Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm về các tội xâm phạm sở hữu (phần II)

1- Kháng nghị giám đốc thẩm số 20/QĐ-VKSTC-V3 ngày 01 tháng 06 năm 2011 đối với vụ án Trần Văn Nghĩa phạm tội “ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

- Xét bản án hình sự phúc thẩm số 14/2009/HSPT ngày 23, 24/6/2009 của Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình đã kết án bị cáo Trần Văn Nghĩa sinh năm 1944; đăng ký hộ khẩu thường trú tại số nhà 1/144, đường Hùng Vương, phường Vị Xuyên, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo 140 Bộ luật hình sự.

NHẬN THẤY

Theo nội dung bản án sơ thẩm và phúc thẩm: Công ty TNHH Thiện Tài thành lập và được Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Ninh Bình cấp giấp phép đăng ký kinh doanh “Trồng và chế biến sản phẩm từ gấc” từ ngày 22/01/2008 gồm 02 thành viên có trụ sở giao dịch tại số nhà 405 phố Khánh Tân, phường Ninh Khánh, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình do ông Nguyễn Trí Thiện (tức Thích Trí Thiện) sinh năm 1966 tu hành tại chùa Phổ Quang, thuộc phường Giang Biên, quận Long Biên, thành phố Hà Nội làm Chủ tịch hội đồng thành viên; Trần Văn Nghĩa làm Giám đốc. Công ty có vốn điều lệ là 3,5 tỷ đồng, trong đó ông Thiện góp 2 tỷ đồng ( gồm đất và tài sản trên đất là mảnh đất 8,3 ha ở xã Quảng Lạc, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình và 0,5 ha đất tại xã Quang sơn, thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình). Trần Văn Nghĩa góp 1,5 tỷ đồng nhưng hiện tại chưa có vốn. Sau khi Công ty đi vào hoạt động ông Thiện và Nghĩa đã thống nhất để chị Phạm Thị Thanh Duyên sinh năm 1984 làm kế toán viên ghi chép kiêm thủ quỹ. Đến ngày 24/2/2008 được sự nhất trí của Hội đồng thành viên, Trần Văn Nghĩa ký quyết định bổ nhiệm ông Trương Đăng Công làm kế toán trưởng công ty, Nghĩa đã đưa ông Công ký vào một số biểu mẫu đề nghị mở tài khoản tại Chi nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển tỉnh Ninh Bình, nhưng đến khi Nghĩa bị bắt Công ty TNHH Thiện Tài chưa mở tài khoản tại Ngân hàng.

            Quá trình hoạt động, ngày 17/3/2008 ông Thiện bàn với Nghĩa mời ông Trương Đăng Công kế toán trưởng vào làm thành viên mới của công ty, ông Công đồng ý và về nhà làm hồ sơ. Ngày 13/8/2008, Nghĩa đã ký biên bản họp Hội đồng thành viên số 0003/BB-HĐTV thống nhất bổ sung thêm thành viên mới là ông Trương Đăng Công, tổng số vốn điều lệ của công ty không thay đổi, phần vốn góp mới của ông Công sẽ là tổng số vốn do ông Thiện và Nghĩa chuyển nhượng lại. Cụ thể: ông Thiện chuyển nhượng cho ông Công 600.000.000 đồng = 17,14% vốn điều lệ, Nghĩa chuyển nhượng cho ông Công 450.000.000 đồng = 12,68% vốn điều lệ. Như vậy, sau khi chuyển nhượng, tỷ lệ vốn góp của các thành viên sẽ là: ông Thiện 1,4 tỷ đồng = 40%, Trần Văn Nghĩa 1,05 tỷ đồng = 30%, Trương Đăng Công 1,05 tỷ đồng = 30%. Đồng thời, Nghĩa ký đóng dấu vào các văn bản tài liệu như: Hợp đồng chuyển nhượng vốn số 001 với nội dung Nghĩa chuyển nhượng cho ông Công 450.000.000 đồng; Hợp đồng chuyển nhượng vốn số 002 với nội dung ông Thiện chuyển nhượng cho ông Công 600.000.000 đồng; Danh sách 03 thành viên công ty TNHH Thiện Tài; Phiếu thu không số với nội dung thu của ông Công 1,05 tỷ đồng; 01 phiếu chi không số nội dung Nghĩa đã nhận 450.000.000 đồng trả lại vốn góp; 01 phiếu chi không số nội dung ông Thiện đã nhận 600.000.000 đồng trả lại vốn góp. Sau đó, Nghĩa không làm thủ tục cho ông Công vào làm thành viên thứ ba của công ty và đem toàn bộ hồ sơ về nhà anh Dương Nam Sơn trú tại số 7 ngõ 100, đường Trần Huy Liệu, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định cất giấu. Ngày 16/5/2008, anh Dương Nam Sơn đem toàn bộ số tài liệu đến trụ sở Công ty TNHH Thiện Tài giao cho ông Thiện. Ngày 18/5/2008, chị Phạm Thị Thanh Duyên nộp tại Cơ quan điều tra 04 quyển sổ quỹ thu, chi của công ty. Ngày 11/6/2008, ông Trương Đăng Công nộp tại Cơ quan điều tra 01 quyển phiếu thu, 01 quyển phiếu chi và một số giấy tờ, tài liệu khác. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét cơ sở sản xuất của công ty thu giữ 01 con dấu mang tên giám đốc Trần Văn Nghĩa, 14.260.000 đồng và một số giấy tờ, tài liệu liên quan đến hoạt động của công ty, đồng thời kê biên tài sản nằm trên diện tích 8,8 ha ở xã Quảng Lạc, huyện Nho Quan của công ty. Ngày 18/6/2008, Trần Văn Nghĩa bị bắt tạm giam.

 

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 12/2009/HSST ngày 03/3/2009 Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình áp dụng điểm a khoản 3 Điều 139; khoản 2  Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Trần Văn Nghĩa 09 năm tù về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự, các Điều 604, 605, 606, 608 Bộ luật dân sự buộc Trần Văn Nghĩa trả lại cho anh Trương Đăng Công số tiền là 450.000.000 đồng.

 

 Ngày 06/3/2009, Trần Văn Nghĩa kháng cáo kêu oan.

 

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 14/2009/HSPT ngày 23,24/6/2009  Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình áp dụng điểm d khoản 3 Điều 140; khoản 2  Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Trần Văn Nghĩa 09 năm tù về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự, các Điều 604, 605, 606, 608 Bộ luật dân sự buộc Trần Văn Nghĩa trả lại cho anh Trương Đăng Công số tiền là 450.000.000 đồng.

XÉT THẤY

Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ vào bút tích và chữ ký của Trần Văn Nghĩa để lại trên phiếu chi không số ngày 18/3/2008 với nội dung là “Tôi đã nhận đủ số tiền là 450 triệu đồng VN” và cho rằng Trần Văn Nghĩa đã lợi dụng danh nghĩa là thành viên công ty thông qua hợp đồng chuyển nhượng một phần vốn góp của mình ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mặc dù chưa nộp phần vốn góp của mình, sau đó nhận 450 triệu đồng tiền mặt của ông Trương Đăng Công, nhưng không làm thủ tục thay đổi đăng ký kinh doanh, cố tình trốn tránh việc họp Hội đồng thành viên để giải quyết số tiền này, đến nay vẫn không thừa nhận đã chiếm đoạt số tiền này là phạm tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Nhận xét trên của Tòa án cấp phúc thẩm là chưa đủ căn cứ vững chắc để quy kết hành vi của Trần Văn Nghĩa phạm tội . Bởi: căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án còn nhiều thiếu sót, chưa thu thập đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội đối với Trần Văn Nghĩa. Cụ thể như sau:

Công ty TNHH Thiện Tài được thành lập ban đầu chỉ có hai thành viên là Trần Văn Nghĩa và ông Nguyễn Trí Thiện, với số vốn điều lệ kê khai trong hồ sơ là 3,5 tỷ đồng, trong đó ông Thiện góp vốn là 2 tỷ đồng, Nghĩa góp vốn là 1,5 tỷ đồng. Tuy nhiên, tại thời điểm Công ty được thành lập cả ông Thiện và Nghĩa đều chưa có đồng vốn nào. Trong khi theo quy định của Luật Công ty thì điều kiện bắt buộc khi thành lập công ty là “thành viên phải góp vốn đầy đủ và đúng hạn bằng loại tài sản góp vốn như đã cam kết” nhưng Cơ quan điều tra chưa điều tra, làm rõ việc Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh Ninh Bình cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty TNHH Thiện Tài.

Các lời khai của Trần Văn Nghĩa đều không thừa nhận đã nhận số tiền 450.000.000 đồng của ông Trương Đăng Công mà cho rằng chỉ nhằm hợp thức hóa hồ sơ kết nạp ông Trương Đăng Công vào làm thành viên của công ty. Ông Trương Đăng Công và ông Nguyễn Trí Thiện đều khai Trần Văn Nghĩa đã nhận số tiền trên, nhưng Cơ quan điều tra chưa tiến hành đối chất để xác định rõ bản chất sự việc.

Tại các phiếu thu, phiếu chi không số chỉ có chữ ký của Trần Văn Nghĩa với tư cách vừa là thủ trưởng đơn vị, vừa là người nhận tiền và chữ ký của ông Trương Đăng Công với tư cách vừa là kế toán trưởng, vừa là người lập phiếu, người nộp, thủ quỹ. Nhưng Cơ quan điều tra chưa làm rõ tại sao khi ông Trương Đăng Công giao tiền, Công ty Thiện Tài không làm đúng quy định của Luật Tài chính Kế toán là phải có đủ chữ ký của người lập phiếu và thủ quỹ.

Ông Trương Đăng Công biết Công ty TNHH Thiện Tài tại thời điểm đó Tài khoản chưa mở tại Ngân hàng, Thủ quỹ chưa có, đất thì đang phải vay tiền để mua, Trụ sở công ty đang phải đi thuê. Ông Trương Đăng Công lại khai do tin tưởng Nghĩa và ông Thiện đã góp vốn điều lệ vào công ty. Nhưng Cơ quan điều tra chưa làm rõ theo ông Công thì tiền vốn góp của Nghĩa và ông Thiện để ở đâu? và nếu công ty không có tiền, chỉ có đất và một số tài sản trên đất thì tại sao việc chuyển nhượng vốn lại bằng tiền?

Toàn bộ hồ sơ kết nạp thành viên thứ ba do ông Trương Đăng Công lập đều theo quy định của Luật Doanh nghiệp, trong đó chứng từ thu, chi đều thể hiện việc chuyển nhượng vốn chứ không phải là giao nhận tiền giữa các cá nhân với nhau. Trong khi Trần Văn Nghĩa không bỏ trốn, quá trình điều tra không chứng minh được Trần Văn Nghĩa bỏ trốn; Công ty TNHH Thiện Tài còn đất và các tài sản trên đất (Toàn bộ tài sản trên đất và giá trị mảnh đất 8,8 ha hiện tại là bao nhiêu quá trình điều tra cũng chưa được định giá?).

Ngày 08/5/2008, ông Trương Đăng Công có đơn tố cáo Trần Văn Nghĩa và ông Nguyễn Trí Thiện đã nhận 1.050.000.000 đồng mà không đưa ông Công vào làm thành viên của công ty (trong đó Trần Văn Nghĩa ký nhận 450.000.000 đồng, ông Nguyễn Trí Thiện ký nhận 600.000.000 đồng). Như vậy, có hay không sự đồng phạm của ông Nguyễn Trí Thiện trong vụ án này nếu như xác định là Trần Văn Nghĩa có tội. Còn việc ông Thiện trả lại cho ông Công 500 triệu chỉ là khắc phục hậu quả.

Tại phiếu thu không số ngày 18/3/2008 ông Trương Đăng Công có viết phiếu thu 1.050.000.000 đồng với lý do nộp  tiền góp vốn vào công ty để kết nạp làm thành viên. Nay Trần Văn Nghĩa chưa làm thủ tục kết nạp thành viên mới cho ông Trương Đăng Công và việc vay, nợ giữa các bên đều có biên nhận thỏa thuận rõ ràng. Như vậy, việc tranh chấp về phần vốn góp phải giải quyết trước theo Điều lệ công ty, Luật Doanh nghiệp và Pháp luật về kinh tế.

Do còn nhiều nội dung, tình tiết của vụ án cần được điều tra để làm rõ thủ đoạn gian dối của Trần Văn Nghĩa hoặc bỏ trốn của Nghĩa để chiếm đoạt tài sản của ông Trương Đăng Công. Nếu không xác định được các yếu tố bắt buộc này thì đây là giao dịch kinh tế.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

 

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 14/2009/HSPT ngày 23, 24/6/2009 của Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình. Đề nghị Toà hình sự- Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm huỷ bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và bản án hình sự sơ thẩm số 12/2009/HSST ngày 03/3/2009 của Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình để điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật./.

         _________________________

-          Kết quả giám đốc thẩm.

 Tại quyết định giám đốc thẩm số 36/2011/HS-GĐT ngày 01/12/2011 Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao Quyết định: Huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 14/2009/HSPT ngày 23,24/6/2009 của Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình và bản án hình sự sơ thẩm số 12/2009/HSST ngày 03/03/2009 của TAND thành phố Ninh Bình để điều tra lại; chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải quyết theo đúng quy định của pháp luật

 

 

 

 

 

 

2 - Kháng nghị giám đốc thẩm số 12/QĐ-VKSTC-V3 ngày 26/05/2011 đối với vụ án Trần Thanh Tuấn phạm tội “ huỷ hoại tài sản”.

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 189/2010/HSPT ngày 27/12/2010 của Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang, đã kết án Trần Thanh Tuấn (Tuấn Bé) sinh năm 1974; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 231F Lý Thường Kiệt, phường 5, thành phố Mỹ Tho, tinh Tiền Giang vê tội "hủy hoại tài sản”.

Theo bản án hình sự phúc thẩm, nội dung vụ án như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 30/3/2010, Trần Thanh Tuấn sau khi đi uống rượu về đã cãi nhau với vợ về việc trong thời gian Tuấn đi thi hành án thì anh Lê Văn Sang quản lý quán cà phê KARAOKE Mai Vàng thường rủ vợ Tuấn là chị Phạm Thi Hoa đi chơi và sử dựng thuốc lắc. Đồng thời Tuấn nghĩ việc bi đi tù là do Phạm Minh Phụng đã cung cấp thông tin cho báo chí là Toàn cho vay nặng lãi vả đâm thuê chém mướn. Tuấn đã điện thoại cho Nguyễn Văn Sang (Sang Heo) kêu chở sang nhà anh Phụng để nói chuyện với Phụng. Anh Phụng không mở cửa, tắt đèn chạy ra phía sau nhà. Lúc này trong nhà chỉ có vợ anh Phụng là chị Phan Thi Hồng Nương, chị cũng không mở cửa. Tuấn và Sang đã xô cửa đập phá làm hư hỏng tài sản gồm: 01 Ti Vi hiệu Darling 21 inch, 01 tủ lạnh, 01 quạt, 01 tủ kính đựng thức ăn và một số tài sản khác . Tài sản thiệt hại được định giá là 4.582.000 đồng.

Khi đến nhà của anh Phụng thì Nguyễn Văn Sang có điện thoại kêu Hoàng Duy Khánh (Khánh Mập) và 3, 4 người bạn của Sang đến nhưng Tuấn không biết là ai. Lúc đập phá nhà của anh Phụng, chị Nương ra ngoài đường thì Nguyễn Văn Sang phát hiện anh Lê Văn Sang chạy xe qua nhà anh Phụng nên nhóm của Tuấn đuổi theo đến quán cà phê KARAOKE Mai Vàng do chị LÊ Thi Kim Huyền làm chủ, bọn chúng đã đập phá tài sản trong quán gây thiệt hại là 11.400.000đồng.

Đập phá tải sản ở quan KARAOKE Mai vàng xong, cả bọn tiếp tục đi nhậu Trên đường đi Nguyễn Văn Sang nhận được điện thoại là nhóm của Tuấn ngoài việc đập phá tài sản của nhà anh Phụng ra còn lấy 15.000.000 đồng nên tất cả quay lại quán cơm nhà anh Phụng để hỏi cho rõ chuyện. Đến nơi không thấy ai, Tuấn nghĩ vợ chồng anh Phụng đang ở khách sạn Đăng Khoa gần đó nên 1 người trong nhóm của Tuấn đã dùng 1 viên đá xanh (13cm x 9cm) ném vào bên trong làm nứt tấm kính cửa của khách sạn Đăng Khoa. Gia đình Tuấn đã lắp kính mới cho khách sạn đồng thời khắc phục toàn bộ thiệt hại cho các bị hại và được các bị hại bãi nại.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 140/2010/HSST ngày 12/10/2010, Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho áp dụng khoản 1 Điều 143; điều 45; điểm b, p khoản 1 khoản 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 33 Bộ luật hình sự xử phạt Trần Thanh Tuấn 09 tháng tù về tội "hủy hoại tài sản".

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo luật đinh.

Ngày 22/10/2010, bị cáo Trần Thanh Tuấn có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 189/2010/HSPT ngày 27/12/2010 của Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang áp dụng khoản 1 Điều 143; điểm b, p khoản 1 khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 60 Bộ luật hình sự xin phạt Trần Thanh Tuấn 09 tháng tù về tội "hủy hoại tài sản", nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng và khấu trừ thời giam giữ 2 tháng 24 ngày, thời gian thử thách còn phải chấp hành là 18 tháng 12 ngày.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao thấy rằng:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì Trần Thanh Tuấn đã cùng với Nguyễn Văn Sang cùng một số người tham gia đập phá nhà chị Phạm Thị Hông Nương gây thiệt hại trị giá 4.582.000 đồng. Sau đó, đến quán cà phê KARAOKE Mai Vàng đập phá tài sản gây thiệt hại trị giá 11.400.000 đồng. Phạm tội song Nguyễn Văn Sang bỏ trôn, còn các đối tượng khác không rõ họ tên, địa chỉ nên cơ quan điều tra tiến hành xử lý sau. Vì vậy, Tòa án các cấp kết án Trần Thanh Tuấn về tội "hủy hoại tài sản” là có căn cứ.

Trong vụ án này, Trần Thanh Tuấn và đồng bọn phạm tội liên tục trong một thời gian ngắn. Về nhân thân của Trần Thanh Tuấn, ngoài lần bị kết án này vào năm 2009 bị cáo còn bị Tòa án kết án 2 lần (bản án hình sự phúc thẩm số 07/HSPT/2009, ngày 15/01/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang kết án 27 tháng tù về tội "cố ý gây thương tích” và "chống người thi hành công vụ” và bản án hình sự sơ thẩm số 09/HSST/2009, ngày 10/02/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho kết án Tuấn 11 tháng 23 ngày tù về tội "bắt người trái pháp luật"). Sau khi ra tù 1 tháng 20 ngày bị cáo lại tiếp tục phạm tội mới. Vì vậy, Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm cho Trần Thanh Tuấn được hưởng án treo là không đánh giá đúng tính chất mức độ của hành vi phạm tội, cũng như không đúng với quy đinh tại Điều 60 Bộ luật hình sự và hướng dẫn tại điểm b mục 6 Nghị Quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

           Vì các lẽ trên,

                                                      QUYẾT ĐỊNH

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 189/2010/HSPT ngày 27/12/2010 của Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang về phần trách nhiệm hình sư đối với bị cáo Trần Thanh Tuấn; đề nghị Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần Thanh Tuấn trong bản án hình sự phúc thẩm nêu trên; giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm lại theo đứng quy định của pháp luật./.

_________________________________

-   Kết quả giám đốc thẩm:

     Tại Quyết định giám đốc thẩm số 29/2011/HS-GĐT ngày 26/09/2011 của Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao đã Quyết định: Huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 189/2010/HSPT ngày 27/12/2010 của Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang; giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

3. Kháng nghị giám đốc thẩm số 04/QĐ-VKSTC-V3 ngày 25/02/2011 đối với vụ án Trương Thị Ngọc Nhung và Đinh Đức Liên phạm tội “ lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 1833/2005/HSPT ngày 28/7/2005 của Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, đã xét xử kết án các bị cáo Trương Thị Ngọc Nhung và Đinh Đức Liên cùng trú tại: số 40A, Trương Công Định, phường 1, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đều về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

NHẬN THẤY

Theo bản án hình sự phúc thẩm của Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

 Trương Thị Ngọc Nhung là phạm nhân đang thi hành án tại trại giam Z30D tỉnh Bình Thuận. Do bị bệnh, nên năm 1993 Nhung được cho đi chữa bệnh, trong thời gian chữa bệnh, Nhung đã cùng chồng là Đinh Đức Liên dùng căn nhà 40A Trương Công Định, phường 1, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng (là tài sản đã bị kê biên để đảm bảo việc thi hành án) để thế chấp vay mượn tiền, vàng của nhiều người và hùn vốn kinh doanh với nhiều người rồi chiếm đoạt tài sản của họ. Sau khi phạm tội, Nhung bỏ trốn, còn Liên bị bắt và xét xử vào ngày 20/01/2000. Đến ngày 13/9/2003, Nhung bị bắt. Cơ quan điều tra đã làm rõ: Từ tháng 6/1995 đến tháng 7/1998, Nhung cùng Liên có nhiều thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tiền của nhiều người với tổng số tiền là 3.815.500.000 đồng và 222 lượng vàng SJC. Ngoài ra riêng cá nhân Nhung còn lừa đảo chiếm đoạt 475.000.000 đồng. Cụ thể:

1. Từ tháng 6/1995 đến tháng 7/1997, với lý do sửa chữa nâng cấp căn nhà số 40A Trương Công Định, Nhung và Liên đã vay tiền của bà Nguyễn Thị Ngân Giang 70.000.000 đồng với lãi suất 5% tháng, đã trả bảy tháng tiền lãi. Trong 70.000.000 đồng, Nhung và Liên cùng ký tên vay 50.000.000 đồng, còn 20.000.000 đồng Nhung trực tiếp vay.

2. Từ ngày 28/6/1996 đến ngày 28/4/1997 với lý do vay vốn để nâng cấp khách sạn Thiên Thanh (40A Trương Công Định) và mua căn nhà liền kề số 38 Trương Công Định (thực chất chủ nhà số 38 Trương Công Định không bán nhà), Nhung đã trực tiếp ký hợp đồng để vay của bà Mạc Thị Phước số tiền 1.400.000.000 đồng, sau đó làm văn bản gia hạn hợp đồng đối với các hợp đồng trên. Nhung đã trả lãi cho bà Phước là 362.000.000 đồng, số tiền lãi còn lại bà Phước không yêu cầu, chỉ yêu cầu Nhung - Liên trả cho bà tiền gốc 1.400.000.000 đồng.

3. Mặc dù trong hợp đồng đã ký với bà Mạc Thị Phước, nhưng vào ngày 04/2/1997 Nhung và Liên vẫn tiếp tục dùng căn nhà 40A Trương Công Định để vay của bà Hà Thị Lan 210 lượng vàng SJC. Tới ngày 17/9/1997 cũng với hình thức trên, Nhung và Liên tiếp tục vay của bà Lan 1.825.000.000 đồng. Nhung và Liên đã trả cho bà Lan được 407.000.000 đồng tiền lãi. Bà Lan yêu cầu Nhung và Liên trả cho bà 210 lượng vàng SJC và 1.325.000.000 đồng, còn lại 500.000.000 đồng bà Lan tự nguyện không yêu cầu trả lại.

4. Từ tháng 1/1998 đến ngày 17/7/1998 với lý do nâng cấp khách sạn Thiên Thanh, Nhung và Liên đã vay tiền của bà Nguyễn Thị Lượng 300.500.000 đồng và 12 lượng vàng SJC đã trả lãi 25.000.000 đồng. Bà Lượng yêu cầu trả gốc là 300.500.000 đồng và 12 lượng vàng SJC.

5. Từ tháng 2/1998 đến 16/4/1998, Nhung trực tiếp vay của ông Tào Cường Đình 435.000.000 đồng, đã trả lãi 40.000.000 đồng. Ông Đình yêu cầu trả tiền gốc là 435.000.000 đồng.

6. Từ tháng 11/1997 đến tháng 7/1998, Nhung và Liên đã vay của ông Hứa Phúc Nam 240.000.000 đồng. Quá trình điều tra ông Nam đã bãi nại không yêu cầu bị cáo trả khoản tiền này.

7. Ngày 26/7/1995 đến tháng 7/1998, Nhung đã vay của bà Đinh Thị Hiền 20.000.000 đồng. Quá trình điều tra, bà Hiền bãi nại không yêu cầu Nhung trả khoản tiền này.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 152/2005/HSST ngày 28/7/2005, Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã quyết định: áp dụng khoản 3 Điều 157; điểm h khoản 1, khoản 2 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 1985; riêng bị cáo Trương Thị Ngọc Nhung bị áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự năm 1985, xử phạt:

1. Trương Thị Ngọc Nhung tù chung thân về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

2. Đinh Đức Liên 18 năm tù về tội " lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Căn cứ Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1985:

Buộc bị cáo Trương Thị Ngọc Nhung chấp hành hình phạt tù chung thân của bản án này và hình phạt 10 năm 28 ngày còn lại của bản án số 120/HSPT ngày 23/02/1993 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo Nhung phải chấp hành hình phạt chung là tù chung thân.

Buộc Đinh Đức Liên chấp hành hình phạt 18 năm tù của bản án này và 15 năm tù của bản án hình sự sơ thẩm số 10/HSST ngày 20/01/2000 của Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng. Bị cáo Liên phải chấp hành hình phạt chung là 20 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/7/1998.

Áp dụng khoản 1 Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 619; 612 Bộ luật dân sự, buộc hai bị cáo Trương Thị Ngọc Nhung và Đinh Đức Liên liên đới bồi thường cho những người bị hại như sau:

1. Bà Hà Thị Lan: 1.325.000.000 đồng và 210 lượng vàng SJC.

2. Bà Mạc Thị Phước: 1.400.000.000 đồng.

Buộc bị cáo Trương Thị Ngọc Nhung bồi thường cho:

1. Bà Nguyễn Thị Ngân Giang 20.000.000 đồng.

2. Ông Tào Cường Đình 435.000.000 đồng.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 09/8/2005, bị cáo Trương Thị Ngọc Nhung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xem xét lại phần tiền 1.400.000.000 đồng mà bản án sơ thẩm quy kết bị cáo chiếm đoạt của bà Mạc Thị Phước.

Ngày 05/8/2005, bị cáo Đinh Đức Liên kháng cáo xin xem xét lại phần tiền 1.400.000.000 đồng mà bản án sơ thẩm quy kết bị cáo cùng bị cáo Nhung chiếm đoạt của bà Mạc Thị Phước.

 Tại bản án hình sự phúc thẩm số 1833/HSPT ngày 26/10/2005 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

1. Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trương Thị Ngọc Nhung.. Bản án hình sự sơ thẩm số 152/HSST/2005 ngày 28/7/2005 của Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã xử phạt bị cáo Trương Thị Ngọc Nhung tù chung thân về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản" có hiệu lực pháp luật.

2. Hủy một phần bản án hình sự sơ thẩm nêu trên đã quy kết và xử phạt các bị cáo Trương Thị Ngọc Nhung và bị cáo Đinh Đức Liên về hành vi lừa đảo chiếm đoạt của bà Mạc Thị Phước 1.400.000.000 đồng. Giao hồ sơ vụ án về cấp sơ thẩm để điều tra, xét xử lại theo thủ tục chung.

Ngày 23/10/2009, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh chuyển hồ sơ về Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng. Ngày 11/11/2009, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng để điều tra lại khoản 1.400.000.000đồng.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao thấy rằng:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì Toà án cấp sơ thẩm kết án Trương Thị Ngọc Nhung cùng Đinh Ngọc Liên có nhiều thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tiền của nhiều người với tổng số tiền là 3.815.500.000 đồng và 222 lượng vàng SJC, trong đó có số tiền 1.400.000.000 đồng của bà Mạc Thị Phước. Từ đó quyết định hình phạt đối với bị cáo Nhung là tù chung thân và bị cáo Liên là 18 năm tù.

Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Nhung kháng cáo phúc thẩm với  hai nội dung là xin giảm nhẹ hình phạt và  xem xét lại phần tiền 1.400.000.000 đồng mà bản án sơ thẩm đã quy kết bị cáo đã chiếm đoạt của bà Mạc Thị Phước. Đồng thời bị cáo Đinh Đức Liên cũng kháng cáo kêu oan về khoản tiền 1.400.000.000 đồng này.

Khi xét xử phúc thẩm bị cáo Nhung đã rút một phần kháng cáo về phần xin giảm nhẹ hình phạt và vẫn giữ nguyên nội dung kêu oan về 1.400.000.000 đồng, cho rằng bị cáo không được nhận khoản tiền này. Tòa án cấp phúc thẩm nhận định chưa đủ chứng cứ xác định Nhung và bị cáo Liên đã nhận của bà Phước khoản tiền 1.400.000.000 đồng nên chưa đủ căn cứ kết luận các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự về hành vi phạm tội này và đã quyết định: “1. Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trương Thị Ngọc Nhung. Bản án hình sự sơ thẩm số 152/HSST/2005 ngày 28/7/2005 của Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã xử phạt bị cáo Trương Thị Ngọc Nhung tù chung thân về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản" có hiệu lực pháp luật.

2. Hủy một phần bản án hình sự sơ thẩm nêu trên đã quy kết và xử phạt các bị cáo Trương Thị Ngọc Nhung và bị cáo Đinh Đức Liên về hành vi lừa đảo chiếm đoạt của bà Mạc Thị Phước 1,4 tỷ đồng. Giao hồ sơ vụ án về cấp sơ thẩm để điều tra, xét xử lại theo thủ tục chung”.

Quyết định của bản án phúc thẩm là vi phạm pháp luật nghiêm trọng, bởi lẽ: hình phạt chung thân đối với Trương Thị Ngọc Nhung và 18 năm tù đối với Đinh Đức Liên về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” mà bản án hình sự sơ thẩm số 152/HSST/2005 ngày 28/7/2005 của Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã quyết định đối với Nhung và Liên đã là đã quy kết các bị cáo chiếm đoạt tiền vàng của nhiều người trong đó có khoản 1.400.000.000 đồng của bà Phước. Như vậy, Tòa án cấp phúc thẩm hủy khoản 1.400.000.000 đồng này để điều tra, xét xử lại mà vẫn giữ nguyên mức hình phạt là gây bất lợi cho bị cáo.Vì, khi điều tra, truy tố, xét xử lại bị cáo Nhung và Liên phải chịu thêm hình phạt một lần nữa về khoản tiền này.

Ngoài ra, sau khi xét xử phúc thẩm  ngày 26/10/2005 đến 23/10/2009, Tòa án cấp phúc thẩm mới chuyển hồ sơ về cấp sơ thẩm để điều tra là vi phạm Điều 250 Bộ luật tố tụng hình sự .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 1833/2005/HSPT ngày 28/7/2005 của Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ bản án hình sự phúc thẩm nêu trên  để xét xử phúc thẩm lại theo đúng qui định của pháp luật./.

_______________________________

- Kết quả giám đốc thẩm:

Tại quyết định giám đốc thẩm số 04/2012/HS-GĐT ngày 12/3/2012 Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao quyết định:

Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 1833/2005/HSPT ngày 26/10/2005 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chớ Minh và bản án hình sự sơ thẩm số 152/HSST/2005 ngày 28/7/2005 của Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để điều tra lại theo quy định của pháp luật.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi