh Phú và nói: “tao phạt bay 200.000 đồng”. Lúc này có nhiều người dân ra can ngăn, nên Hoá bắt anh Phú chở anh Mỳ và Hoá đi cách xa khoảng 50m rồi tiếp tục đòi phải đưa đủ 200.000 đồng. Anh Phú nói chỉ có 40.000 đồng, Hoá không đồng ý nên anh Phú và anh Mỳ phải cởi 2 chiếc đồng hồ đeo tay đưa cho Hoá cùng 40.000 đồng. Sau đó Hoá còn dùng dao đâm nhẹ vào ngực và tay anh Mỳ làm chảy máu ở ngực và rách tay.

 

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 06/HSST ngày 08/1/2003, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An áp dụng khoản 1 Điều 133; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm e, g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự  xử phạt Nguyễn Quang Hoá 6 năm tù về tội “cướp tài sản”’ buộc Nguyễn Quang Hoá phải bồi thường cho anh Phan Văn Phú số tiền 200.000 đồng.

 

Ngày 16/1/2003 Nguyễn Quang Hoá kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

 

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 912/HSPT ngày 23/6/2003, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội vẫn giữ nguyên quyết định về tội danh và hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm đối với Nguyễn Quang Hoá.

 

Xét thấy:

 

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy Nguyễn Quang Hoá đã sử dụng dao mác mũi nhọn là phương tiện nguy hiểm để thực hiện hành vi phạm tội bởi vậy, hành vi của Nguyễn Quang Hoá phạm vào điểm d khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự. Nhưng Viện kiểm sát truy tố và Toà án cấp sơ thẩm kết án Nguyễn Quang Hoá theo khoản 1 Điều 133 Bộ luật hình sự là áp dụng không đúng pháp luật và xử phạt bị cáo 6 năm tù, dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, trong khi bị cáo chỉ có một tình tiết giảm nhẹ (điểm p) tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự là không đúng với quy định của pháp luật.

 

Sau khi xét xử sơ thẩm Nguyễn Quang Hoá kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, không bị kháng cáo hoặc kháng nghị theo hướng áp dụng điều khoản nặng hơn nhưng Toà án cấp phúc thẩm lại áp dụng khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự để kết án Nguyễn Quang Hoá là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng về phạm vi xét xử phúc thẩm quy định tại Điều 241 Bộ luật tố tụng hình sự.

 

Vì các lẽ trên,

 

Quyết định:

 

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 912/HSPT ngày 23/6/2003 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội. Đề nghị Hội đồng thẩm phán – Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm huỷ bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và bản án hình sự sơ thẩm số 06/HSST ngày 08/1/2003 của Toà án nhân dân  tỉnh Nghệ An để giải quyết lại vụ án từ giai đoạn điều tra (truy tố Nguyễn Quang Hoá theo điểm d khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự) theo đúng quy của pháp luật.

 

________________________

 

- Lý do kháng nghị huỷ bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm:

 

+ Viện kiểm sát truy tố và Toà án cấp sơ thẩm kết án bị cáo theo khoản 1 Điều 133 Bộ luật hình sự là áp dụng không đúng pháp luật.

 

+ Bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự nhưng Toà án cấp sơ thẩm lại xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là không đúng quy định của pháp luật.

 

+ Toà án cấp phúc thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng về phạm vi xét xử phúc thẩm.

 

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

 

 Tại quyết định giám đốc thẩm số 01/2004/HĐTP - HS ngày 23/3/2004, Hội đồng thẩm phán  Toà án nhân dân tối cao đã quyết định: “Huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 912/HSPT ngày 23/6/2003 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội và bản án hình sự sơ thẩm số 06/HSST ngày 08/1/2003 của Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An đối với Nguyễn Quang Hoá để điều tra lại theo thủ tục chung” với nhận định như kháng nghị nêu trên.

 

 

 

6. Kháng nghị giám đốc thẩm Số 02/VKSTC-V3 ngày 19-2-2004 đối với vụ án: Đinh Viết Hùng  phạm tội :"Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản"

 

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 103/HSPT ngày 27-9-2003 Tòa án nhân dân  thành phố Hải Phòng xử phạt: Đinh Viết Hùng, sinh năm 1965; trú quán: Số 115/54/143 Tôn Đức Thắng, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; tiền án: Ngày 14-12-2000 Tòa án nhân dân  quận Lê Chân xử phạt 12 tháng tù về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

 

Nhận thấy:

 

Sáng ngày 18-3-2003, Đinh Viết Hùng mượn xe đạp của anh Dương Văn Bình để lên nhà chị gái xin tiền nhưng không gặp. Sau đó Hùng bán xe đạp của Bình cho một người không quen biết được 380.000đ rồi đi Móng Cái tỉnh Quảng Ninh tìm việc làm.

 

Chiếc xe đạp của anh Dương Văn Bình trị giá khoảng từ 400.000đ đến 450.000đ.

 

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 127/HSST ngày 7-8-2003, Tòa án nhân dân  quận Lê Chân đã áp dụng khoản 1 Điều 140; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Đinh Viết Hùng 18 tháng tù về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

 

Tại Quyết định số 98/KSXXHS, ngày 21-8-2003, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đề nghị Tòa án nhân dân  thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm theo hướng không áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự và giảm hình phạt cho Đinh Viết Hùng.

 

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 103/HSPT ngày 24-9-2003, Tòa án nhân dân  thành phố Hải Phòng vẫn giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm đối với Đinh Viết Hùng.

 

Xét thấy:

 

Đinh Viết Hùng có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của anh Dương Văn Bình, trị giá tài sản là dưới 1.000.000đ. Bởi vậy chỉ riêng hành vi này của Hùng thì chưa đủ yếu tố cấu thành tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Nhưng do bị cáo đã bị kết án về tội chiếm đoạt, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm nên Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm kết án Đinh Viết Hùng về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. theo K1 Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 và xử phạt bị cáo 18 tháng tù là đúng pháp luật. Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 đối với Đinh Viết Hùng là không đúng quy định của pháp luật vì theo quy định tại khỏan 2 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 thì “những tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng”.

 

   Vì các lẽ trên,

 

 Quyết định:

 

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 103/HSPT ngày 24-9-2003 của Tòa án nhân dân  thành phố Hải Phòng. Đề nghị Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy phần quyết định áp dụng điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự của bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và của bản án hình sự sơ thẩm số 127/HSST ngày 7-8-2003 của Tòa án nhân dân  quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đối với Đinh Viết Hùng.

 

__________________

 

- Lý do kháng nghị huỷ một phần bản án hình sự phúc thẩm và bản án hình sự sơ thẩm:

 

 Một tình tiết vừa áp dụng là yếu tố định tội, vừa áp dụng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là không đúng.

 

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

 

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 26/HSST-GĐT ngày 28-4-2004, Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định: “Hủy phần quyết định áp dụng điểm g  khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự đối với Đinh Viết Hùng tại bản án hình sự phúc thẩm số 103/HSPT ngày 24-9-2003 của Tòa án nhân dân  thành phố Hải Phòng và tại bản án hình sự sơ thẩm số 127/HSST ngày 7-8-2003 của Tòa án nhân dân  quận Lê Chân” với nhận định như kháng nghị nêu trên.

 

 

 

7. Kháng nghị giám đốc thẩm Số 05/VKSTC-V3 ngày 4-3-2004 đối với vụ án: Trần Thế Vũ phạm tội :"Cướp giật tài sản của công dân"

 

 

 

Xét bản án hình sự sơ thẩm số 75/HSST ngày 30-3-1999 của Tòa án nhân dân  tỉnh Nghệ An xử phạt Trần Thế Vũ sinh năm 1975; trú tại xóm 13, xã Nghi Kim, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An về tội “Cướp giật tài sản của công dân"; tiền án: Năm 1996 bị Tòa án nhân dân  huyện Nghi Lộc xử phạt 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.

 

Nhận thấy:

 

Năm 1996 Trần Thế Vũ  thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của công dân. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 10/HSST ngày 23-4-1996 Tòa án nhân dân  huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xử phạt Trần Thế Vũ  9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

 

 Từ ngày 15-9-1997 đến tháng 1-1998 Trần Thế Vũ đã cùng đồng bọn thực hiện 10 vụ cướp giật tài sản của công dân trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

 

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 75/HSST ngày 30-3-1999, Tòa án nhân dân  tỉnh Nghệ An áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 154; điểm h khoản 1 Điều 38, điểm d, i khoản 1 Điều 39, Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1985 xử phạt Trần Thế Vũ 7 năm tù  về tội “Cướp giật tài sản của công dân". Tổng hợp hình phạt 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo tại bản án hình sự sơ thẩm số 10/HSST ngày 23-4-1996 của Tòa án nhân dân  huyện Nghi Lộc, buộc Trần Thế Vũ phải chấp hành hình phạt chung cho cả 2 bản án là 7 năm 9 tháng tù.

 

Xét thấy:

 

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 10/HSST ngày 23-4-1996, Tòa án nhân dân  huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xử phạt Trần Thế Vũ 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đến ngày 15-9-1997 Vũ phạm tội mới nhưng không phải là phạm tội trong thời gian thử thách. Bởi vậy bản án  hình sự sơ thẩm số 75/HSST ngày 30-3-1999, Tòa án nhân dân  tỉnh Nghệ An lại xác định Trần Thế Vũ phạm tội trong thời gian thử thách nên đã buộc Vũ phải chấp hành hình phạt chung cho cả 2 bản án là 7 năm 9 tháng tù là không có căn cứ và không đúng quy định của pháp luật.

 

Vì các lẽ trên,

 

 Quyết định:

 

Kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm số 75/HSST ngày 30-3-1999 của Tòa án nhân dân  tỉnh Nghệ An. Đề nghị Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy quyết định về hình phạt và tổng hợp hình phạt tại bản án hình sự sơ thẩm nêu trên để xét xử sơ thẩm lại cho đúng pháp luật.

 

_____________________

 

- Lý do kháng nghị là bản án hình sự sơ thẩm :

 

 Xác định Trần Thế Vũ phạm tội trong thời gian thử thách là không đúng nên tổng hợp hình phạt là không đúng.

 

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

 

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 06/HS-GĐT ngày 23-3-2004, Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định: “Hủy quyết định về hình phạt và tổng hợp hình phạt tại bản án hình sự sơ thẩm số 75/HSST ngày 30-3-1999 của Tòa án nhân dân  tỉnh Nghệ An để xét xử sơ thẩm lại cho đúng quy định của pháp luật” với nhận định như kháng nghị nêu trên.

 

 

 

 

 

8. Kháng nghị giám đốc thẩm Số 20/VKSTC-V3 ngày 8-11-2004 đối với vụ án: Vũ Tất Thành phạm tội “trộm cắp tài sản”.

 

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 1816/HSPT ngày 4/12/2003 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt Vũ Tất Thành sinh năm 1973; tạm trú tại: Nhà số 7, đường Tây Hồ, phường Quảng An, thành phố Hà Nội về tội “trộm cắp tài sản”.

 

Nhận thấy:

 

Cuối tháng 6/2000, Vũ Tất Thành được một người có tên là Chu Thanh Hải móc nối làm quen. Hải tự giới thiệu là Việt Kiều và nhờ Thành thuê cho một người nước ngoài có tên là David Bruce một ngôi nhà, với điều kiện ngôi nhà phải có sân thương để lắp đặt ăng ten parabol và phòng lắp đặt các thiết bị để mở văn phòng đại diện. Thành đã thuê cho David Bruce tầng 3 và được sử dụng sân thượng của ngôi nhà số 29 Xuân Diệu, phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Sau khi Thành thuê được nhà thì David Bruce đã đưa cho Thành 50.000.000đ để Thành xây tường bao quanh sân thượng, xây bệ để lắp đặt ăng ten parabol, lắp đặt 02 máy điện thoại cố đinh, trả tiền thuê nhà.

 

Tiếp sau đó David Bruce lại nhờ Thành thuê thêm cho một ngôi nhà khác để mở trung tâm đào tạo tin học, với điều kiện ngôi nhà này cách ngôi nhà số 29 Xuân Diệu, Hà Nội tối đa là 2 km. Vũ Tất Thành đã thuê cho David Bruce ngôi nhà của anh Trần Văn Thành tại số 338 Lạc Long Quân và nhà của chị Tô thị Kim Thu tại số 340 Lạc Long Quân, phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Sau đó David Bruce yêu cầu Vũ Tất Thành nhờ chị Tô Thị Kim Thu và anh Trần Văn Thành ký hợp đồng với Bưu điện thành phố Hà Nội lắp đặt 28 máy điện thoại cố định tại các ngôi nhà này, nhưng không nối các đầu dây vào máy điện thoại mà kéo đầu dây điện thoại lên tầng 2 của ngôi nhà số 340 nối vào các thiết bị viễn thông. Ngoài ra David Bruce còn đưa cho Vũ Tất Thành 65.000.000đ để Thành chi phí  cho việc lắp đặt, trả tiền cước  điện thoại trong nước, tiền thuê nhà, tiền điện, tiền cho nhân viên trông coi các thiết bị viễn thông.

 

Vào tháng 7 năm 2000 David Bruce và người phiên dịch có tên là Hiền đã vận chuyển ăng ten parabol và các thiết bị viễn thông đến lắp đặt tại các ngôi nhà số 29 Xuân Diệu, 340 Lạc Long Quân, Hà Nội và đưa các thiết bị này vào hoạt động tự động.

 

Cuối tháng 8 năm 2000, anh Phan Triều Dương quyền giám đốc Công ty tư vấn tài chính Tân Việt (là đơn vị sử  dụng tầng 2 của ngôi nhà số 29 Xuân Diệu, Hà Nội), phát hiện tại tầng 3 và sân thượng của ngôi nhà nêu trên có lắp đặt ăngten và các máy móc, thiết bị nên anh Dương đã nhắc nhở, cảnh báo là có thể những máy móc, thiết bị này dùng để thu các cuộc gọi điện thoại quốc tế về Việt Nam nhưng Thành vẫn tiếp tục trả tiền cước điện thoại trong nước, tiền thuê nhà, bảo vệ các máy móc, thiết bị.

 

Ngày 25-10-2000, Thanh tra tổng cục bưu điện đã kiểm tra việc lắp đặt, sử dụng các thiết bị viễn thông tại các ngôi nhà số 29 Xuân Diệu và 340 Lạc Long Quân, Hà Nội và kết luận: Đây là cấu trúc của một mạng thiết bị viễn thông, sử dụng công nghệ mới VoiP, dùng để chuyển các cuộc gọi quốc tế từ nước ngoài vào mạng viễn thông công cộng Việt Nam không qua hệ thống kiểm soát cước quốc tế của ngành Bưu điện, nhằm thu trộm cước viễn thông.

 

Theo kết luận của Hội đồng giám định Tổng cục Bưu điện, thì từ ngày 31-8-2000 đến ngày 25-10-2000, tổng thời gian các cuộc đàm thoại từ nước ngoài về viễn thông công cộng Việt Nam, qua hệ thống thông tin lắp  đặt tại nhà số 29 Xuân Diệu, Hà Nội và tại các ngôi nhà số 338, 340 Lạc Long Quân, Hà Nội là 457.308 phút, đã gây thiệt hại cho Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam số tiền là 4.028.947.221 đồng.

 

Quá trình điều tra xác định được David Bruce quốc tịch Newzealan đã xuất cảnh ngày 22-10-2000 nên cơ quan điều tra tạm đình chỉ điều tra bị can đối với David Bruce. Đối với Chu Thanh Hải và người phiên dịch có tên là Hiền, cơ quan điều tra không xác định được các đối tượng này.

 

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 945/HSST ngày 20-11-2002, Tòa án nhân dân  thành phố Hà Nội  áp dụng điểm b khoản 4 Điều 138; các điểm b, k, p khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự, xử phạt Vũ Tất Thành 07 năm tù về tội “trộm cắp tài sản”; buộc Vũ Tất Thành phải bồi thường cho Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam số tiền là 4.028.974.221đ.

 

Ngày 25-11-2002 Vũ Tất Thành có đơn kháng cáo kêu oan.

 

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 262/HSPT ngày 21-02-2003, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội căn cứ vào khoản 1 Điều 222 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định: Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 945/HSST ngày 20-11-2002 của Tòa án nhân dân  thành phố Hà Nội để xét xử sơ thẩm lại, với lý do Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng (biên bản nghị án không ghi mức hình phạt tù).

 

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 315/HSST ngày 28-4-2003, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội áp dụng điểm b khoản 4 Điều 138; các điểm k, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, xử phạt Vũ Tất Thành 07 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; buộc Vũ Tất Thành phải bồi thường cho Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam số tiền là 4.028.974.221đ.

 

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Vũ Tất Thành có đơn kháng cáo kêu oan.

 

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 1816/HSPT ngày 04-12-2003, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội căn cứ vào Điều 222 Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định: Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 315/HSST ngày 28-4-2003 của Tòa án nhân dân  thành phố Hà Nội để điều tra lại, với lý do chưa lấy được lời khai của David Bruce và lời khai của người có tên là Hải và Hiền nên chưa rõ ý thức chủ quan của Vũ Tất Thành.

 

Xét thấy:

 

Tại cơ quan điều tra Vũ Tất Thành đã khai: được Chu Thanh Hải và Đavid Bruce nhờ thuê nhà để mở  Văn phòng đại diện, trung tâm đào tạo tin học nhưng thực tế lại không sử dụng vào các mục đích nêu trên. Thành nhận 115.000.000đ của David Bruce và đưa cho anh Nguyễn Văn Vương 70.000.000đ để trả tiền lắp đặt, tiền cước điện thoại, tiền thuê nhà. Thành thuê người xây tường bao quanh sân thượng để đặt máy móc, thiết bị, thuê người bảo vệ, sử dụng tiền do David Bruce đưa trả các khoản chi phí nêu trên, tham gia vào quá trình lắp đặt máy móc, thiết bị và được David Bruce hứa hẹn cho 100.000.000đ. Thành biết việc David Bruce lắp đặt máy móc, thiết bị là không có giấy phép của ngành Bưu điện và đã được anh Phan Triều Dương nhắc nhở, cảnh báo là có thể các máy móc, thiết bị này dùng để thu các cuộc điện thoại quốc tế về Việt Nam.

 

Mặc dù trong một số lời khai tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm Vũ Tất Thành không nhận tội, nhưng căn cứ vào các lời khai nhận nêu trên của bị cáo, lời khai của các người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận Vũ Tất Thành biết David Bruce sử dụng máy móc, thiết bị lắp đặt tại các ngôi nhà số 29 Xuân Diệu và 340 Lạc Long Quân, Hà Nội vào mục đích phạm tội. Nhưng do tư lợi (được trả công một lần 3.000.000đ và hứa hẹn cho thêm 100.000.000đ) nên Thành vẫn có hành vi giúp sức cho David Bruce, góp phần bảo đảm sự hoạt động của máy móc, thiết bị, tạo điều kiện để David Bruce chiếm đoạt tiền cước viễn thông, gây thiệt hại cho Tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam số tiền là 4.028.974.221đồng Tòa án cấp sơ thẩm kết án Vũ Tất Thành về tội “trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật.

 

David Bruce đã bỏ trốn trước khi vụ án được phát hiện, cơ quan điều tra cũng không xác định được các đối tượng có tên là Hiền và Chu Thanh Hải do đó, việc điều tra lại để lấy lời khai của các đối tượng này là không thể thực hiện được. Mặt khác, lời khai (nếu có) của các đối tượng nêu trên ngoài việc làm cho việc giải quyết vụ án được triệt để, không để lọt người phạm tội, cũng chỉ để xác định vai trò, mức độ đồng phạm đối với Vũ Tất Thành, không có lời khai của các đối tượng này cũng đủ căn cứ để kết án Vũ Tất Thành phạm tội. Bởi vậy Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm với lý do không lây được lời khai của David Bruce và các đối tượng có tên là Hiền, Hải thì không đủ căn cứ để kết án Vũ Tất Thành về tội “Trộm cắp tài sản” vì không xác định được  ý thức chủ quan của bị cáo là không phù hợp với các tình tiết khác quan của vụ án.

 

 Vì các lẽ trên,

 

 Quyết định:

 

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 1816/HSPT ngày 4/12/2003 của phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

 

Đề nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

 

__________________

 

- Lý do kháng nghị huỷ bản án phúc thẩm :

 

Có đủ căn cứ để kết án bị cáo do vậy huỷ bản án hình sự sơ thẩm để điều tra lại là không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án.

 

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

 

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 24/2004/HĐTP-HS ngày 27-12-2004 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định: “Hủy bản án hình sự phúc thẩm số  1816/HSPT ngày 4/12/2003  của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội để Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật” .

 

 

 

9. Kháng nghị giám đốc thẩm Số 05/VKSTC-V3 ngày 7-4-2005 đối với vụ án: Nguyễn Văn Hân phạm tội :"Cưỡng đoạt tài sản".

 

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 88/HSPT ngày 12-5-2004 của Tòa án nhân dân  tỉnh Khánh Hòa xử phạt Nguyễn Văn Hân sinh năm 1971; trú tại: Thôn 5, xã Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh về tội ‘Cưỡng đoạt tài sản”.

 

(Trong vụ án này còn có các bị cáo : Nguyễn Xuân Tám và Nguyễn Văn Linh đều bị kết án về tội “Cưỡng đoạt tài sản” không bị kháng nghị).

 

Nhận thấy:

 

Nguyễn Văn Hân điều khiển xe ôtô chở khách đi từ Hà Tĩnh vào thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng  5 giờ 30 phút ngày 21-6-2003 xe của Hân chạy đến cầu Già huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh thì gặp xe khách do anh Phạm Ngọc Hùng điều khiển cũng chở khách đi thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây anh Hùng thỏa thuận với Hân sẽ sang toàn bộ 19 khách đi thành phố Hồ Chí Minh ở xe của anh Hùng sang xe của Hân, giá vé mỗi khách là 40.000đ, Hân có trách nhiệm trả khách theo đúng lộ trình mà không thu thêm tiền của khách. Hân đồng ý và đã nhận đủ số tiền mà anh Hùng giao cho. Khi Hân điều khiển xe chạy đến địa phận tỉnh Quảng Bình thì Hân bảo Nguyễn Xuân Tám và Nguyễn Văn Linh (đều là phụ xe) thu thêm của số khách đã sang xe mỗi người 50.000đ nữa. Khi Tám và Linh đi thu tiền thì bị mọi người phản ứng không nộp, Tám và Linh đe dọa nếu không nộp sẽ bị đuổi xuống xe. Hành khách do sợ bị đuổi xuống xe nên phải miễn cưỡng nộp tiền cho Tám và Linh, tổng cộng số tiền  thu được là 620.000đ giao cho Hân giữ.

 

Đến khoảng 4 giờ 30 phút ngày 22-6-2003, Hân điều khiển xe chạy đến huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa thì dừng lại để giải quyết việc mất cắp trên xe. Lúc này có một số hành khách xuống xe đi đến Công an huyện Vạn Ninh tố cáo hành vi cưỡng đoạt tài sản của Hân và đồng bọn.

 

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/2004/ HSST ngày 24-2-2004, Tòa án nhân dân  huyện Vạn Ninh áp dụng khoản 1 Điều 135; các điểm b, g, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; điểm h, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn Hân 18 tháng tù, Nguyễn Xuân Tám 15 tháng tù, Nguyễn Văn Linh 15 tháng tù đều về tội "Cưỡng đoạt tài sản".

 

Ngày 8 và ngày 9-3-2004 Nguyễn Văn Hân, Nguyễn Xuân Tám và Nguyễn Văn Linh đều kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

 

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 88/HSPT ngày 12-5-2004, Tòa án nhân dân  tỉnh Khánh Hòa áp dụng  khoản 1 Điều 135, các điểm b, g, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; điểm h, khoản 1 Điều 48, Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn Hân 15 tháng tù, Nguyễn Xuân Tám 15 tháng tù và Nguyễn Văn Linh 12 tháng tù đều về tội "Cưỡng đoạt tài sản".

 

Xét thấy:

 

Theo các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì Nguyễn Văn Hân, Nguyễn Xuân Tám và Nguyễn Văn Linh  thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản của hành khách đi xe trên địa phận tỉnh Quảng Bình. Theo quy định tại khoản 4 Điều 110 Bộ luật tố tụng hình sự thì cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra vụ án hình sự này là cơ quan điều tra cấp huyện của Công an tỉnh Quảng Bình, nơi xảy ra tội phạm. Việc Cơ quan điều tra Công an huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa  là nơi phát hiện ra tội phạm tiến hành điều tra  vụ án là trái với quy định nêu trên.

 

Trong vụ án này, Nguyễn Văn Hân là tên chủ mưu, chỉ huy Nguyễn Xuân Tám và Nguyễn Văn Linh thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản vì vậy, Hân là tên phải bị xử phạt nghiêm khắc hơn đồng bọn. Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xử phạt Hân bằng mức hình phạt của Nguyễn Xuân Tám (15 tháng tù) là đánh giá không đúng vai trò, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo Hân, không đảm bảo tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật.

 

Mặt khác, Nguyễn Văn Hân phạm tội khi đang chấp hành hình phạt 03 năm tù về tội "Vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm, tại bản án số 32/HSST ngày 24-7-2001 của Tòa án nhân dân  tỉnh Quảng Bình. Do thiếu sót của quá trình điều tra vụ án nên khi xét xử Nguyễn Văn Hân về tội "Cưỡng đoạt tài sản", Tòa án cấp sơ thẩm không biết Hân phạm tội mới trong thời gian thử thách nên không buộc bị cáo Hân chấp hành hình phạt 3 năm tù của bản án hình sự sơ thẩm số 32/HSST ngày 24-7-2001 của Tòa án nhân dân  tỉnh Quảng Bình và tổng hợp với hình phạt 15 tháng tù về tội "Cưỡng đoạt tài sản" đối với Nguyễn Văn Hân là trái với quy định tại khoản 5 Điều 60 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

 

Mặc dù, các Cơ  quan tiến hành tố tụng huyện Van Ninh và tỉnh Khánh Hòa có những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng như đã nêu trên, nhưng xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm xử phạt Nguyễn Xuân Tám 15 tháng tù và Nguyễn Văn Linh 12 tháng tù là tương xứng với vai trò, mức độ phạm tội của từng bị cáo. Mặt khác, Nguyễn Xuân Tám và Nguyễn Văn Linh đã chấp hành xong hình phạt tù, nên không cần thiết phải tiến hành điều tra, truy tố xét xử lại đối với Tám và Linh.

 

Vì các lẽ trên,

 

Quyết định

 

Kháng nghi bản án hình sự phúc thẩm số 88/HSPT ngày 12-5-2004 của Tòa án nhân dân  tỉnh Khánh Hòa phần quyết định đối với Nguyễn Văn Hân.

 

Đề nghị Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy các quyết định đối với Nguyễn Văn Hân của bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và bản án hình sự sơ thẩm số 07/2004/HSST ngày 24-2-2004 của Tòa án nhân dân  huyện Vạn Ninh để điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật.

 

__________________

 

- Lý do kháng nghị để huỷ một phần bản án hình sự phúc và sơ thẩm:

 

- Điều tra vụ án không đúng thẩm quyền.

 

- Hình phạt 15 tháng tù không tương xứng với tính chất, vai trò và mức độ của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.

 

- Bị cáo phạm tội mới trong thời gian thử thách của  án treo nhưng không tổng hợp với hình phạt của bản án mới là trái với quy định của pháp luật.

 

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

 

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 12/HS-GĐT ngày 7-6-2005, Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định: “Hủy quyết định đối với Nguyễn Văn Hân tại bản án hình sự phúc thẩm số 88/HSPT ngày 12-5-2004 của Tòa án nhân dân  tỉnh Khánh Hòa và bản án hình sự sơ thẩm số 07/HSST ngày 24-2-2004 của Tòa án nhân dân  huyện Vạn Ninh để điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật” với nhận định như nội dung của kháng nghị nêu trên.

 

 

 

10. Kháng nghị giám đốc thẩm Số 09/VKSTC-V3 ngày 30/5/2005 đối với vụ án Nguyễn Thị Quế phạm tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

 

Xét bản án hình sự sơ thẩm số 160/HSST ngày 29/6/2001 của Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt Nguyễn Thị Quế sinh năm 1957; trú tại: khối 10, phường Trường Thi, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

 

Nhận thấy:

 

Trong khoảng thời gian từ năm 1994 – 1996, Đặng Quốc Vinh là kỹ sư xây dựng Công ty xây dựng số 6 thuộc Bộ xây dựng được Công ty giao nhiệm vụ thi công một số công trình xây dựng, trong đó có khách sạn Hoà Bình tại thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An. Tại đây Đặng Quốc Vinh đã bàn và hợp tác với Nguyễn Thị Quế huy động vốn xây dựng công trình. Vinh cùng Quế đến nhiều gia đình quen biết đặt vấn đề vay tiền, nhưng vì các hộ này không có tiền mặt cho vay nên các hộ dùng hồ sơ nhà đất của mình thế chấp cho Chi nhánh Ngân hàng Công thương Nghệ An để vay tiền, sau đó cho Quế và Vinh vay lại. Do không quen làm các thủ tục vay tiền tại Ngân hàng nên các hộ này đã nhờ Quế làm giúp các thủ tục xin vay. Mọi thủ tục xin vay đều được các hộ ký khống chỉ tại nhà do cán bộ Ngân hàng đưa đến, các hộ còn ký cả vào phiếu chi và bảng kê lĩnh tiền. Số tiền vay được là 1.495.000.000 đồng, Quế dùng để trừ nợ tại Ngân hàng 875.000.000 đồng đối với khoản tiền do Quế vay trước đó, còn lại 620.000.000 đồng Quế đưa cho Đặng Quốc Vinh để xây dựng khách sạn Hoà Bình. Sau đó do không có khả năng trả nợ nên Quế đã bỏ trốn, đến ngày 06/4/1999 bị bắt theo lệnh truy nã.

 

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 160/HSST ngày 29/6/2001, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm i khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Thị Quế 16 năm tù về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

 

áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự; Điều 612 Bộ luật dân sự buộc Nguyễn Thị Quế phải bồi thường cho Ngân hàng Công thương Việt nam (do chi nhánh Ngân hàng Công thương Nghệ An đại diện) 1.495.000.000 đồng.

 

áp dụng Điều 146 Bộ luật dân sự buộc Chi nhánh Ngân hàng Công thương Nghệ An đại diện cho Ngân hàng Công thương Việt Nam phải trả đầy đủ các giấy tờ dùng làm tài sản thế chấp cho các hộ: Vũ Thị Nhung, Hồ Thị Liên, Lê Thị Hằng, Hồ Thị Thu, Nguyễn Thanh Chương, Nguyễn Thị Bình, Cao Xuân Nghĩa và Đoàn Văn Lượng.

 

Ngày 13/7/2001 Nguyễn Thị Quế kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

 

Ngày 20/12/2001 Nguyễn Thị Quế rút đơn kháng cáo.

 

Ngày 16/02/2002, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội ra Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.

 

Xét thấy:

 

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà sơ thẩm Nguyễn Thị Quế khai không thống nhất về việc Quế đưa cho Đặng Quốc Vinh số tiền 620.000.000 đồng (trong tổng số tiền 1.495.000.000 đồng vay của Ngân hàng) là để làm ăn chung hay là Quế cho Vinh vay và Đặng Quốc Vinh cũng có lời khai mâu thuẫn về việc này. Mâu thuẫn giữa các lời khai của bản thân Nguyễn Thị Quế, Đặng Quốc Vinh cũng như mâu thuẫn giữa lời khai của Quế với lời khai của Vinh về vấn đề này chưa được điều tra, xác định đầy đủ để làm rõ trách nhiệm của Đặng Quốc Vinh trong vụ án này để qua đó xác định chính xác mức độ trách nhiệm hình sự và bồi thường thiệt hại của Nguyễn Thị Quế.

 

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì các hộ dân (các bà Vũ Thị Nhung, Nguyễn Thị Bình, Lê Thị Hằng, Hồ Thị Liên, Hồ Thị Thu và các ông Cao Xuân Nghĩa, Nguyễn Thanh Chương, Đoàn Văn Lượng) có thoả thuận cho Nguyễn Thị Quế dùng giấy tờ nhà đất của họ thế chấp cho Ngân hàng để vay tiền. Tuy nhiên, về số lượng tiền thoả thuận cho Quế vay, thoả thuận ai trực tiếp nhận tiền tại Ngân hàng, thực tế ai đã nhận tiền ở Ngân hàng, quá trình lập hồ sơ vay và việc ký vào các giấy tờ trong hồ sơ vay tiền, ký nhận tiền…, thì bản thân các lời khai của Nguyễn Thị Quế đã mâu thuẫn với nhau, mâu thuẫn với lời khai của các hộ dân nêu trên và lời khai của các cán bộ Ngân hàng trực tiếp thực hiện việc lập hồ sơ vay tiền, thẩm định tính hợp pháp và giá trị của tài sản thế chấp và trực tiếp xuất tiền cho vay. Các vấn đề này chưa được điều tra, xác định một cách chính xác, đầy đủ để có cơ sở khẳng định tính hợp pháp của các hồ sơ xin vay tiền, mà việc khẳng định này ảnh hưởng quan trọng đến việc xác định tội danh của Nguyễn Thị Quế và đồng phạm (nếu có), đồng thời xác định người bị thiệt hại tài sản.

 

Mặt khác Nguyễn Thị Quế khai trong số tiền 1.495.000.000 đồng vay đượ thì Ngân hàng đã trực tiếp trừ nợ 875.000.000đồng (kể cả lãi) đốivới các khoản mà Quế vay trước, còn lại 620.000.000đồng Quế đưa cho Đặng Quốc Vinh, Vinh thừa nhận đã nhận số tiền 620.000.000đồng từ Quế, nhưng trong hồ sơ vụ án không có tài liệu thể hiện việc Vinh đã trả số tiền này cho Quế. Đây là tài sản bị chiếm đoạt mà có nên cần phải điều tra, xác định rõ để có biện pháp thu hồi trả cho người bị thiệt hại.

 

Vì các lẽ trên,

 

Quyết định:

 

Kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm số 160/HSST ngày 29/6/2001 của Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An. Đề nghị Toà Hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, huỷ toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm nêu trên để điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật.

 

__________________________

 

- Lý do kháng nghị để huỷ  bản án hình sự sơ thẩm:

 

+ Lời khai của bị cáo mâu thuẫn với lời khai của các hộ dân cho Quế mượn hồ sơ nhà đất để thế chấp Ngân hàng vay tiền và mâu thuẫn với lời khai của các cán bộ Ngân hàng trực tiếp việc lập hồ sơ vay tiền… chưa được điều tra làm rõ.

 

+Tài sản bị chiếm đoạt chưa được điều tra làm rõ để thu hồi trả cho người bị thiệt hại.

 

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

 

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 21/2005/HS – GĐT ngày 27/9/2005, Toà Hình sự Toà án nhân dân tối cao đã quyết định: “Huỷ bản án hình sự sơ thẩm số 160/HSST ngày 29/6/2004 của Toà án nhân dân  tỉnh Nghệ An để điều tra lại theo quy định của pháp luật” với nhận định như nội dung của kháng nghị nêu trên.

 

 

 

 

 

11. Kháng nghị giám đốc thẩm Số 20/VKSTC-V3 ngày 31-8-2006 đối với vụ án Nguyễn Gia Nghĩa cùng đồng bọn phạm tội :"Cướp tài sản”

 

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 530/HSPT ngày 21-4-2004 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt đối với:

 

1- Nguyễn Gia Nghĩa, sinh năm 1977; trú tại: xóm Hang Hỏa, xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.

 

2- Nguyễn Gia Tình, sinh năm 1979; trú tại: xóm Hang Hỏa, xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.

 

Đều về tội “Cướp tài sản”

 

Nhận thấy:

 

Khoảng 14h ngày 29-5-2003 Nguyễn Gia Nghĩa và Nguyễn Gia Tình (là hai anh em) cùng với các anh Nguyễn Ngọc Tùng, Nguyễn Văn Tuyền và Nguyễn Văn Đông đi đến xã Liên Minh, huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên để mua gỗ mít. Tại đây, Nghĩa và Tình gặp anh Nguyễn Văn Tài cũng là người đang đi mua gỗ mít. Do có mâu thuẫn với nhau từ trước trong việc thu mua gỗ nên Nghĩa đã chặn xe của anh Tài lại và bắt anh Tài phải nộp phạt cho Nghĩa 200.000đ với lý do mấy hôm trước anh Tài đã mua tranh gỗ mít của Nghĩa. Anh Tài không chấp nhận thì bị Nghĩa dùng tay đấm và đẩy anh Tài ngã xuống rãnh nước ven đường. Khi anh Tài đứng dậy thì Nguyễn Gia Tình lấy một xà beng mang theo từ trước dài 1,5m, có đường kính ỉ 25 lao đến đánh anh Tài, nhưng mọi người xung quanh đã giằng được xà beng của Tình. Tình tiếp tục chạy đến đống củi ven đường nhặt một chiếc gậy bằng gỗ dài khoản 1,5m rồi vụt một cái vào thắt lưng của anh Tài làm gậy bị gãy đôi. Được mọi người can ngăn nên Nghĩa và Tình không đánh anh Tài nữa, nhưng vẫn bắt anh Tài phải nộp phạt 200.000đ. Do sợ bị đánh nên anh Tài tháo chiếc đồng hồ Ra đo trị giá 800.000đ đưa cho Tình.

 

Tại bản giám định pháp y số 160/GĐPY ngày 25-6-2003, Tổ chức giám định pháp y tỉnh Thái Nguyên kết luận: Tỷ lệ thương tích của anh Tài là 2% (vĩnh viễn).

 

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 339/HSST ngày 26-12-2003, Tòa án nhân dân  tỉnh Thái Nguyên áp dụng điểm d khoản 2 Điều 133; điểm p, g khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự ; (áp dụng thêm điều 47 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Gia Nghĩa) xử phạt Nguyễn Gia Nghĩa 06 năm tù và Nguyễn Gia Tình 07 năm tù đều về tội “cướp tài sản”; buộc Nguyễn Gia Nghĩa và Nguyễn Gia Tình mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn Tài số tiền là 743.500đồng.

 

Sau khi xét xử sơ thẩm Nguyễn Gia Nghĩa và Nguyễn Gia Tình có đơn kháng cáo kêu oan. Mặc dù đơn kháng cáo của các bị cáo không đề ngày nhưng có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã Văn Hán vào ngày 5-1-2004 và Tòa án nhân dân  tỉnh Thái Nguyên nhận đơn ngày 6-1-2004.

 

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 530/HSPT ngày 21-4-2004, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội vẫn giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm đối với Nguyễn Gia Nghĩa và Nguyễn Gia Tình.

 

Xét thấy:

 

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy: Theo bản án hình sự phúc thẩm số 530/HSPT ngày 21-4-2004 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội thì các đơn kháng cáo được xem xét tại phiên tòa phúc thẩm là đơn kháng cáo đề ngày 02-10-2003 của Nguyễn Gia Nghĩa và Nguyễn Gia Tình có nội dung xin giảm hình phạt. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án không có các đơn này và nếu có thì cũng không phải là đơn kháng cáo của các bị cáo vì tại thời điểm đó vụ án chưa được xét xử sơ thẩm.

 

Thực tế là sau khi xét xử sơ thẩm, Nguyễn Gia Nghĩa và Nguyễn Gia Tình có đơn kháng cáo kêu oan và các đơn này có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã Văn Hán ngày 05-1-2004, được Tòa án nhân dân  tỉnh Thái Nguyên nhận  ngày 6-01-2004 và đã đưa vào hồ sơ vụ án.

 

Như vậy Tòa án cấp phúc thẩm đã xem xét và có quyết định đối với các đơn kháng cáo không có thực mà chưa xem xét đơn kháng cáo hợp pháp có nội dung kêu oan của các bị cáo là vi phạm quy định tại Điều 241 Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, cần phải hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên để xét xử phúc thẩm lại, xem xét đơn kháng cáo (có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã Vân Hán ngày 5-01-2004) của bị cáo, trên cơ sở xác định một cách khách quan, đúng pháp luật tính chất của hành vi phạm tội của các bị cáo, hậu quả thực tế của vụ án, vai trò, mức độ phạm tội cũng như nhân thân của các bị cáo … để quyết định mức hình phạt tương xứng đối với các bị cáo.

 

Vì các lẽ trên,

 

Quyết định:

 

Kháng nghi bản án hình sự phúc thẩm số 530/HSPT 21-4-2004 của Tòapp Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội. Đề nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

 

__________________ 

 

- Lý do kháng nghị huỷ bản án hình sự phúc thẩm:

 

+ Đã xem xét  và quyết định đối với đơn kháng cáo không có thực.

 

+ Chưa xem xét đơn kháng cáo hợp pháp của các bị cáo.

 

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

 

Tại quyết định giám đốc thẩm số 29/2006/HS-GĐT ngày 2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định: “Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 530/HSPT ngày 21-4-2004 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội để Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật” với nhận định như kháng nghị nêu trên.

 

 

 

12. Kháng nghị giám đốc thẩm Số 22/VKSTC-V3 Ngày 28-9-2006 đối với vụ án Huỳnh Văn Đúng  phạm tội “ Trộm cắp tài sản”

 

Xét bản án hình sự phúc thẩm  số 60/2006 27-3-2006, Toà án nhân dân  tỉnh  Cà Mau xử phạt Huỳnh Văn Đúng sinh năm 1984; trú tại: ấp 1, xã Thới Bình, huyện Thới Bình tỉnh Cà Mau về tội “Trộm cắp tài sản”.

 

Nhận thấy:

 

Vào đầu tháng 11-2004 do không có tiền tiêu nên Huỳnh Văn Đúng đã đem cầm chiếc xe máy để lấy tiền nhưng khi đến thời hạn chuộc xe thì Đúng không có tiền để chuộc lại. Chiều ngày 05-11-2004 khi chơi bóng chuyền với anh Bùi Vũ Lâm (người cùng ấp), Đúng thấy anh Lâm có đeo sợi dây chuyền nên mới nẩy sinh ý định chiếm đoạt sợi dây chuyền này để bán lấy tiền chuộc lại xe. Đúng lấy túi hót cát vào rồi đem về nhà chờ đến khoản 2 giờ sáng ngày 06-11-2004 cầm bọc cát đi đến chòi vuông của anh Bùi Vũ Lâm. Lúc này anh Lâm đang ngủ, Đúng mở cửa chòi (cửa không khoá) đến giường anh Lâm, tay trái cầm bọc cát, Đúng dùng tay phải giật sợi dây chuyền 3 chỉ 07 phân 06 ly vàng 18k của anh Lâm đeo ở cổ, đồng thời ném bọc cát vào mặt anh Lâm rồi bỏ chạy. Anh Lâm đuổi theo và nhận ra Đúng nên gọi anh gọi Đúng trả lại dây chuyền, nhưng Đúng không không trả bỏ trốn. Đến 17 giờ ngày 05 phút cùng ngày thì  Huỳnh Văn Đúng bị bắt, sợi dây chuyền đã được thu hồi trả lại cho anh Lâm, nhưng anh yêu cầu Đúng phải bồi thường thêm cho anh 03 phân vàng 18k (phần bị đứt).

 

Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 12/HSST ngày 11-3-2005, Toà án nhân dân  huyện Thới Bình áp dụng khoản 1 Điều 136; Điều 9; Điều 33; Điều 42; Điều 48; Điều 75 Bộ luật hình sự, xử phạt Huỳnh Văn Đúng 04 năm tù về tội “cướp giật tài sản”; tổng hợp với hình phạt 24 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 02/HSST ngày 29-12-2003 của Toà án nhân dân  huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau buộc Huỳnh Văn Đúng phải chấp hành hình phạt chung của 2 bản án là 06 năm tù; buộc bị cáo Đúng phải bồi thường tiếp cho anh Lâm 02 phân 06 ly vàng 18 K.

 

Ngày 14-3-2005 Huỳnh Văn Đúng kháng cáo xin giảm hình phạt.

 

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 104/2005/HSPT ngày 14-6-2005, Toà án nhân dân  tỉnh Cà Mau huỷ bản án sơ thẩm với lý do hành vi phạm tội của Đúng chỉ cấu thành tội “trộm cắp tài sản”.

 

Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 25/HSST ngày 18-8-2005 Toà án nhân dân  huyện Thới Bình áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, e, khoản 1 Điều 48; điểm p, g khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 49; khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 50; khoản 5 Điều 60; Điều 33; khoản 2 Điều 42 Bộ luật hình sự, xử phạt Huỳnh Văn Đúng 36 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”; tổng hợp với hình phạt 24 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 02/HSST ngày 29-12-2003 của Toà án nhân dân  huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, buộc Huỳnh  Văn Đúng phải chấp hành hình phạt chung của 2 bản án là 60 tháng tù; buộc bị cáo Đúng phải bồi thường tiếp cho anh Lâm 03 phân vàng 18K.

 

Tại kháng nghị phúc thẩm số 01/KN-PT  ngày29-8-2005, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình đề nghị Toà án cấp phúc thẩm kết án bị cáo Huỳnh Văn Đúng về tội “cướp giật tài sản”.

 

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 60/2006/HSPT ngày 27-3-2006, Toà án nhân dân  tỉnh Cà Mau giữ nguyên quyết định về tội danh và hình phạt của bản án sơ thẩm đối với Huỳnh Văn Đúng.

 

Xét thấy:

 

Lợi dụng lúc anh Bùi Vũ Lâm đang ngủ, Huỳnh văn Đúng đã giật lấy sợi dây chuyền của anh Lâm đang đeo ở cổ rồi bỏ chạy. Khi bị anh Lâm đuổi theo, Huỳnh Văn Đúng đã ném bọc cát đã được chuẩn bị từ trước vào mặt anh Lâm để tẩu thoát. Viện kiểm sát  truy tố Huỳnh Văn Đúng về tội “cướp giật tài sản” là có căn cứ, nhưng khi xét xử Toà án các cấp chỉ kết án Huỳnh Văn Đúng về tội “trộm cắp tài sản” là không phù hợp với ý thức chủ quan và hành vi phạm tội của bị cáo, là đánh giá không đúng bản chất của vụ án.

 

Hành vi phạm tội của Huỳnh Văn Đúng thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự là: “Hành hung để tẩu thoát”. Nhưng Viện kiểm sát  chỉ truy tố Huỳnh Văn Đúng theo khoản 1 Điều 136 Bộ luật hình sự là không chính xác. Do vậy, cần phải huỷ cả bản án hình sự phúc thẩm và bản án Hình sự sơ thẩm để điều tra, truy tố Huỳnh Văn Đúng về tội “cướp giật tài sản” theo điểm đ khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự.

 

Vì các lẽ trên,

 

Quyết định:

 

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 60/2006/HSPT ngày 27-3-2006 của Toà án nhân dân  tỉnh Cà Mau. Đề nghị Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm  huỷ bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và bản án Hình sự sơ thẩm số 25/HSST ngày 18-8-2005 của Toà án nhân dân  huyện Thới Bình để điều tra lại theo thủ tục chung.

 

 ______________________________

 

- Lý do kháng nghị huỷ bản án hình sự phúc thẩm và bản án Hình sự sơ thẩm:

 

Viện kiểm sát  truy tố bị cáo  về tội “cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 136 Bộ luật hình sự là không chính xác. Toà án câp sơ thẩm và phúc thẩm xét xử kết án bị cáo về tội “trộm cắp tài sản” là áp dụng không đúng pháp luật .

 

 - Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

 

 Tại quyết định giám đốc thẩm số 35/2006/HS-GĐT ngày 2-11-2006 Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao quyết định: “Huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 60/2006/HSPT ngày 27-3-2006 của Toà án nhân dân  tỉnh Cà Mau và bản án Hình sự sơ thẩm số 25/HSST ngày 18-8-2005 của Toà án nhân dân  huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau để điều tra lại theo thủ tục chung” với nhận định như kháng nghị nêu trên.

 

 

 

 

 

13. Kháng nghị giám đốc thẩm số 26/VKSTC-V3ngày 6-10-2006 đối với vụ án  Nguyễn Thị Thanh Hương phạm tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

 

Xét bản án hình sự  phúc thẩm số 134/HSPT ngày 23/3/2005 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Thị Thanh Hương, sinh năm 1968; hiện trú tại số nhà 76, tổ 14B phường Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

 

Nhận thấy

 

 Do có quan hệ buôn bán với nhau từ trước, ngày 12/6/2001 Nguyễn Thị Thanh Hương đến nhà chị Đoàn Thị Hạnh, trú tại số 22A, phố Thịnh Yên, quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội hỏi vay số tiền là 3000 USD. Tại đây Hương và chị Hạnh thoả thuận Hương sẽ để xe máy Spacy của Hương lại cho chị Hạnh quản lý để bảo đảm trả nợ và chị Hạnh đã cho Hương vay 2800 USD. Sau khi nhận được 2800 USD Hương nói với chị Hạnh cho Hương đi xe máy về nhà lấy giấy tờ xe đến giao cho chị Hạnh, nhưng Hương đã không đến giao xe cùng giấy tờ xe cho chị Hạnh mà bán chiếc xe máy này cho người khác. Đến ngày 29/1/2004, Hương bị bắt theo lệnh truy nã.

 

Tại cơ quan điều tra Hương còn khai nhận: trong năm 2001 Hương nhiều lần vay tiền của chị Hạnh với tổng số tiền là 166.574.000 đồng. Ngày 3-12-2001 Hương viết giấy xác nhận nợ chị Hạnh số tiền là 166.574.000đồng và cam kết số tiền này sẽ trả vào ngày 30-12-2001, nhưng đến hẹn Hương không trả được nợ.

 

Trong quá trình điều tra gia đình Hương đã nộp cho cơ quan điều tra số tiền 38 triệu đồng và 1800 USD để trả chị Hạnh.

 

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 407/HSST ngày 18/10/2004 Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng áp dụng khoản 1 Điều 139; điểm d khoản 2 điều 140; điều 50; điểm b, khoản 1, khoản 2 điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Thị Thanh Hương 18 tháng tù về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 60 tháng tù về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 2 tội là 78 tháng tù; buộc bị cáo phải hoàn trả cho chị Hạnh số tiền là 143.547.000 đồng.

 

Sau khi xét xử sơ thẩm Nguyễn Thị Thanh Hương kháng cáo kêu oan và chị Đoàn Thị Hạnh kháng cáo đề nghị xử tăng hình phạt đối với Hương.

 

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 134/HSPT ngày 23/3/2005, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội giữ nguyên quyết định về tội danh và hình phạt của bản án  hình sự sơ thẩm đối với Nguyễn Thị Thanh Hương.

 

Xét thấy

 

Về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Mặc dù việc vay tiền giữa Nguyễn Thị Thanh Hương với chị Đoàn Thị Hạnh không có giấy tờ xác nhận khi vay, nhưng căn cứ vào lời khai của Hương, của chị Hạnh và các giấy xác nhận nợ ngày 3/12/2001 thì Hương vẫn xác nhận vay chị Hạnh 166.547.000 đồng và cam kết trả số tiền này cho chị Hạnh. Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm xác định Nguyễn Thị Thanh Hương sau khi vay được tiền của chị Hạnh đã bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản của chị Hạnh để kết án Hương về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là chưa có cơ sở vững chắc. Bởi vì trong các ngày 5/9/2002; 9/9/2002; 21/12/2002 và 22/1/2002  Hương có mặt tại cơ quan điều tra công an thành phố Hà Nội khai báo theo yêu cầu của cơ quan điều tra, thì đồng thời cũng vào các ngày 18/9/2002; 21/10/2002 và 8/3/2003 ông Hoàng Viết Thanh cảnh sát khu vực phường Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng cũng lập biên bản xác định Hương vắng nhà. Tại biên bản ghi lời khai ngày 9/9/2002 Hương đã cung cấp cho cơ quan điều tra số điện thoại di động của Hương và số điện thoại cố định của mẹ Hương để cơ quan điều tra liên hệ. Mặt khác, theo phiếu khai báo tạm trú do bà Đinh Thị Quỳ (mẹ đẻ của Hương) trú taị số nhà 76, tổ 14, ngõ Cột Cờ, phường Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng khai báo thì từ ngày 30/10/2003 đến hết năm 2004 mẹ con Hương đến ở tại nhà bà. Theo xác nhận của ông tổ trưởng tổ dân phố nơi mẹ đẻ Hương cư trú thì Hương và con của Hương về nhà bà Đinh Thị Quỳ ở từ ngày 30/10/2002. Nhưng theo biên bản xác minh của công an quận Hai Bà Trưng ngày 13/9/2004 thì từ năm 2002 đến nay Hương lại không ăn  ở tại nhà mẹ đẻ. Ngoài ra tại biên bản xác nhận đề ngày 13/12/2004 của công ty bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh thì từ ngày 14/6/2002 đến nay Nguyễn Thị Thanh Hương vẫn là tư vấn tài chính của công ty, hàng tháng vẫn hoạt động và có thu nhập tại công ty.

 

Việc xác định tính xác thực của những vấn đề nêu trên là những căn cứ quan trọng để xem xét kết luận Nguyễn Thị Thanh Hương có bỏ trốn hay không, mà đây là dấu hiệu định tội để Tòa án các cấp kết án Nguyễn Thị Thanh Hương về tội "lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản", nhưng các vấn đề này chưa được điều tra, xác định rõ. Ngoài ra, việc xác định lý do Hương không trả được nợ cho chị Hạnh (có sử dụng số tiền vay này vào mục đích bất hợp pháp hay không?...) cũng là cần thiết để có thể kết luận chính xác về vụ án.

 

Còn đối với tội “lừa đảo chiếm  đoạt tài sản”: Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nhận thấy sau khi vay được 2800 USD Hương đã có thủ đoạn nói dối chị Hạnh là về nhà lấy giấy tờ xe để giao cho chị Đoàn Thị Hạnh quản lý, nhưng Hương đã về nhà không đến giao xe cùng giấy tờ xe cho chị Hạnh mà đã bán xe này cho người khác. Bởi vậy Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm kết án Nguyễn Thị Thanh Hương về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ.

 

Vì các lẽ trên,

 

Quyết định:

 

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 134/HSPT ngày 23/3/2005 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội và bản án hình sự sơ thẩm số 407/HSST ngày 18/10/2004 của Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng. Đề nghị Toà Hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ phần quyết định về tội danh, hình phạt đối với Nguyễn Thị Thanh Hương về tội "lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" và phần quyết định tổng hợp hình phạt của bản án hình sự phúc thẩm nêu trên; phần quyết định buộc Nguyễn Thị Thanh Hương phải hoàn trả cho bị hại số tiền 143.547.000đ và phải nộp 5.147.000đ án phí dân sự của bản án hình sự sơ thẩm nêu trên để điều tra lại theo quy định của pháp luật.

 

______________________________

 

- Lý do kháng nghị huỷ một phần bản án hình sự phúc thẩm và bản án hình sự sơ thẩm :

 

+ Các chứng cứ quan trọng để xem xét, kết luận Nguyễn Thị Thanh Hương có bỏ trốn hay không chưa được xác minh điều tra làm rõ.

 

 + Chưa xác định số tiền vay Hương có sử dụng vào mục đích bất hợp pháp hay không?

 

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

 

Tại quyết định giám đốc thẩm số 32/2006/HS-GĐT ngày 26-9-2006 Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định: “Hủy phần tội danh, hình phạt đối với Nguyễn Thị Thanh Hương về tội "lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" và phần quyết định tổng hợp hình đối với Nguyễn Thị Thanh Hương của bản án hình sự phúc thẩm  số 134/HSPT ngày 23-3-2005 của Tòa án nhân dân  thành phố Hà Nội và phần quyết định buộc Nguyễn Thị Thanh Hương phải bồi thường cho chị Đoàn Thị Hạnh 143.547.000đ  và phải nộp 5.174.000đ án phí dân sự của bản án hình sự sơ thẩm  số 407/HSST ngày 18-10-2004 của Tòa án nhân dân  quận Hai Bà Trưng để điều tra lại” với nhận định như kháng nghị nên trên.

 

 

 

14. Kháng nghị giám đốc thẩm Số 26/VKSTC-V3 Ngày 6-10-2006 đối với vụ án Đỗ Thế Ngọc phạm tội “Trộm cắp tài sản”

 

Xét quyết định giám đốc thẩm số 01/HS-GĐT ngày 02-6-2006 của Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử giám đốc thẩm đối với Đỗ Thế Ngọc, sinh ngày 22-12-1987; trú tại: Tổ 8, đường Tiền Giang 2, phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về tội “Trộm cắp tài sản”.

 

Nhận thấy:

 

Khoảng 10 giờ ngày 29-6-2005 lợi dụng gia đình ông Lê Hữu  ước đi làm vắng, Đỗ Thế Ngọc vào nhà ông Ước trộm cắp 02 lồng chim và 02 con chim cảnh trị giá là 1.060.000đ đem về nhà cất giấu thì bị Công an thị xã Bắc Giang phát hiện bắt giữ, thu hồi tài sản trả cho gia đình ông Ước.

 

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 188/HSST ngày 29-9-2005, Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều  46; Điều 69 Bộ luật hình sự  xử phạt Đỗ Thế Ngọc 08 tháng tù về tội “trộm cắp tẩin”.

 

Tại quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 01/KN-GĐT ngày 4-5-2006, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm 188/HSST ngày 29-9-2005 của Toà án nhân dân  thành phố Bắc Giang về phần quyết định hình phạt đối với Đỗ Thế Ngọc và đề nghị Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm huỷ bản án hình sự sơ thẩm số 188/HSST ngày 29-9-2005 của Toà án nhân dân  thành phố Bắc Giang (phần quyết định hình phạt), giao cho Toà án nhân dân  thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm lại để tổng hợp hình phạt của hai bản án đối với Đỗ Thế Ngọc.

 

Quyết định giám đốc thẩm số 01/HS-GĐT ngày 02-6-2006, Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang không chấp nhận kháng nghị số 01/KN-GĐT ngày 4-5-2006 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang và giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số 188/HSST ngày 29-9-2005 của Toà án nhân dân  thành phố Bắc Giang.

 

Xét thấy:

 

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 117/2005/HSST ngày 16-6-2005 của Toà án nhân dân  thị xã Bắc Giang xử phạt Đỗ Thế Ngọc 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Do Đỗ Thế Ngọc không kháng cáo, Viện kiểm sát  không kháng nghị nên bản án hình sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật. Đến ngày 29-6-2005 Đỗ Thế Ngọc tiếp tục phạm tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại mục 2 phần III Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 18-10-1990 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì : “Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên bản án cho hưởng án treo”. Như vậy, thời gian  thử thách của Đỗ Thế Ngọc được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 16-6-2005 và hành vi phạm tội ngày 29-6-2005 của Đỗ Thế Ngọc là phạm tội trong thời gian thử thách.

 

Quyết định giám đốc thẩm số 01/HS-GĐT ngày 02-6-2006, Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân  tỉnh Bắc Giang lại căn cứ vào mục 2 Phần II Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 16-11-1998 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao giữ nguyên bản án sơ thẩm vì cho rằng bản án hình sự sơ thẩm số 117/2005/HSST ngày 16-6-2005 chưa có hiệu lực pháp luật do đó, không buộc Đỗ Thế Ngọc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới là không đúng pháp luật.

 

Vì các lẽ trên,

 

Quyết định:

 

Kháng nghị quyết định giám đốc thẩm số 01/HS-GĐT ngày 02-6-2006 của Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân  tỉnh Bắc Giang. Đề nghị Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ quyết định giám đốc thẩm nêu trên và quyết định về hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm số 188/2005/HSST ngày 29-9-2005 của Toà án nhân dân  thành phố Bắc Giang đối với Đỗ Thế Ngọc để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

 

______________________________

 

- Lý do kháng nghị để huỷ quyết định giám đốc thẩm:

 

Xác định thời điểm của thời gian thử thách đối với bị cáo là không đúng nên không tổng hợp hình phạt theo quy định của pháp luật.

 

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

 

Tại quyết định giám đốc thẩm số 41/HS-GĐT ngày 22-11-2006 Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao quyết định: “Huỷ quyết định giám đốc thẩm số 01/HS-GĐT ngày 2-6-2006 của Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân  tỉnh Bắc Giang và bản án hình sự sơ thẩm số 188/2005/HSST ngày 29-9-2005 của Toà án nhân dân  thành phố Bắc Giang đối với Đỗ Thế Ngọc để xét xử sơ thẩm lại cho đúng pháp luật” với nhận định như kháng nghị nêu trên.

 

 

 

 

15- Kháng nghị giám đốc thẩm số 29/QĐ-VKSTC-V3 ngày 21-09-2009 đối với vụ án Nguyễn Hoàng Thế Bảo phạm tội “ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

 

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 164/2009/HSPT ngày 22/5/2009, Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt Nguyễn Hoàng Thế Bảo, sinh năm 1985. nơi đăng ký nhân khẩu thường trú tại 67/10A, tổ 2, khu phố Bình Dương, phường Long Bình Tân, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai về tội "lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo điểm a, khoản 1, Điều 140 Bộ luật hình sự.

 

NHẬN THẤY

 

Theo bản án hình sự phúc thẩm: vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 22/3/2008, anh Nguyễn Trương Tấn điều khiển xe môtô biến số 60L3- 4224 hiệu Drum trị giá 3.000.000đ chở anh Hà Quang Việt đến quán nước ở lề đường gần ngã tư Vũng Tàu để thuê xe ôm chở anh Việt về công viên 30-4 thuộc phường Tân Biên, thành phố Biên Hoà. Khi vào quán nước, anh Tấn hỏi thuê xe ôm đi về công viên 30-4 hết bao nhiêu tiền thì Nguyễn Hoàng Thế Bảo trả lời là 20.000 đồng và yêu cầu Tấn đưa tiền trước. Anh Tấn nói không có tiền và mở bóp cho Bảo xem.Vì nghĩ anh Tấn không có tiền mà lại thuê xe ôm nên Bảo dùng tay đấm anh Tấn 01 cái vào mặt rồi giật bóp của anh Tấn lấy đăng ký xe mồm cho vào túi áo của mình và kêu anh Tấn đưa chìa khoá xe của anh Tấn để Bảo chở anh Việt về. Anh Tấn đưa chìa khoá cho Bảo mà không có phản ứng gì. Khi Bảo chở anh Việt đi được một đoạn thì nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe môtô của anh Tấn nên đến cây xăng ngã tư Vũng Tàu đón xe ôm cho anh Việt về còn Bảo chạy xe về nhờ Phương và Tuệ (không rõ lai lịch) đem bán được 3.000.000 đồng. Phương chia cho Bảo 800.000 đồng.

 

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 25/2009/HSST ngày 12/01/2009 Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 140; điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Hoàng Thế Bảo 14 tháng tù về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".

 

Ngày 22/01/2009, bị cáo Nguyễn Hoàng Thế Bảo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

 

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 164/2009/HSPT ngày 22/5/2009 Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 140; điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Hoàng Thế Bảo 01 năm 02 tháng tù về tội "lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".

 

XÉT THẤY

 

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy: giữa Nguyễn Hoàng Thế Bảo và anh Nguyễn Trương Tấn không quen biết nhau, anh Tấn không tự nguyện giao chiếc xe môtô của mình cho Bảo mà Bảo chiếm đoạt xe môtô của anh Tấn sau khi Bảo thực hiện hành vi dùng tay đấm vào mặt anh Tấn rồi giật ví của anh Tấn lấy giấy chứng nhận đăng ký xe cất vào túi áo của mình rồi ngang nhiên lấy chiếc xe môtô biển số 60L3 - 4224 của anh Tấn về giao cho người khác bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Hành vi phạm tội của Nguyễn Hoàng Thế Bảo có dấu hiệu của tội "cướp tài sản". Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm kết án Nguyễn.Hoàng Thế Bảo về tội "lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo điểm a, khoản 1 , Điều 140 Bộ luật hình sự là không đúng tội danh nên không đánh giá đúng tính chất, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

 

Vì các lẽ trên,

 

QUYẾT ĐỊNH

 

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 164/2009/HSPT ngày 22/5/2009 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Đề nghị Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm huỷ bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và bản án hình sự sơ thẩm số 25/2009/HSST ngày 12/01/2009 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai để điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật./.

 

      ________________________________

 

- Lý do kháng nghị hủy bản án hình sự phúc thẩm:

 

+  Căn cứ vào lời khai của người bị hại và các nhân chứng, Tòa án cấp sơ thẩm kết án Nguyễn Hoàng Thế Bảo về tội “ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là không đúng với hành vi phạm tội của bị cáo, mà hành vi của bị cáo có dấu hiệu của tội “ cướp tài sản”.

 

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

 

+ Tại Quyết định giám đốc thẩm  số 09/2010/HS-GĐT ngày 30-03-2010 Hội đồng giám đốc thẩm Tòa án nhân dân tối cao quyết định: Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 164/2009/HSPT ngày 22/05/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai và một phần bản án hình sự sơ thẩm số 25/2009/HSST ngày 12-01-2009 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa về phần tội danh đối với Nguyễn Hoàng Thế bảo để điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật. Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao để giải quyết theo thẩm quyền.


16- Kháng nghị giám đốc thẩm số 33/QĐ-VKSTC-V3 ngày 03-11-2009 đối với vụ án Nguyễn Hữu Phước phạm tội “Cướp tài sản”.

 

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 1187/2009/HSPT ngày 22/7/2009 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt Nguyễn Hữu Phước sinh năm 1989 tại Trà Vinh; thường trú tại 38A ấp 4 xã Phước Kiến huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh về tội "cướp tài sản"; bị bắt tạm giam từ ngày 15/8/2008.

 

NỘI DUNG

 

Phạm Minh Đức, Phạm Văn Hân, Huỳnh Thanh Lâm, Doãn Xuân Thuận Thiện, Nguyễn Hữu Phước cùng Phạm Ngọc Hậu (Hợi), Phương Thị Kiều Oanh; Nguyễn Thị Hằng, Nguyễn Văn Nhàn, Nguyễn Hữu Linh và một thanh niên có tên gọi là "chó con" (chưa xác định được lai lịch) quen biết và thường hay chơi chung với nhau.

 

Khoảng 22h 30 phút ngày 13/8/2008, cả bọn cùng ngồi ăn uống tại ngã tư đường nội bộ trong khu tái định cư Chợ Lớn thuộc khu phố 2 phường Phú Mỹ quận 7 thành phố Hổ Chí Minh. Đến khoảng 23h cùng ngày thì Hằng ra về, số còn lại ngồi nhậu tiếp. Lúc này Hậu nhìn thấy ông Nguyễn Xuân Phong chở ông Phạm Phước Hải bằng chiếc xe gắn máy biển số 51 U9 - 3874 chạy lòng vòng ngang qua nên nảy sinh ý định chiếm đoạt xe gắn máy đem bán lấy tiền chia nhau tiêu sài. Nhàn sử dụng xe đạp mini chở Đức chạy theo xe ông Phong và ông Hải cho đến khi nhìn thấy họ dựng xe ngồi chơi ở một ngã tư cách đó khoảng 400m thì quay về báo cho cả bọn biết. "Chó con" đi tìm được 02 bóng đèn Neon và 1/2 bóng đèn túyp về chia ra làm 5 đoạn, giữ lại 1 đoạn, số còn lại đưa cho Hậu, Phước, Lâm, còn riêng Hân thì sử dụng 1 đoạn cây tràm làm hung khí. Theo yêu cầu của Hậu; Nhàn và Thiện đứng chặn lối thoát ở ngã ba bên phải, Hân chặn lối thoát bên trái, còn "chó con", Đức và Nhật xông vào vây đánh ông Phong, ông Hải. Khi thấy ông Hải bỏ chạy thì Phước cầm bóng đèn đuổi theo nhưng ông Hải đã thoát được ra ngoài.ông Phong bi Đức, "chó con", Hậu buộc phải nằm sấp và dùng bóng đèn đâm nhiều cái vào lưng để uy hiếp, đồng thời còn lục túi tìm chìa khoá xe gắn máy. Lâm ngồi trên xe và phát hiện chìa khoá xe còn đang cắm ở công tắc nên báo cho Đức biết để cùng lên xe, nổ máy tẩu thoát ra đường Phạm Hữu Lầu. Riêng Oanh chỉ đi theo và đứng nhìn nhóm của Thiện và Linh mà không tham gia.

 

Sau khi chiếm đoạt xe, Lâm chở Đức về nơi cất giấu. Do sợ Công an phát hiện nên khoảng 3h ngày 14/8/2008 Lâm đem xe bỏ tại khu đất trống gần nhà Hậu rồi cùng Đức về tỉnh Bến Tre lẩn trốn. Vào lúc 15h ngày 14/8/2008 Công an phường Phú Mỹ, quận 7 thành phố Hồ Chí Minh thu giữ được chiếc xe máy; đến 23h55 phút cùng ngày thì Lâm và Đức cùng ra Công an phường 8 thị xã Bến Tre tỉnh Bến Tre đầu thú.

 

Qua truy xét, đến ngày 15/8/2008 Công an quận 7 thành phố Hồ Chí Minh đã bắt được Phước, Hân, Thiện, riêng Hậu bỏ trốn.

 

Kết quả giám định tài sản số 961/KL-HĐĐGTTHS ngày 26/11/2008  của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng quận 7 đã xác định chiếc xe gắn máy biển số 51U9-3874 có giá trị tại thời điểm chiếm đoạt là 1.836.000 đồng. Đối với Nguyễn Văn Nhàn và Nguyễn Hữu Linh do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý mà thông báo về địa phương để xử lý hành chính. Đối với Phạm Ngọc Hậu đã bỏ trốn, cơ quan Cảnh sát điều tra đã quyết định truy nã.

 

- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 75/2009/HSST ngày 16/4/2009 của Toà án nhân dân quận 7 thành phố Hổ Chí Minh đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Phạm Minh Đức, Phạm Văn Hân, Huỳnh Thanh Lâm, Doãn Xuân Thuận Thiện, Nguyễn Hữu Phước phạm tội "cướp tài sản".

 

Áp dụng khoản 1 Điều 133, điểm g, p, khoản 1, khoản 2, Điều 46, Điều 20 Bộ luật hình sự xử phạt Phạm Minh Đức 4 năm tù; Nguyễn Hữu Phước 4 năm tù, Phạm Văn Hân 3 năm tù, Huỳnh Thanh Lâm 3 năm tù thời hạn tù cho tất cả các bị cáo đều tính từ ngày 15/8/2008.

 

Áp dụng khoản 1 Điều 133, điểm g, p khoản 1 , khoản 2 Điều 46,Điều 47; Điều 60; Điều 68 , Điều 69; Điều 71 ; Điều 70; Điều 20 Bộ luật hình sự xử phạt Doãn Xuân Thuận Thiện 1 năm 3 tháng tù (được trừ đi thời gian tạm giam tính từ ngày 15/8/2008  đến ngày 13/1l/2008) nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 2 năm 2 tháng 29 ngày. Toà còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.

 

Ngày 24/4/2009 bị cáo Nguyễn Hữu Phước có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

 

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 1187/2009/HSPT ngày 22/7/2009 Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên quyết định về tội danh và hình phạt đối với Nguyễn Hữu Phước. Đồng thời kiến nghị cấp giám đốc thẩm xem xét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm về vấn đề truy tố và xét xử bị cáo Phước và các đồng bọn trong vụ án này.

 

Tại công văn số 210/VKS-P3 ngày 14/8/2009 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí minh đã báo cáo, đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị các bản án nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm, theo hướng huỷ để điều tra lại theo thủ tục chung.

 

NHẬN THẤY

 

Tại cáo trạng số 36 ngày 19/1/2009, Viện kiểm sát nhân dân quận 7 thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo Phạm Minh Đức, Nguyễn Hữu Phước, Phạm Văn Hân, Huỳnh Thanh Lâm, Doãn Xuân Thuận Thiên về tội "cướp tài sản" theo khoản 1 Điều 133 Bộ luật hình sự và Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng điều luật trên để xét xử các bị cáo là sai lầm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật. Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận các bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm để tấn công và chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi của các bị cáo nêu trên phải bị truy tố xét xử theo điểm d khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự như quy định tại Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

 

Tại kết luận điều tra số 23 ngày 15/12/2008 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận 7 thành phố Hồ Chí Minh, cáo trạng và bản án sơ thẩm nêu trên đều có đoạn nêu "Do sợ bị phát hiện nên khoảng 3h ngày 14/3/2008 Lâm đem xe bỏ tại khu đất trống gần nhà Hậu rồi cả hai về Bến Tre lẩn trốn". Trên thực tế hai bị cáo này và các đồng phạm đều phạm tội vào ngày 13/8/2008. Như vậy, và không chính xác vì không thể bỏ trốn khi chưa phạm tội. Các bị cáo đã dùng bóng đèn tuýp đập vỡ làm hung khí đâm người bị hại nhưng . không thấy có tài liệu về giám định thương tích hoặc người bị hại từ chối giám định thương tích, hoặc yêu cầu bồi thường . . . Anh Nguyễn Phước Hải là người bị hại nhưng Toà án cấp sơ thẩm lại xác định là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quản. Toà án không giao quyết định đưa vụ án ra xét xử và bản án sơ thẩm cho người bị hại là trái với Điều 299 Bồ luật tố tụng hình sự năm 2003.

 

Toà án cấp phúc thẩm nhận định cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo theo khoản 1 Điều 133 Bộ luật hình sinh không đúng, nhưng do không có kháng nghị của Viện kiểm sát, kháng cáo của người bị hại về vấn đề này, cho nên Hội đồng xét xử kiến nghị cấp giám đốc thẩm xem xét lại bản án theo trình tự giám đốc thâm về vấn đề trên là đúng đắn.

 

Vì các lẽ trên,

 

QUYẾT ĐỊNH

 

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 1187/2009/HSPT ngày 22/7/2009 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và bản án hình sự sơ thẩm số 75/2009/HSST ngày 16/4/2009 của Toà án nhân dân quận 7 thành phố Hồ Chí Minh. Đề nghị Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, huỷ toàn bộ hai bản án nêu trên để điều tra lại theo đúng qui định của pháp luật.

 

 _______________________________

 

- Lý do kháng nghị giám đốc thẩm:

 

+ Hành vi của các bị cáo phải bị truy tố và xét xử theo điểm d khoản 2 Điều 133 BLHS. Do đó, việc Viện kiểm sát truy tố và Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 133 BLHS để xử phạt các bị cáo là không đúng với quy định của pháp luật.

 

+ Các bị cáo có dùng bóng đèn tuýp đập vỡ đâm người bị hại, nhưng trong quá trình điều tra không hỏi người bị hại có yêu cầu gì về các thương tích mà các bị cáo đã gây ra hay không và cũng không tiến hành giám định thương tật đối với người bị hại.

 

+ Ông Nguyễn Phước Hải là người bị hại nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại xác định là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là không đúng quy định của pháp luật

 

+ Khi xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp Phúc thẩm không phát hiện ra những thiếu xót nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm.

 

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

 

+ Tại Quyết định giám đốc thẩm số 06/2010/HS-GĐT ngày 10-03-2010 Hội đồng giám đốc thẩm quyết định: Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 118/2009/HSPT ngày 22-07-2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và bản án hình sự sơ thẩm số 75/2009/HSST ngày 16-04-2009 của Tòa án nhân dân quận 7, thành phố Hồ Chí Minh để điều tra lại. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải quyết theo thủ tục chung.

 

 

17- Kháng nghị giám đốc thẩm số 35/KN-VKSTC-V3 ngày 23-01-2009 đối với vụ án Phan Hồng Tiến phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

 

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 34/2009/HSPT ngày 11/02/2009  của Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang đối với Phan Hồng Tiến sinh năm 1991; Hộ khẩu thường trú ấp Vĩnh Phước II, thị trấn Vịnh Thuận, huyện Vĩnh Thuận, tinh Kiên Giang; không nghề nghiệp; văn hoá l0/12; chưa có tiền án, tiền sự; con ông Phan Hồng Tuấn và bà Trần Thị Hoa nghề nghiệp làm ruộng cùng địa chỉ; tạm giam từ ngày 30/4/2008 đến ngày 27/5/2008 bị xử phạt 09 tháng tù về tội "cưỡng đoạt tài sản".

 

XÉT THẤY

 

Khoảng 23 h 30 phút ngày 29/4/2008, sau khi uống rượu với bạn bè Phan Hồng Tiến rủ Nguyễn Đức Anh đến nhà trọ Phú Quý ở ấp Vĩnh Đông II, thị trấn Vĩnh Thuận để lấy tài sản của anh Phạm Chí Nguyện là học sinh đang ở trọ tại nhà trọ Phú Quý. Lúc đi Anh và Tiến cầm theo một cây mã tấu tự tạo Nguyễn Đức Anh dắt mã tấu vào trong người, cả hai cùng đến nhà trọ. Khi đến nhà trọ, Anh kêu cửa nhưng anh Nguyện ngủ say không thức. Anh đưa mã tấu cho Tiến cầm để trèo vào phòng của anh Nguyện, Anh kêu anh Nguyện thức dậy nhưng vẫn ngủ, Anh lục soát quần áo của anh Nguyện lấy được 1 cái bóp đưa cho Tiến đứng ở ngoài cửa. Lúc này, Tiến đưa lại cây mã tấu cho Anh cầm, mở bóp lấy trong ví được 50.000đồng tiền Việt Nam đồng và 01 tờ tiền Camphuchia loại l00đồng và đưa lại bóp cho Anh, Anh để bóp ở trên bàn rồi tiếp tục gọi anh Nguyện thức dậy, anh Nguyện thức dậy có hỏi Nguyễn Đức Anh sao vô phòng thì Anh tay cầm mã tấu hăm doạ anh Nguyện “mày nói nữa tao chém chết mẹ", nghe nói vậy anh Nguyện sợ không dám nói nữa. Tiến nhảy vào phòng, lấy chìa khoá mở cửa phòng anh Nguyện và cùng Nguyễn Đức Anh lấy được 1 chiếc điện thoại di động Nokia N72 do Trung Quốc sản xuất. Anh bỏ điện thoạt vào túi quần và kêu Tiến về, sau đó Anh đưa điện thoại cho Tiến giữ. Tiến đưa cho Anh 4.500đồng và tờ tiền Camphuchia, phần còn lại Tiến cất giữ. Ngày 30/4/2008 anh Nguyện đến Công an thị trấn Vĩnh Thuận trình báo sự việc.

 

Tại cáo trạng số 32 ngày 10/9/2008  của VKSND huyện Vĩnh Thuận truy tố Phan Hồng Tiến theo khoản 1 Điều 135 BLHS còn Đối với Nguyễn Đức Anh Công an huy Vĩnh thuận có Quyết định số 56/QĐ-XPHC ngày 9/7/2008 xử phạt hành chính hình thức cảnh cáo.

 

Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2008/HSST ngày 4/12/2008 của Toà án huyện Vĩnh Thuận áp dụng khoản 1 Điều 135, điểm g, p khoản 1 Điều 46; Điều 68, Điều 69 và Khoản 1 Điều 74 BLHS xừ phạt bị cáo Phan Hồng Tiến 09 tháng tù;

 

Ngày 16/12/2008 người đại diện hợp pháp của Phan Hồng Tiến là bà Trần Thị Hoa kháng cáo xin cho Tiến được giảm nhẹ, bị hại Phạm Chí Nguyện cũng có đơn bãi nại xin cho bị cáo Tiến được xử mức án nhẹ nhất.

 

Bản án hình sự phúc thẩm số 34/2008/HSPT ngày 11/02/2009  của Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang áp dụng khoản 1 Điều 135, điểm g, p khoản 1 Điều 46; Điều 68 và Khoản 1 Điều 74 BLHS xử phạt bị cáo Phan Hồng Tiến 09 tháng tù.

 

Với hành vi nêu trên của Phan Hồng Tiến và Nguyễn Đức Anh đến nhà trọ lục soát tư trang của anh Phạm Chí Nguyện lấy tài sản. Khi anh Nguyện thức dậy hỏi tại sao Anh vào phòng thì Anh dùng mã tấu dơ lên và có lời nói đe doạ anh Nguyện "Mày nói nữa tao chém chết mẹ". Tại Cơ quan điều tra anh Phạm Chí Nguyện khai vì sợ tên Anh chém nên không dám phản ứng. Khi Tiến và Anh đã ra khỏi phòng thì anh Nguyện mới giám kêu và đuổi theo Tiến và Anh, sau đó báo cho chủ nhà trọ và Công an. Như vậy, hành vi của Phan Hồng Tiến và Nguyễn Đức Anh đã dùng vũ lực đe doạ ngay tức khắc đối với anh Phạm Chí Nguyện nhằm chiếm đoạt tài sản nên phải được truy tố, xét xử về tội "cướp tài sản" mới đúng người, đúng tội mà bản án phúc thẩm đã có kiến nghị cần phải xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm;

 

 Vì những lẽ trên;

 

QUYẾT ĐỊNH

 

Kháng nghị giám đốc thẩm bản án hình sự phúc thẩm số 34/2008/HSPT ngày 11/02/2009  của Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang và bản án hình sự sơ thẩm số 38/2008/HSST ngày 4/2/2008 của Toà án huyện Vĩnh Thuận. Đề nghị Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm, bản án hình sự sơ thẩm nêu trên để điều tra, truy tố, xét xử lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

 

       __________________________

 

- Lý do kháng nghị huỷ bản án hình sự phúc thẩm:

 

+ Hành vi của Phan Hồng Tiến và Nguyễn Đức Anh là đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc để chiểm đoạt tài sản của người khắc. Các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm truy tố, xét xử Phan Hồng Tiến về tội “ Cưỡng đoạt tài sản” là không chính xác, là áp dụng không đúng Bộ luật hình sự

 

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

 

+ Tại Quyết định giám đốc thẩm số 32/2010/HS-GĐT ngày 24-08-2010 Hội đồng giám đốc thẩm Toà án nhân dân tối cao quyết định: Huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 34/2009/HSPT ngày 11-02-2009 của Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang và bản án hình sự sơ thẩm số 38/2008/HSST ngày 04-12-2008 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Thuận để điều tra lại. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao để giải quyết theo thủ tục chung.

 

18- Kháng nghị giám đốc thẩm số 32/QĐ-VKSTC-V3 ngày 22-10-2009 đối với vụ án Đặng Văn Tỷ Em phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

 

Xét bản án hình sự sơ thẩm số 504/2007/HSST  ngày 25/5/2007, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt Đặng Văn Tỷ Em 07 năm tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản", tổng hợp với hình phạt 24 năm 03 tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 53/2006/HSST ngày 26/5/2006 của Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 30 năm tù.

 

NỘI DUNG

 

Đặng Văn Tỷ Em đã bị xử phạt tại các bản án sau:

 

1) Bản án số 40/HSST ngày 23-29/3/2004, TAND tỉnh Hải Dương xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"

 

Bản án số 1447/PTHS ngày 30/8/2004, Tòa Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử y án sơ thẩm số 40 nêu trên.

 

2) Bản án số 64/HSST ngày 21/5!2004 của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt Đặng Văn Tỷ Em 03 năm 06 tháng tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Án đã có hiệu lực pháp luật.

 

3) Bản án số 138/HSST ngày27-28/10/2004, TAND tỉnh Hải Dương xử phạt 12 năm tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" . Án đã có hiệu lực pháp luật.

 

4) Bản án số 77/HSST ngày 27/5/2004, TAND tỉnh Hà Tây xử phạt 09 tháng tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Án đã có hiệu lực pháp luật.

 

Bản án số 33/HSST ngày 17-26/01/2005, TAND TP Hà Nội xử phạt 08 năm tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"

 

Bản án hình sự phúc thẩm số 520/2005 ngày 17/5/2005, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 08 năm tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" (y án số 33 nêu trên). Tổng hợp với 09 tháng tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" tại bản án số 77/HSST ngày 27/5/2004 của TAND tỉnh Hà Tây; 8 năm 06 tháng tù tại bản án số 1447/HSPT ngày 30/8/2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 17 năm 3 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/8/2002.

 

5) Bản án số 53/HSST ngày 03-26/5/2006, TAND tỉnh Lạng Sơn xử phạt 07 năm tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Tổng hợp với 17 năm 3 tháng tù tại bản án hình sự phúc thẩm số 520/2005 ngày 17/5/2005  của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội. Buộc Đặng Văn Tỷ Em phải chấp hành hình phạt chung là 24 năm 3 tháng tù.

 

Bản án số 1182/2006/HSPT ngày 23/11/2006, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phúc thẩm bản án số 53/HSST ngày 03-26/5/2006 của TAND tỉnh Lạng Sơn, xử phạt Đặng Văn Tỷ Em 08 năm tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Tổng hợp với 17 năm 3 tháng tù tại bản án hình sự phúc thẩm số 520/2005 ngày 17/5/2005 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội. Buộc Đặng Văn Tỷ Em phải chấp hành hình phạt chung là 25 năm 3 tháng tù.

 

6) Bản án hình sự sơ thẩm số 504/2007/HSST ngày 25/5/2007, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt Đặng Văn Tỷ Em 07 năm tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản", tổng hợp với hình phạt 24 năm 03 tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 53/2006/HSST ngày 26/5/2006 của Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 30 năm tù. án đã có hiệu lực pháp luật đối với Đặng Văn Tỷ Em.

 

XÉT THẤY

 

Bản án hình sự sơ thẩm số 504/2007/HSST ngày 25/5/2007 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt Đặng Văn Tỷ Em về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" nêu trên đã có sai lầm nghiêm trọng, tổng hợp hình phạt đối với bản án chưa có hiệu lực pháp luật, tổng hợp không hết các hình phạt của các bản án đã có hiệu lực pháp luật và áp dụng sai điều luật khi tổng hợp hình phạt đối với Đặng Văn Tỷ Em. Cụ thể như sau:

 

Thứ nhất: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 504/2007/HSST ngày 25/5/2007, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt Đặng Văn Tỷ Em 07 năm tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản", tổng hợp với hình phạt 24 năm 03 tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 53/2006/HSST ngày 26/5/2006 của Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 30 năm tù.

 

Tuy nhiên, bản án số 53/2006/HSST ngày 26/5/2006 của Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn nêu trên đã bị Viện Kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo hướng tăng hình phạt đối với Đặng Văn Tỷ Em. Tại bản án số 1182/2006/HSPT ngày 23/11/2006, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao đã chấp nhận kháng nghị, xử phạt Đặng Văn Tỷ Em 08 năm tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Tổng hợp hình phạt với bản án hình sự phúc thẩm số 520/2005 ngày 17/5/2005 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nôi là 17 năm 03 tháng tù, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 25 năm 03 tháng tủ.

 

Thứ hai: Có 02 bản án xử phạt Đặng Văn Tỷ Em đã có hiệu lực pháp luật trước ngày 25/5/2007 nhưng chưa được Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tổng hợp hình phạt tại bản án số 504/2007/HSST ngày 25/5/2007 nêu trên, đó là:

 

+) Bản án số 64/HSST ngày 21/5/2004 của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt Đặng Văn Tỷ Em 03 năm 06 tháng tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

 

+) Bản án số 138/HSST ngày 28/10/2004 của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương, xử phạt Đặng Văn Tỷ Em 12 năm tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"

 

Thứ ba: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 504/2007/HSST ngày 25/5/2007. Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng Điều 52 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt là không đúng. Vì điều 52 Bộ luật hình sự quy định về: "Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt" Vì các lẽ trên,

 

QUYẾT ĐỊNH

 

Kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm số 504/2007/HSST ngày 25/5/2007 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Đề nghị Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, huỷ một phần bản án hình sự sơ thẩm số 504/2007/HSST ngày 25/5/2007 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh để xét xử sơ thẩm lại, tổng hợp hình phạt đối với Đặng Văn Tỷ Em theo đúng quy định của pháp luật ./.

 

____________________________________

 

- Lý do kháng nghị hủy bản án hình sự sơ thẩm:

 

+ Thứ nhất: tại bản án hình sự sơ thẩm số 504/2007/HSST ngày 25-05-2007, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Đặng Văn Tỷ Em 07 năm tù về tội “ lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp với hình phạt 24 năm 03 tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 53/2006/HSST ngày 26-05-2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 30 năm tù, tuy nhiên bản án sso 53/2006/HSSt ngày 26-05-2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn nêu trên đã bị Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo hướng tăng hình phạt đối với Đặng Văn Tỷ Em . Tại bản án hình sự phúc thẩm số 1182/2006/HSPT ngày 23-11-2006, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt Đặng Văn Tỷ Em 08 năm tù về tội “ lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt đối với bản án hình sự phúc thẩm số 520/2005 ngày 17 -05-2005 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội là 17 năm 03 tháng tù, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 25 năm 03 tháng tù.

 

+ Thứ hai: có hai bản án xử phạt Đặng Văn Tỷ Em đã có hiệu lực pháp luật trước ngày 25-05-2007 nhưng chưa được Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tổng hợp hình phạt tại bản án hình sự sơ thẩm số 504/2007/HSST ngày 25-05-2007

 

+ Thứ ba: tại bản án hình sự sơ thẩm số 504/2007/HSST ngày 25-05-2007, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng Điều 52 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt là không đúng.

 

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

+ Tại Quyết định giám đốc thẩm số 05/2010/HS-GĐT ngày 10-03-2010 Hội đồng giám đốc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định: Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 504/2007/HSST ngày 25-05-2007của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về phần quyết định: “ Tổng hợp với 24 năm 03 tháng tù của bản án số 53/HSST ngày 03-26/05/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 30 năm tù” đối với Đặng Văn Tỷ Em để tiến hành tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo đúng quy định của pháp luật. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm nêu trên không bị kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật./.

19- Kháng nghị giám đốc thẩm số 23/QĐ-VKSTC-V3 ngày 19/08/2010 đối với vụ án Nguyễn Xuân Chiến phạm tội “ trộm cắp tài sản”

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 217/2009/HSPT ngày 21/8/2009 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Chiến 02 năm tù về tội “trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 38 tháng 10 ngày.

NỘI DUNG

Theo bản kết luận điều tra vụ án, Cáo trạng, bản án sơ thẩm và phúc thẩm thì nội dung và quá trình giải quyết vụ án như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 15giờ 30 phút ngày 20/10/2008, Nguyễn Xuân Chiến đi xe máy BKS 20 M2-5334 (xe của bố Chiến) chở Phạm Văn Quế ở Đồng Hỷ, Thái Nguyên đến trường đại học Nông lâm Thái Nguyên. Sau khi quan sát thấy trước bồn hoa giảng đường A có dựng nhiều xe máy, Chiến dừng xe để cạnh xe Yamaha Sirius BKS 20M1-3258 màu đỏ của chị Lý Hồng Hạnh. Chiến đi vào khu giảng đường, Quế ở lại dùng vam phá khoá mang theo phá khoá ổ điện, trộm cắp chiếc xe trên. Khoảng 3 phút sau Chiến quay lại thấy Quế đã lấy được xe. Chiến và Quế điện thoại rồi gặp nhau ở đường trách quốc lộ 3 Thái Nguyên - Lạng Sơn. Khi Chiến đến nơi, Quế gọi điện cho Hưng ở La Hiên – Võ Nhai (Chiến không biết lai lịch và địa chỉ cụ thể của Hưng) đến bán chiếc xe trên. Chiến không rõ Quế bán được bao nhiêu tiến nhưng Quế cho Chiến 500.000 đồng.

Ngày 14/6/2009 bố Chiến và anh Huấn anh rể Quế đã tự nguyện bồi thường cho chị Hạnh 14.400.000 đồng. Chị Hạnh không yêu cầu bồi thường thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Vụ thứ hai: Khoảng 14 giờ ngày 17/11/2008, Quế và Chiến hẹn nhau đi trộm cắp xe máy.Chiến đồng ý và lấy xe máy của bố chở Quế đến Uỷ ban nhân dân phường Tân Lập, thành phố Thái Nguyên. Chiến dựng xe ở nhà xe rồi đi vào trụ sở làm việc của phường. Quế ở lại dùng vam phá khoá mang theo phá khoá điện chiếc xe Jupiter màu xanh BKS 20 L4-0739 của anh Trương Xuân Thịnh. Khoảng 3-4 phút sau Chiến thấy Quế đã lấy được xe nên cũng đi theo và cả hai đem bán chiếc xe vừa trộm cắp được cho Nguyễn Trung Cường được 5.000.000 đồng. Quế chia cho Chiến 2.500.000 đồng.

Chiếc xe trị giá 22.000.000 nhưng khi thu lại được thì chỉ còn trị giá 8.000.000 đồng. Ngày 14/6/2009 Bố Chiến và anh Huấn anh rể của Quế đã thoả thuận bồi thường cho anh Thịnh 14.000.000 đồng, cùng ngày bố Chiến đã bồi thường cho anh Thịnh phần của Chiến là 7.000.000 đồng. Anh Thịnh đã nhận xe và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Vụ thứ 3: Khoảng 18 giờ ngày 18/11/2008, Quế, Chiến và Dương Đình Cường cùng xóm với Chiến rủ nhau đi trộm cắp. Chiến dừng lại dùng xe máy của Bố chở Quế và Cường đến khu nhà trọ của chị Hoa ở tổ 1, Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên. Thấy trong sân có nhiều xe máy, Chiến dừng xe cùng Cường chờ ở ngoài. Quế mở cổng vào nhà chị Hoa dùng vam phá khoá và trộm cắp chiếc xe Sirius BKS 20L6-3898 của anh Đàm Quang Xuân mang ra đưa cho Cường. Quế tiếp tục vào nhà chị Hoa trộm cắp chiếc xe Sirius màu đen bạc, BKS 20L5-8588 của anh Lâm Văn Minh.Chiến, Cường và Quế mang hai chiếc xe trên đến khu vực La Hiên, Võ Nhai bán cho Nguyễn Trung Cường được tổng cộng 9.000.000 đồng. Quế chia cho Chiến 3.500.000 đồng, Cường 2.500.000 đồng.

Chiếc xe của anh Xuân trị giá 11.000.000 đồng đã được cơ quan điều tra thu hồi và trả cho anh Xuân, Chiến đã tự nguyện bồi thường cho anh Xuân 500.000 đồng. Còn chiếc xe của Minh trị giá 17.000.000 đồng đã không thu hồi được. Ngày 16/6/2009 bố Chiến và anh Huấn anh rể của Quế đã bồi tự nguyện bồi thường cho anh Minh 17.000.000 đồng. Anh Minh và anh Xuân đều xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Vụ thứ 4: Khoảng 18 giờ ngày 25/11/2008, Chiến đi xe máy của gia đình chở Nguyễn Kiều Hưng đi chơi rồi rủ nhau đi trộm cắp. Đến một quán bán đồ điện, ở gần cầu Gia Bẩy, thành phố Thái Nguyên, Chiến mua 01 chiếc tôvít dài khoảng 30 cm và 01 chiếc choòng dài khoảng 17cm đưa cho Hưng để phá khoá xe máy. Sau đó Chiến đưa Hưng đi một số nơi trong thành phố Thái Nguyên nhưng không trộm được chiếc xe nào. Chíên và Hưng đi đến khu vực tổ 24, thị trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ thì thấy có hai chiếc xe máy dựng trước cửa nhà anh Lã Anh Dũng. Chiến đợi ở ngoài, Hưng vào dùng tô vít và choòng phá khoá chiếc xe Jupiter MX BKS 20L6-1571. Chiến và Hưng tháo gương cùng biển số và lắp biển số giả là 21 T6-5644 rồi đem chiếc xe trên đến gửi tại phòng trọ của Triệu Đình Tứ ở gần trường đại học Nông lâm Thái Nguyên (lúc đó Tứ  không biết chiếc xe là do Chiến và Hưng đã trộm cắp được). Ngày 27/11/2008 Tứ đã đem chiếc xe trên nộp cho Công an phường Tân Thịnh, thành phố Thái Nguyên. Chiếc xe  trị giá 19.000.000 đồng đã được trả lại cho anh Dũng.

Vụ thứ 5: Cùng ngày 25/11/2008, sau khi gửi chiếc xe trộm cắp được của anh Dũng và ăn cơm tối xong, Chiến rủ Hưng đi vào trường Trung cấp nghề số 1 Bộ Quốc phòng- thành phố Thái Nguyên, nơi Chiến đang theo học. Khi đi mang theo tô vít và choòng để phá khoá xe. Khi đến nơi, Chiến dựng xe cạnh xe Jupiter BKS 20L7-0957 của chị Nguyễn Thị Phương Thảo là bạn học cùng lớp với Chiến rồi vào trong lớp. Hưng ở ngoài tìm xe không khoá càng, khoá cổ để trộm cắp. Hưng và Chiến nhắn tin qua lại nhiều lần rồi thống nhất trộm cắp chiếc xe của chị Thảo. Hưng phá khoá, trộm cắp được chiếc xe của chị Thảo đi ra khu vực làng Đông, Đồng Bẩm, thành phố Thái Nguyên rồi điện thoại cho Chiến ra điểm hẹn. Chiến đến nơi thì bảo Hưng tháo biển số vứt xuống sông Cầu và lắp biển số 20L6-1571 là biển số của chiếc xe mà Chiến và Hưng đem chiếc xe của anh Dũng. Ngày 26/11/2008, Chiến gọi Hưng đem chiếc xe của chị Thảo đi bán cho Nguyễn Trung Cường được 5.500.000 đồng. Hưng cầm tiền ăn tiêu còn 4.900.000 đồng đã nộp cho cơ quan điều  tra.

Chiếc xe này đã được thu hồi và trả cho chị Thảo. Chiến và Hưng đã thoả thuận với người bị hại sửa xe máy thay thế phụ tùng hết 13.000.000 đồng để chiếc xe trở lại gần như cũ.

Trong vụ án này, Dương Đình Cường vắng mặt tại địa phương, Phạm Văn Quế bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã tách vụ án để khi nào bắt được thì xử lý sau.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 221/2009/HSST ngày 25/6/2009, Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên áp dụng điểm b, e khoản 2 Điều 138; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Xuân Chiến 24 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 04/12/2008 đến ngày 25/4/2009.

Ngày 29/6/2009, Nguyễn Xuân Chiến kháng cáo xin được cải tạo tại địa phương.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 217/2009/HSPT ngày 21/8/2009 Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã sửa một phần bản án sơ thẩm, áp dụng điểm e khoản 2 Điều 138; các điểm b, p, o khoản1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Xuân Chiến 24 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 38 tháng 10 ngày.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao xét thấy:

Thứ nhất: Toà án hai cấp tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Xuân Chiến cùng đồng bọn về các tội “trộm cắp tài sản” và tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Xuân Chiến 24 tháng tù nhưng không trừ thời gian Chiến đã bị tạm giam (04 tháng 25 ngày) vào thời han chấp hành hình phạt tù là vi phạm nghiêm trọng Điều 33 Bộ luật hình sự và mục 6 Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

Thứ hai: Chỉ trong một thời gian ngắn (một tháng 08 ngày) Nguyễn Xuân Chiến đã cùng đồng bọn gây ra 5 vụ trộm cắp 06 chiếc xe máy với tổng trị giá là 102.400.000 đồng. Trong tất cả các vụ trộm cắp này Chiến đều lấy xe máy của gia đình để chở đồng bọn đi trộm cắp. Bản thân Chiến đã thừa nhận vai trò chỉ huy, rủ rê người khác phạm tội khi khai nhận Chiến đã rủ Nguyễn Kiều Hưng trộm cắp 02 vụ, mua tô vít, choòng cho Hưng làm dụng cụ phá khoá, chỉ đạo Hưng trộm cắp bằng điện thoại di động. Hành vi phạm tội của Nguyễn Xuân Chiến tập trung nhiều tình tiết định khung tăng nặng quy định tại các điểm b và e khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự (có tính chất chuyên nghiệp; trị giá tái sản bị chiếm đoạt từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng).Ngoài ra các vụ trộm cắp ở vụ án này, trong cùng thời điểm phạm tội ở Thái Nguyên, Nguyễn Xuân Chiến còn cùng đồng bọn gây ra 02 hai vụ trộm cắp 03 chiếc xe máy (02 chiếc Jupiter và 01 chiếc Sirius, tổng trị giá 42.860.000 đồng) trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn và đang bị các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn truy cứu trách nhiệm hình sự. Nhưng khi xét xử cả Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm tỉnh Thái Nguyên đều không xem xét tình tiết này là thiếu sót.

Bởi vậy, mặc dù bị thiệt hại về mặt tài sản cơ bản đã được khắc phục, những người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho Chiến và Chiến có một số tình tiết giảm nhẹ khác nhưng việc Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên cho bị cáo được hưởng án treo rõ ràng là không nghiêm minh, không đảm bảo tính giáo dcj và phòng ngừa.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án hình sự phúc thẩm số 217/2009/HSPT ngày 21/8/2009 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, đề nghị Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao huỷ bản án phúc thẩm nêu trên để xét  xử phúc thẩm  lại theo đúng quy định của pháp luật, không cho Chiến được hưởng án treo.

_________________________________

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

+ Tại quyết định giám đốc thẩm số 12/2011/HS-GĐT ngày 21/7/2011 Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao Quyết định: Huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 217/2009/HSPT ngày 21/8/2009 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên; giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật./.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi