Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính

1-Kháng nghị giám đốc thẩm số 29/QĐ-VKSTC-V3 ngày 29-10-2010 đối với vụ án Trần Văn Thanh phạm tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của công dân”

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự đối với bị cáo Trần Văn Thanh, sinh 25/1/1953 tại Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam; đăng ký nhân khẩu thường trú số 10 đường Nguyễn Quyền, thành phố Hà Nội, nơi ở số 7A đường Yên Phụ, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội; bị bản án hình sự phúc thẩm số 78/2009/HSPT ngày 07/12/2009 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng áp dụng khoản 1 Điều 258 BLHS, điểm h khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 48; Điều 60 BLHS xử phạt về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”.

NHẬN THẤY

Theo bản án phúc thẩm của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lợi dụng thời điểm bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XII, các bị cáo Trần Văn Thanh, Nguyễn Phi Duy Linh, Đinh Công Sắt và Dương Tiến đã cùng một số người khác sử dụng hai công văn của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng (Công văn số 73/KSĐT-KT ngày 31/10/2000 và Công văn số 77/KSĐT-KT ngày 01/11/2000 gửi lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bí thư thành uỷ Đà Nẵng về vụ án Phạm Minh Thông) cùng một số tài liệu khác, dựng lên những đơn tố cáo, kiến nghị sai sự thật, phát tán nhiều nơi, kích động, xúi giục khiếu kiện không đúng pháp luật, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an, ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan nhà nước và uy tín của lãnh đạo địa phương, gây cản trở cho công tác chuẩn bị bầu cử và kết quả bầu cử Quốc hội khoá XII của thành phố Đà Nẵng. Diễn biến cụ thể như sau:

Từ năm 2002, Trần Văn Thanh đã trực tiếp soạn thảo, sửa chữa các đơn, thư kiến nghị do Nguyễn Phi Duy Linh thảo ra; sau đó, Linh căn cứ vào đó làm ra các đơn thư kiến nghị chính thức. Các đơn này đều mạo danh đại diện nhân dân thành phố Đà Nẵng và sử dụng tên ông Huỳnh Ngọc Toản (đại tá quân đội về hưu) tố cáo, kiến nghị về vụ án Phạm Minh Thông và vụ án Nguyễn Hưng, trong đó có một số lời khai liên quan đến một số lãnh đạo thành phố Đà Nẵng, nhưng chưa được xử lý, do đó có sự bao che của Trung ương, bỏ lọt tội phạm và trù dập cán bộ điều tra. Sau khi làm đơn, thư kiến nghị, các ngày 12/5/2002 và 27/2/2007, Nguyễn Phi Duy Linh đã mạo danh ông Huỳnh Ngọc Toản và Trung tâm văn hoá thông tin thành phố Đà Nẵng để gửi tổng cộng 17 đơn thư cho các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các cơ quan báo chí.

Ngoài việc chỉ đạo, hướng dẫn cho Nguyễn Phi Duy Linh phát tán các đơn thư trên, khoảng cuối năm 2006, Trần Văn Thanh còn tiếp cận với Đinh Công Sắt (nguyên là thiếu tá công an, bị kỷ luật tước danh hiệu CAND từ tháng 10/2005). Ngày 28/11/2006 Trần Văn Thanh vào Đà Nẵng dự “Hội nghị tuyến y tế công an các tỉnh miền Trung”, Thanh đã trực tiếp gọi điện cho Sắt 02 lần, Sắt điện thoại cho Thanh 01 lần để hẹn thời gian và địa điểm gặp nhau. Khoảng hơn 16 giờ cùng ngày, hai người gặp nhau tại nhà hàng Đại Dương nằm trên đường ven biển Sơn Trà - Điện Ngọc. Tại đây, Trần Văn Thanh đã bảo Sắt làm đơn gửi Bộ công an đề nghị xét lại kỷ luật và hứa hẹn sẽ giúp đỡ. Cũng tại cuộc gặp này, Trần Văn Thanh còn đề cập đến một số nội dung như: Công an Đà Nẵng có những vi phạm như lập quỹ đen từ việc dập biển số xe phản quang, chia nhau tiền  của uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng hỗ trợ hàng năm, một số vụ án kinh tế như vụ Đồng Nò, vụ cụm cảng Hàng không miền Trung…, báo chí đã đăng nhưng không được điều tra, xử lý để so sánh với kỷ luật của Sắt mà Trần Văn Thanh cho là quá nặng. Từ sự hướng dẫn và hứa hẹn của Trần Văn Thanh, Đinh Công Sắt đã làm đơn xin cứu xét, 01 đơn do Sắt ký, 01 đơn do hai bà mẹ Việt Nam anh hùng là bà nội và bà ngoại của Sắt điểm chỉ. Đến ngày 3/12/2006, Sắt đến bưu điện phường Hoà Minh, quân Liên Chiểu, sử dụng điện thoại công cộng số 0511.765.365 trực tiếp gọi điện cho Trần Văn Thanh (số máy 0915.319.999) hỏi về nơi gửi đơn cứu xét thì Trần Văn Thanh yêu cầu Sắt tiếp tục làm thêm một số đơn nói về tham nhũng của một số Lãnh đạo thành phố Đà Nẵng và giới thiệu Sắt gặp Nguyễn Phi Duy Linh (người quen của Trần Văn Thanh) đê Linh hướng dẫn Sắt làm đơn.

Thông qua sự giới thiệu của Trần Văn Thanh, từ ngày 07/12/2006 Đinh Công Sắt thường xuyên điện thoại, gặp gỡ Nguyễn Phi Duy Linh. Linh đã hướng dẫn Sắt viết đơn, thư kiến nghị tố cáo Lãnh đạo thành phố Đà Nẵng gửi các cơ quan ở Trung ương và các cơ quan báo chí theo yêu cầu của Trần Văn Thanh; cụ thể đơn ngày 12/01/2007, đơn ngày 24/4/2007, nội dung các đơn tố cáo Lãnh đạo thành phố Đà Nẵng bao che các vụ vi phạm ở Đồng Nò, ở công ty dệt Hữu Nghị, ở cụm cảng hàng không miền Trung, cầu Sông Hàn; tố cáo việc Công an thành phố Đà Nẵng chi sai nguyên tắc trong việc mua sắm ô tô, dập biển số phản quang xe ô tô, mô tô và chia nhau số tiền trên 2 tỷ đồng của Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng hỗ trợ hàng năm nhưng không được điều tra, xử lý do có sự bao che của cấp trên.

Sau khi gửi các đơn trên, Sắt đều báo cho Linh biết để Linh báo lại cho Trần Văn Thanh. Tháng 4 năm 2007, Nguyễn Phi Duy Linh và Đinh Công Sắt gặp nhau ở Hà Nội, Linh đã đưa cho Sắt một đơn tố cáo tham nhũng nhằm vào một vị lãnh đạo thành phố Đà Nẵng. Theo yêu cầu  và hướng dẫn của Linh, Sắt đã pôtô đơn trên thành nhiều bản, ký tên mình vào đơn rồi gửi các cơ quan trung uơng, các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các cơ quan báo chí. Cũng thời gian này, Linh đưa Sắt đến ngõ 94 Ngọc Hà –Hà Nội tiếp xúc với một số người dân thành phố Đà Nẵng ra Hà Nội khiếu kiện về đất đai của họ, như Đỗ Xuân Hiền, Nguyễn Trịnh Thăng, Đỗ Thắm. Do Nguyễn Trịnh Thăng quen biết với Dương Tiến (Trưởng đại diện báo Công an thành phố Hồ Chí Minh tại Hà Nội) nên Linh đã bảo Thăng dẫn Sắt đến gặp Tiến tại văn phòng đại diện báo công an thành phố Hồ Chí Minh tại Hà Nội, tại đây Sắt đã đưa cho Dương Tiến đơn tố cáo nêu trên.

Ngày 14/5/2007 (cách vài ngày trước khi bầu cử Quốc hội khoá XII) Dương Tiến điện thoại bảo Sắt ra Hà Nội; Tiến đã đưa cho Sắt 2 công văn của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng (Công văn số 73 và Công văn số 77) và bảo Sắt mang về Đà Nẵng tán phát cho nhân dân Đà Nẵng đọc.  Sắt và Thăng đã đi phôtô trên 80 bản, Tiến đưa cho Sắt 1.000.000 đồng và bảo Sắt quay về Đà Nẵng ngay trong đêm bằng tàu hoả. Trưa ngày 15/5/2007 Sắt xuống ga Huế vào bưu điện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế gửi tài liệu đã phôtô cho Văn phòng đại diện báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh tại Hà Nội, báo Tuổi trẻ, báo  Công lý, báo Người lao động…, ghi tên người gửi là ông Lê Trường Sơn –Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng. Sau đó Sắt tiếp tục tán phát tài liệu trên ở nhiều nơi tại Đà Nẵng.

Sau khi hành vi tán phát tài liệu của Sắt bị phát hiện và bị Cơ quan An ninh điều tra gọi hỏi; lúc 13 giờ 30 phút ngày 22/5/2007, Nguyễn Phi Duy Linh đang ở Hà Nội đã gọi điện thoại gặp Sắt và chuyển máy để Sắt nói chuyện với Trần Văn Thanh. Trần VănThanh đã bảo Sắt bỏ trốn khỏi địa phương và Sắt đã bỏ trốn ngay buổi chiều cùng ngày. Trong thời gian bỏ trốn, Sắt nhiều lần gọi điện thoại cho Nguyễn Phi Duy Linh để hỏi thăm tình hình và ngỏ ý muốn ra trình diện, nhưng Linh ngăn cản và xúi giục Sắt liên lạc với người nhà để đưa hai bà mẹ Việt nam anh hùng ra Hà Nội khiếu kiện. Ngày 01/6/2007, Sắt, Linh và Thanh đã gặp nhau tại nhà nghỉ Quỳnh Anh ở phường 15 quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Từ cuộc gặp này, Sắt càng được củng cố niềm tin nên không ra trình diện mà đã liên lạc với Nguyễn Pháp (cậu ruột của Sắt) và cho Pháp biết số điện thoại của Linh, nhờ Pháp gặp Linh để được hướng dẫn cách làm đơn và giúp đỡ Pháp liên lạc được với Linh thì Linh hẹn gặp ở Hội An, Quảng Nam. Linh đã hướng dẫn cho Pháp viết đơn khiếu kiện, kêu oan trước việc cơ quan an ninh điều tra Công an thành phố Đà Nẵng khởi tố Đinh Công Sắt và đưa cho Pháp danh sách các cơ quan Trung ương và các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước để Pháp gửi đơn.

Theo hướng dẫn của Linh, Nguyễn Pháp đã 04 lần đưa hai bà mẹ Việt Nam anh hùng ra Hà Nội để khiếu kiện kêu oan và đòi rút lệnh truy nã đối với Đinh Công Sắt. Trong các lần Pháp dẫn hai bà ra Hà Nội, Linh đã giúp cho Pháp thảo đơn với nội dung tố cáo, kêu oan, đồng thời chỉ dẫn nơi gửi đơn, xúi giục Pháp làm băng rôn, khẩu hiệu đưa cho hai bà mẹ Việt Nam anh hùng sử dụng khi cùng nhóm khiếu kiện Đà Nẵng tại Hà Nội trong những ngày Quốc hội khoá XII họp phiên thứ nhất. Linh đã hướng dẫn Pháp gặp ông Đỗ Xuân Hiền và ông Ngô Thanh Bình xin công văn số 77 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng để gửi kèm các đơn thư khiếu nại tố cáo cho nhiều vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội và các cơ quan Trung ương. Trong thời gian đó, Linh đã nhiều lần  đưa tiền cho Pháp, tổng cộng 7.000.000 đồng và đưa cho Pháp 01 điện thoại di động để sử dụng hỗ trợ việc khiếu kiện.

Trong quá trình điều tra, cơ quan An ninh điều tra Công an thành phố Đà Nẵng tiến hành khám xét nhà Phạm Thị Kim Tiến (vợ cũ của Nguyễn Phi Duy Linh) và thu một số tài liệu liên quan đến vụ án Phạm Minh Thông, cùng nhiều tài liệu là các đơn, thư kiến nghị có bút tích của Trần Văn Thanh soạn thảo và sửa chữa được Linh cất giấu tại đây. Nội dung các đơn thư thể hiện việc mạo nhận là đại diện cho nhân dân thành phố Đà Nẵng tố cáo lãnh đạo thành phố Đà Nẵng có hành vi tham nhũng trong vụ án Phạm Minh Thông và tố cáo Lãnh đạo Công an thành phố Đà Nẵng  có hành vi trù dập các cán bộ điều tra vụ án này. Lời lẽ trong các đơn thư thể hiện động cơ cá nhân, nội dung những bản thảo này đều trùng khớp với các đơn, thư mà Linh đã gửi đi.

Tại bản án sơ thẩm số 16/2009/HSST ngày 07/8/2009, Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã áp dụng khoản 1 Điều 258; điểm h khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 48 BLH, xử phạt Trần Văn Thanh 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định tội danh và hình phạt đối với Nguyễn Phi Duy Linh, Dương Tiến và Đinh Công Sắt.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Bị cáo Trần Văn Thanh,Nguyễn Phi Duy Linh và Dương Tiến kháng cáo kêu oan.

Ngày 03/9/2009 Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị phúc thẩm đối với Trần Văn Thanh theo hướng tuyên bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án.

Bản án hình sự phúc thẩm số 78/2009/HSPT ngày 7/12/2009 của Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng đã áp dụng khoản 1 Điều 258 BLHS, điểm h khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 48; Điều 60 BLHS, xử phạt Trần Văn Thanh 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng.

Giữ nguyên các quyết định về tội danh và hình phạt đối với Nguyễn Phi Duy Linh và Dương Tiến.

Sau khi xét xử phúc thẩm  bị cáo Trần Văn Thanh có nhiều đơn kêu oan đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm.

XÉT THẤY

Bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm kết luận Trần Văn Thanh và các  bị cáo khác có các hành vi phạm tội: tán phát công văn số 73 và 77 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng ngay trước ngày bầu cử Quốc hội khoá XII và hành vi viết nhiều đơn, thư kiến nghị, khiếu nại, tố cáo sai sự thật gửi đến các cơ quan, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, báo chí, tập trung vào một số vụ việc ở Đà Nẵng  như: vụ án Phạm Minh Thông và vụ án Nguyễn Hưng, vụ việc xẩy ra tại cụm cảng Hàng không miền Trung, vụ dệt Hữu Nghị, công tác đền bù giải phòng mặt bằng của thành phố Đà Nẵng, việc mua sắm dập biển số xe phản quang của Công an Đà Nẵng..vv… có liên quan đến trách nhiệm của Lãnh đạo thành phố Đà Nẵng nhưng chưa được giải quyết.

Xét hành vi tán phát tài liệu là công văn số 73 và 77 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng vào trước ngày bầu cử Quốc hội khóa 12 đều do Đinh Công Sắt và Dương Tiến thực hiện. Theo lời khai của Đinh Công Sắt, Nguyễn Phi Duy Linh thì  Trần Văn Thanh có gặp trực tiếp hoặc gặp qua điện thoại hai bị cáo này, thể hiện họ có quan hệ với nhau nhưng nội dung cuộc gặp trực tiếp hoặc qua điện thoại có liên quan đến việc Thanh chỉ đạo, gợi ý hướng dẫn Sắt và Linh làm đơn, gửi đơn tố cáo hay không thì không có tài liệu chứng minh. Do đó, không có căn cứ kết luận Trần Văn Thanh chỉ đạo hay xúi giục các  bị cáo làm việc này cũng như việc các bị cáo viết đơn tố cao sai sự thật.

Về việc “ông Thanh xúi giục Sắt bỏ trốn”, việc đưa các bà mẹ Việt Nam anh hùng ra Hà Nội khiếu kiện, việc gặp gỡ Đinh Công Sắt ở thành phố Hồ Chí Minh… tuy có lời khai của Đinh Công Sắt, nhưng đều xẩy ra sau khi tội phạm của Đinh Công Sắt và Dương Tiến đã hoàn thành. Vì vậy, không có cơ sở để xác định vai trò đồng phạm của Trần Văn Thanh trong việc này.

Đối với các đơn thư kiến nghị, khiếu nại, tố cáo Lãnh đạo thành phố Đà Nẵng do Đinh Công Sắt gửi các cơ quan Trung ương, báo chí (các đơn đề ngày 12/01/2007; 06/4/2007) nội dung tố cáo cán bộ Lãnh đạo thành phố Đà Nẵng có liên quan đến một số vụ việc như: vụ xảy ra tại Công ty dệt Hữu Nghị, vụ Đồng Nò…, án phúc thẩm cho rằng đây là những tố cáo sai sự thật vì vụ án Phạm Minh Thông đã xét xử phúc thẩm năm 2001; các vụ việc khác đã được báo cáo kết luận của Thanh tra Chính phủ số 905 ngày 10/5/2007 và Thông báo số 94 ngày 25/4/2007 của Uỷ ban kiểm tra Trung ương xác định Lãnh đạo thành phố Đà Nẵng không có liên quan gì. Tuy nhiên, một số văn bản của các cơ quan Trung ương, điạ phương như: Báo cáo số 38 ngày 15/01/2001 của Đoàn công tác liên ngành (gồm Uỷ ban kiểm tra Trung ương, Bộ Công an, Ban nội chính Trung ương và Viện kiểm sát nhân dân tối cao); Báo cáo số 268 ngày 13/5/2007 của phòng Kinh tế Công an Đà Nẵng gửi Bộ Công an. Công văn số 868 ngày 3/9/2008 của Văn phòng ban chỉ đạo Trung ương về chống tham nhũng; công văn số 574 ngày 01/2/2004 của Ban nội chính Trung ương gửi Bộ chính trị; Công văn số 131 ngày 11/5/2009 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Đà Nẵng gửi Cơ quan an ninh điều tra Công an TP Đà Nẵng thể hiện một số nội dung tố cáo liên quan đến Lãnh đạo TP Đà Nẵng nêu trong đơn của Đinh Công Sắt là có cơ sở và cần được xem xét, xử lý.

Bản án hình sự phúc thẩm căn cứ lời khai của Đinh Công Sắt và Nguyễn Phi Duy Linh trong quá trình điều tra để kết luận Trần Văn Thanh có hành vi nêu trên. Tuy nhiên, từ khi xét xử sơ thẩm, Nguyễn Phi Duy Linh đều bác bỏ các lời khai trong quá trình điều tra về việc Trần Văn Thanh là người chỉ đạo làm đơn thư khiếu nại tố cáo. Đinh Công Sắt khai tại phiên toà cũng như trong quá trình điều tra là Sắt tự nghĩ Trần Văn Thanh là người chỉ đạo. Trần Văn Thanh không đưa cho Sắt tài liệu, đơn thư nào để Sắt làm đơn tố cáo. Quá trình điều tra cũng thu được các tài liệu có bút tích của Trần Văn Thanh vào các đơn thư kiến nghị (thu tại nhà Phan Thị Kim Tiến vợ cũ của Nguyễn Phi Duy Linh) và để người khác tàng trữ các tài liệu đó nhưng chưa có căn cứ để xác định Nguyễn Phi Duy Linh sử dụng các tài liệu này để làm đơn tố cáo sai sự thật hoặc tán phát các tài liệu này gây hậu quả xấu.

Với các căn cứ nêu trên, thấy rằng không có đủ cơ sở kết luận  Trần Văn Thanh có hành vi phạm tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”. Tuy nhiên qua lời khai của Nguyễn Phi Duy Linh và Đinh Công Sắt, qua việc thu giữ các tài liệu có bút tích của Trần Văn Thanh tại nhà Phan Thị Kim Tiến thể hiện giữa Trần Văn Thanh và các đối tượng này có quan hệ với nhau; Trần Văn Thanh biết Đinh Công Sắt là đối tượng phạm tội đang bị truy nã mà không động viên giáo dục đối tượng ra đầu thú, không báo cáo với cơ quan có thẩm quyền; việc ghi ý kiến của mình vào các đơn thư kiến nghị tố cáo để các phần tử xấu tàng trữ các tài liệu. Đó là những sai phạm cần được nghiêm túc kiểm điểm, xem xét xử lý nghiêm theo quy định của pháp của Điều lệ Đảng và quy định của ngành Công an.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 78/2009/HSPT ngày 7/12/2009 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng và bản án hình sự sơ thẩm số 16/2009/HSST ngày 7/8/2009 của Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng đối với Trần Văn Thanh.

Đề nghị Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tuyên huỷ phần quyết định của bản án hình sự phúc thẩm và phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm nêu trên đối với  bị cáo Trần Văn Thanh không phạm tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” và đình chỉ  vụ án đối với Trần Văn Thanh.

__________________________

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 11/2011/HS-GĐT ngày 19/7/2011 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã Quyết định:

+ Huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 78/2009/HSPT ngày 7/12/2009 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng về phần trách nhiệm hình sự đối với  bị cáo Trần Văn Thanh và  bị cáo Nguyễn Phi Duy Linh.

+ Giao hồ sơ vụ án cho Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

 

2. Kháng nghị số 28/2011/HS-TK ngày 07/12/2011 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao đối với Bản án phúc thẩm số 269/2011/HSPT của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội vụ án Vũ Quốc Hội phạm tội “ làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.  

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự đối với bị cáo: Vũ Quốc Hội sinh năm 1975; hộ khẩu thường trú tại số 10, ngõ Hòa Bình 4, phố Minh Khai, phường Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội; con ông Vũ Văn Minh và bà Đỗ Thị Toàn; bị bắt giam ngày 22/8/2008.

NHẬN THẤY:

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 325/2009/HSPT ngày 29/5/2009, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội áp dung khoản 1 và khoản 4 Điều 267; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; xử phạt Vũ Quốc Hội 12 (mười hai) tháng tù về tội "làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức"; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 355/2010/HSPT ngày 6/7/2010, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; các điểm b và p khoản 1 Điều 46; Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt Vũ Quốc Hội 12 (mười hai) năm tù về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản"; tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù tại bản án hình sự phúc thẩm số 325/2009/HSPT ngày 29/5/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, buộc Vũ Quốc Hội phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 13 (mười ba) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/8/2008.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 269/2011/HSPT ngày 13/5/2011, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội áp dụng điểm a khoản 4 Ddieuef139; các điểm b và p khoản 1 Điều 46; Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt Vũ Quốc Hội 13 (mười ba) năm tù về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản"; tổng hợp với hình phạt 12 (mười hai) tháng tù tại bản án hình sự phúc thẩm số 325/2009/HSPT ngày 29/5/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 14 (mười bốn) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/8/2008.

XÉT THẤY:

Hình phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội "làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức" tại bản án hình sự phúc thẩm số 325/2009/HSPT ngày 29/5/2009 đã được tổng hợp với hình phạt 12 (mười hai) năm tù "lừa đảo chiếm đoạt tài sản" tại bản án hình sự phúc thẩm số 355/2010/HSPT ngày 06/7/2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

Khi xét xử phúc thẩm Vũ Quốc Hội về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản"; tại bản án hình sự phúc thẩm số 269/2011/HSPT ngày 13/5/2011, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt bị cáo 13 (mười ba) năm tù, nhưng lại một lần nữa tổng hợp hình phạt của bản án hình sự phúc thẩm số 325/2009/HSPT ngày 29/5/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội là sai lầm. Trong trường hợp này, phải tổng hợp với hình phạt 13 (mười ba) năm tù tại bản án hình sự phúc thẩm số 355/2010/HSPT ngày 06/7/2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 269/2011/HSPT ngày 13/5/2011 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và đề nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và bản án hình sự sơ thẩm số 188/2010/HSST ngày 19/4/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về phần quyết định tổng hợp hình phạt đối với Vũ Quốc Hội để tiến hành việc tổng hơp hình phạt của nhiều bản án theo đúng quy định của pháp luật./

------------------------------------------------------------------------

-          Kết quả giám đốc thẩm:

Quyết định giám đốc thẩm số 06/2012/HS-GĐT ngày 27/3/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định: Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 269/2011/HSPT ngày 13/5/2011 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và bản án hình sự sơ thẩm số 188/2010/HSST ngày 19/4/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về phần quyết định: "Áp dụng Điều 51 Bộ luật hình sự", "Tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù về tội "Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức" tại bản án số 325 ngày 29/5/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 14 (mười bốn) năm tù" đối với Vũ Quốc Hội để tiến hành việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo đúng quy định của pháp luật.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi