Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người (phần I)

1. kháng nghị giám đốc thẩm Số 93/VKSTC-V3 ngày 31-12-2001 đối với vụ án: Phạm Thị Út phạm tội “giết người” và tội “huỷ hoại tài sản của công dân”.

____________________________________

 

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 2857/HSPT ngày 3/12/2000 của Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt : Phạm Thị út, sinh năm 1943;  trú tại 32/382A đường 26-3 phường 17, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh về tội “giết người” và tội “huỷ hoại tài sản của công dân;

Nhận thấy:

Tháng 8-1992 Phạm Thị Út là chủ căn nhà 2/382A đường 26-3, phường 17, quận Gò Vấp thành phố Hồ Chí Minh cho ông Trương Ngọc Minh thuê một phòng  để ở với giá 200.000đ/tháng và ông Minh có thế chấp 2 chỉ vàng 24K. Quá trình chung sống hai bên gia đình có mâu thuẫn trong sinh hoạt nên ngày 27-8-1993 Phạm Thị Út  không cho ông Minh thuê nữa và  yêu cầu từ ngày 16-9-1993 phải trả phòng. Hai bên nhất trí, ông Minh đòi lại 2 chỉ vàng đã thế chấp và  Phạm Thị út hẹn ngày 12-9-1993 sẽ trả. Đến tối ngày 12-9-1993 không thấy Phạm Thị Út đem vàng đến trả nên ông Minh sang đòi thì Phạm Thị Út khất nợ đến trưa ngày 13-9-1993 sẽ trả. Nhưng đến Khoảng 3 giờ sáng ngày 13-9-1993 thì phòng ông Minh thuê ở bị cháy. Hậu quả ông Minh và bà Huỳnh Thị Thiên Nga (sống chung với ông Minh như vợ chồng) bị bỏng nặng được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy và cả 2 đều chết lúc 10giờ 30 phút ngày 14-9-1993, còn anh Trương Ngọc Minh Tâm (con riêng của ông Minh) bị bỏng nhẹ và tài sản của ông Minh bị cháy thiệt hại một số.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 2231/HSST ngày 28-9-1999, Toà án nhân dân  thành phố Hồ Chí Minh áp dụng khoản 1 Điều 101; khoản 2 Điều 160; các điểm c, g khoản 1, khoản 2 Điều 38; Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1985 xử phạt Phạm Thị Út 20 năm tù  về tội “giết người” và 2 năm tù về tội “huỷ hoại tài sản của công dân”. Tổng hợp hình phạt buộc Phạm Thị Út phải chấp hành hình phạt chung cho cả 2 tội là 20 năm tù.

Áp dụng Điều 34 Bộ luật dân sự buộc Phạm Thị Út phải bồi thường tiền mai táng phí cho các nạn nhân Trương Ngọc Minh và Huỳnh Thị Thiên Nga cũng như các khoản bồi thường về tài sản đã bị huỷ hoại, thu nhập bị mất, cụ thể là ông Trương Ngọc Minh số tiền là 35.000.000đồng và bà Huỳnh Thị Thiên Nga số tiền là 35.000.000 đồng.

Ngày 8-10-1999 Phạm Thị út kháng cáo kêu oan.

Ngày 7-10-1999 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị một phần bản án hình sự sơ thẩm nêu trên để xét xử phúc thẩm tăng hình phạt về tội “giết người” đối với  Phạm Thị Út.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 2857/HSPT ngày 3-11-2000 Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với Phạm Thị Út.

Xét thấy:

Vào khoảng 3giờ 15 phút ngày 13-9-1993 tại căn nhà 32/382A đường 26-3, phường 17, quận Gò Vấp thành phố Hồ Chí Minh do Phạm Thị Út là  chủ hộ xảy ra vụ cháy căn phòng của ông Trương Ngọc Minh thuê của Phạm Thị út để ở dẫn đến ông Minh và bà Huỳnh Thị Thiên Nga (sống chung như vợ chồng với ông Minh) bị bỏng nặng và chết, cháy  thiệt hại một số tài sản của họ, anh Trương Ngọc Minh Tâm (con riêng của ông Minh) bị bỏng nhẹ là có thật. Nhưng căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm kết án Phạm Thị Út phạm các tội “giết người và huỷ hoại tài sản của công dân” là chưa có căn cứ vững chắc, còn một số vấn đề cần phải điều tra làm rõ bởi vì:

- Xét nhiên liệu dùng để đốt căn phòng ở của ông Minh: Theo biên bản vụ cháy do Đội phòng cháy chữa cháy quận Gò Vấp lập lúc 4giờ 15 phút ngày 13-9-1993 có nội dung:  “khoảng 3 giờ 15 phút ngày 13-9-1993 đã cháy phòng  số 1 do anh Minh thuê ở … khi đến nơi lửa đã cháy ra xung quanh nhà. Chúng tôi thấy có mùi dầu bốc lên nhiều”. Theo biên bản báo cáo số 1034 ngày 30-11-1993 của Phòng cảnh sát chữa cháy lại có nội dung: “sau khi đám cháy được dập tắt ở phòng ông Minh còn mùi xăng”. Vậy ở phòng ông Minh khi cháy và sau khi cháy có mùi xăng hay mùi dầu hoặc cả mùi xăng và dầu? Trong 2 văn bản này thì văn bản nào phản ánh đúng mùi bốc lên? Do chưa làm rõ được mâu thuẫn nêu trên nên chưa đủ cơ sở cơ sở vững chắc xác định khi cháy và sau khi cháy có mùi xăng hay mùi dầu bốc lên, vì vậy Toà án các cấp dùng 2 văn bản nêu trên làm căn cứ kết luận bị cáo sử dụng cả xăng, dầu đốt nhà là chưa vững chắc. Mặt khác, theo lời khai của anh Trương Ngọc Minh Tâm (con ông Minh) thì gia đình ông Minh nấu bằng bếp dầu, can đựng dầu chứa được khoảng 5 lít và để ở bếp; gia đình thường mua 1-2 lít dùng hết thì mua. Do vậy, khi cháy nhà số dầu còn ở trong can và còn ở trong bếp dầu của chính gia đình ông Minh cũng bốc cháy và mùi dầu bốc lên là không tránh khỏi. Lời khai của Trương Ngọc Minh Tâm phù hợp với biên bản vụ cháy lập lúc 4giờ 14 phút ngày 13-9-1993, phù hợp với thực tế là khi cháy thì số dầu còn lại trong bếp và trong can đựng dầu của gia đình ông Minh cũng bốc cháy. Những vấn đề nêu trên chưa được điều tra làm rõ.

- Về 2 chiếc lon sắt thu được ở trong phòng của ông Minh và ở phía sau nhà Phạm Thị Út thấy rằng: Theo biên bản vụ cháy do Đội phòng cháy  chữa cháy quận Gò Vấp lập lúc 4giờ 15 phút ngày 13-9-1993 thì “thấy phía sau nhà Phạm Thị Út có 1 lon (loại 0,8kg) còn dính dầu…”; theo biên bản khám nghiệm hiện trường vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 13-9-1993 thì  “khu vực đất phía sau nhà phát hiện thấy một chiếc lon loại 1 lít bên trong lon còn lại một ít xăng và cách bức tường của 2 phòng 1,8m có một lon dung tích 1 lít bị cháy ám khói bên trong …”; theo bản báo cáo số 1034 ngày 30-11-1993 của Phòng cảnh sát chữa cháy thì thu tại “phòng ở của ông Minh  1 cái lon sắt cũng có nhiều xăng”. Trong 3 văn bản nêu trên thể hiện tang vật thu được tại hiện trường là 2 chiếc lon, một chiếc lon ở phía sau nhà bị cáo và một chiếc lon ở trong phòng ở của ông Minh. Đối với chiếc lon thu được ở phía sau nhà bị cáo văn bản thì ghi là chiếc lon loại 0,8 kg còn dính dầu, văn bản thì ghi là chiếc lon loại 1 lít bên trong còn lại một ít xăng. Vậy chiếc lon thu được giữ được ở phía sau nhà Phạm Thị Út là loại lon 1 lít  hay 0,8 kg và bên trong dính dầu hay còn một ít xăng? Mâu thuẫn này chưa được điều tra làm rõ. Còn chiếc lon thu được ở trong phòng của ông Minh văn bản thì ghi đây là chiếc lon có dung tích 1 lít bị cháy ám khói bên trong, văn bản thì ghi là lon sắt có nhiều xăng. Vậy văn bản nào phản ánh đúng chiếc lon thu được trong phòng của ông Minh? và chiếc lon này có giống chiếc lon thu được ở phía sau nhà bị cáo không? Mặt khác, theo lời khai của anh Trương Ngọc Minh Tâm thì trong nhà ông Minh cũng có một số chiếc lon thiếc hiệu castrol do bà Nga đem về, cắt miệng chưa sử dụng gì. Vậy chiếc lon đã thu được ở phòng ở của ông Minh nêu trên có hình dạng, kích thước cùng với lon hiệu castrol do bà Nga đem về hay không cũng chưa được điều tra làm rõ.

- Vế số lượng xăng, dầu dùng để đốt nhà: Theo lời khai của  Phạm Thị Út trong quá trình điều tra và xét xử đều khẳng định mua 2 lít dầu đựng trong chiếc can 4 lít và mua 1 lít xăng dựng trong chiếc can 2 lít. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường là phát hiện thu giữ phía sau nhà bị cáo can nhựa màu trắng loại 2 lít bên trong còn 1 lít xăng và can nhựa màu vàng loại 4 lít bên trong còn 2 lít dầu hôi. Trong quá trình điều tra và xét xử mặc dù không chứng minh được số lượng xăng dầu bị cáo đã mua là bao nhiêu lít, đã sử dụng đốt nhà hết bao nhiêu và vì sao lại để lại đúng 2 lít dầu và 1 lít xăng… Nhưng Toà án các cấp lại kết luận bị cáo mua số xăng, dầu trên thực tế nhiều hơn số đã khai và bị cáo đã sử dụng một phần để đốt nhà là hoàn toàn suy diễn, không có căn cứ.

- Về việc thực hiện hành vi phạm tội: Theo biên bản khám nghiệm hiện trường thì bức tường gạch ngăn cách phòng ở của gia đình bị cáo với phòng của ông Minh cao là 3,4m, phía trên tường có khoảng trống thông nhau hình tam giác cân có đường cao là 1,2m và có các đà gỗ đan chéo nhau. Vậy trong đêm tối bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đốt nhà như thế nào để vừa thực hiện hành vi phạm tội trót lọt, vừa không bị gia đình ông Minh phát hiện cũng chưa được điều tra làm rõ,

Mặt khác, trong phòng ở của gia đình Phạm Thị Út có một chiếc thang để sát bức vách ngăn 2 phòng, theo bị cáo khai chiếc thang này do ông Quyền tổ trưởng dân phố bảo con gái bị cáo mang vào để leo lên dập lửa trên các đà cây; theo lời khai của Ngô Thị Mỹ Lệ (con gái bị cáo) cũng khẳng định: “bác Quyền kêu cháu mang thang vô tạt nước ở khe cửa”. Theo ông Võ Hữu Minh tổ trưởng dân phố khai: ông nhìn thấy người leo lên thang tạt nước vào kèo nhà cháy, ai mang thang vào ông không biết. Nhưng quá trình điều tra không lấy lời khai của ông Quyền và cũng không điều tra xác định rõ ông Võ Hữu Minh với ông Quyền có phải là một người không và ai là tổ trưởng dân phố.

- Về việc gói đồ đạc của gia đình bị cáo : Theo lời khai của bị cáo tại phiên toà và trong quá trình điều tra thì đồ đạc trong nhà của bị cáo sau khi cháy bị cáo và con bị cáo mới chuyển ra ngoài. Quần áo đựng trong 2 bao tải là quần áo của bị cáo do xích mích với chồng nên bị cáo định ra phía sau ở, nhưng do con gái không đi cùng nên bị cáo chưa đi. Còn quần áo của chồng, của con vẫn để ở trong rương. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của Ngô Thị Mỹ Lệ. Theo Ngô Thị Mỹ Lệ khai sau khi cháy út cùng Lệ khuân đồ đạc ra sân, còn thùng gạo Lệ nhờ anh Tèo khiêng dùm. Giữa cha mẹ Lệ có mâu thuẫn trong việc nhận đồ gia công, tiền nong, trước khi cháy nhà út nói với Lệ xuống nhà dưới ngủ nhưng Lệ không đi, nên út sợ không đi. Nhưng quá trình điều tra chưa làm rõ hai bao tải quần áo chỉ đựng riêng quần áo của bị cáo hay đựng tất cả quần áo của gia đình? đồ đạc của gia đình được chuyển ra trước khi cháy hay khi cháy mẹ con bị cáo mới chuyển ra? và Tèo có phải là người giúp Lệ chuyển thùng gạo ra ngoài không và trong hồ sơ không có lời khai của anh Tèo.

- Về nguyên nhân và động cơ phạm tội của bị cáo: Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đều kết luận do mâu thuẫn với gia đình ông Minh nên bị cáo đã mua xăng dầu, gói đồ đạc sẵn để đốt nhà mình là không có cơ sở vững chắc. Bởi vì theo lời khai của bị cáo thì trong quá trình ông Minh thuê nhà ở hai bên không có mâu thuẫn gì lớn, còn trong sinh hoạt hàng ngày đôi khi có xích mích. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của anh Trương Ngọc Minh Tâm là hai gia đình không có cãi lộn nhau bao giờ mà thỉnh thoảng có va chạm nhỏ như: nước tắm có khi bà út khoá lại… với mâu thuẫn như bị cáo và anh Trương Ngọc Minh Tâm khai thì đây không phải là mâu thuẫn sâu sắc tới mức bị cáo đốt chính căn nhà mình để trả thù? Mặt khác, có phải do còn nợ bị hại 2 chỉ vàng thế chân nên bị cáo đã đốt nhà mình có giá trị cao hơn nhiều để giết ông Minh lấy 2 chỉ vàng không? vấn đề này chưa được điều tra làm rõ.

Tổng hợp các tình tiết, căn cứ nêu trên có đủ cơ sở để kết luận  những chứng cứ mà Toà án các cấp dùng kết tội Phạm Thị út còn chứa đựng nhiều mâu thuẫn với nhau, nhưng chưa được điều tra làm rõ. Do vậy phải huỷ cả hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm để điều tra lại theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,


Quyết định:

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 2857/HSPT ngày 3-11-2000 của Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh. Đề nghị Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và bản án hình sự sơ thẩm số 2231/HSPT ngày 29-9-1999 của Toà án nhân dân  thành phố Hồ Chí Minh để điều tra giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

__________________ 

-  Lý do kháng nghị để huỷ bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm:

+ Các chứng cứ mà Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm sử dụng để kết án Phạm Thị Út phạm tội “Giết người” chứa đựng nhiều mâu thuẫn nhưng chưa được điều tra làm rõ.

+ Về nguyên nhân và động cơ phạm tội giết người của Phạm Thị Út cũng chưa được điều tra làm rõ.

Do vậy để có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự của bị cáo phải điều tra làm rõ các chứng cứ và nguyên nhân, đồng cơ phạm tội “giết người” của bị cáo.

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

Tại quyết định giám đốc thẩm số 75/UBTP-HS ngày 27-9-2002, Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã quyết định: “Huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 2857/HSPT ngày 3-11-2000 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và bản án Hình sự sơ thẩm số 2231/HSST ngày 28-9-1999 của Toà án nhân dân  thành phố Hồ Chí Minh để điều tra lại theo thủ tục chung” với nhận định như nội dung của kháng nghị nêu trên.

 

2. Kháng nghị giám đốc thẩm Số 37/VKSTC-V3 ngày 6-6-2002 đối với vụ án: Nguyễn Văn Hiệp phạm tội “cố ý gây thương tích”

 Xét bản án hình sự phúc thẩm số 27/HSPT ngày 01-03-2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt Nguyễn Văn Hiệp sinh 10-2-1976 trú quán tại xã Định Công, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa về tội “Cố ý gây thương tích”.

Nhận thấy:

Khoảng 20 giờ ngày 9-9-2001 Nguyễn Văn Hiệp đang uống rượu cùng với Lê Văn Minh, Lê Văn Thanh và Đào Công Văn tại nhà anh Nguyễn Văn Lân thì có anh Nguyễn Văn Sen đến chơi. Hiệp rót một chén rượu mời anh Sen nhưng anh Sen không uống và rót một cốc nước nóng để uống. Thấy vậy, Hiệp cầm cốc nước của anh Sen hắt đi và cầm chén rượu để lên đùi anh Sen, anh Sen cầm chén rượu để lên bàn và nói: “chú hỗn, tôi đang uống nước sao chú hắt nước của tôi đi” rồi anh Sen đứng dậy đi ra cửa. Thấy vậy, Hiêp nói: “anh thích kiểu gì” rồi cầm chai rượu đang uống đập vỡ. Sau đó Hiệp rồi dùng tay phải ấn cổ anh Sen, tay trái cầm vỏ chai vỡ có cạnh nhọn, sắc đâm vào  anh Sen làm bụng anh Sen bị thủng bụng.

Theo kết quả giám định pháp y của Tổ chức giám định pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận anh Nguyễn Văn Sen bị thương tích với tỷ lệ thương tật là 26%.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 22/HSST ngày 19-12-2001, Tòa án nhân dân  huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa áp dụng điểm i khoản 2 Điều 104; điểm b, g khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt Nguyễn Văn Hiệp 24 tháng tù về tội “cố ý gây thương tích”.

Sau khi xét xử sơ thẩm Nguyễn Văn Hiệp kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Anh Nguyễn Văn Sen kháng cáo xin cho Nguyễn Văn Hiệp được cải tạo tại địa phương.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 27/HSPT ngày 01-3-2002, Tòa án nhân dân  tỉnh Thanh Hóa áp dụng điểm i khoản 2 Điều 104; điểm b, g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt Nguyễn Văn Hiệp 18 tháng tù về tội “cố ý gây thương tích”.

 

Xét thấy:

Nguyễn Văn Hiệp vô cơ dùng phần cổ chai vỡ có cạnh sắc, nhọn đâm vào bụng anh  Nguyễn Văn Sen gây tổn hại cho sức khỏe anh Sen với tỷ lệ thương tích là 26%. Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn Hiệp thể hiện tính chất côn đồ hung hãn coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt Nguyễn Văn Hiệp 24 tháng tù là nhẹ. Nhưng Tòa án cấp phúc thẩm giảm hình phạt cho Nguyễn Văn Hiệp xuống còn 18 tháng tù là đánh giá không đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Vì các lẽ trên,

 
Quyết định:


Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 27/HSPT ngày 01-3-2002 Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Đề nghị Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm  hủy phần quyết định về hình phạt của bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và giữ nguyên quyết định về hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm số 22/HSST ngày 19-12-2001 của Tòa án nhân dân  huyện Yên Định đối với Nguyễn Văn Hiệp.

 __________________ 

- Lý do kháng nghị để huỷ bản án phúc thẩm:

Toà án cấp phúc thẩm giảm hình phạt cho Nguyễn Văn Hiệp từ 24 tháng tù xuống 18 tháng tù là quá nhẹ không đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do Hiệp gây ra.

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 88/HS-GĐT ngày 18-7-2002 Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định: “Hủy phần hình phạt tại bản án hình sự phúc thẩm số 27/HSPT ngày 01-3-2002 của Tòa án nhân dân  tỉnh Thanh Hóa và giữ nguyên hình phạt tại bản án hình sự sơ thẩm số 22/HSST  ngày 19-12-2001 của Tòa án nhân dân  huyện Yên Định đã áp dụng điểm i khoản 2 Điều 104; các điểm b, g khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt Nguyễn Văn Hiệp 24 tháng tù về tội “cố ý gây thương tích”.


3. Kháng nghị giám đốc thẩm Số 42/VKSTC-V3 ngày 9-7-2002 đối với vụ án: Nguyễn Văn Lập phạm tội “cố ý gây thương tích”

 Xét bản án hình sự phúc thẩm số 60/HSPT ngày 29-11-2001 của Tòa án nhân dân  tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xử phạt Nguyễn Văn Lập sinh năm 1970; trú tại thôn 1, xã Suối Rao, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu;  về tội “Cố ý gây thương tích”.


Nhận thấy:


Khoảng 13 giờ ngày 27-3-2001, Nguyễn Văn Lập đang ở nhà thì nghe có  tiếng xe máy cày chạy qua phần đất nhà Lập. Sau đó Lập ra xem và phát hiện phía gia đình anh Trần Văn Thành đã xếp đá thành  hàng dài lấn qua ranh đất của nhà Lập. Do không đồng  ý cho  anh Trần Văn Thành xếp đá lấn ranh đất của mình nên Nguyễn Văn Lập sang gặp vợ chồng anh Thành thì hai bên lời qua tiếng lại, sau đó Lập bỏ về nhà. Khoảng 15 phút sau Lập cầm một con dao rựa và một con dao thái Lan loại nhỏ đi đến phần đất bị xếp đá lấn. Lúc này Lập nhìn thấy anh Thành đang đứng bên phần đất nhà anh Thành, Lập bỏ con dao rựa xuống phần đất của gia đình Lập và cầm con dao Thái Lan đi sang chỗ anh Thành đang đứng. Khi đến chỗ anh Thành thì Lập vừa nói vừa kéo tay anh Thành đến xem phần đất anh Thành xếp đá lấn. Anh Thành gạt tay Lập ra liền bị Lập dùng dao Thái Lan đâm vào bụng và vào tay anh Thành.

Tại bản giám định pháp y số 94 ngày 25-5-2001 của Tổ chức giám định pháp y tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu kết luận: tỷ lệ thương tích của anh Trần Văn thành là 40% tạm thời.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 31/HSST ngày 18-9-2001, Tòa án nhân dân  huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, đ, h, p khoản 1 Điều 46; Điều 47 BLHS xử phạt Nguyễn Văn Lập 15 tháng tù về tội “cố ý gây thương tích”; buộc Nguyễn Văn Lập phải bồi thường cho anh Trần Văn Thành số tiền là 4.554.405đồng.

Ngày 24-9-2001 anh Trần Văn Thành kháng cáo đề nghị xét xử tăng tiền bồi thường.

Ngày 30-9-2001 Nguyễn Văn Lập kháng cáo xin giám định lại thương tích của người bị hại.

Ngày 12-10-2001 anh Trần Văn Thành có đơn đề nghị xét xử tăng hình phạt và tăng bồi thường.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 60/HSPT ngày 29-11-2001 Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu  áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn Lập 15 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”;  buộc Nguyễn Văn Lập phải bồi thường cho anh Trần Văn Thành số tiền là 5.334.000đồng (không kể 750.000 đồng đã bồi thường).


Xét thấy:


Nguyễn Văn Lập đã có hành vi dùng dao Thái Lan là hung khí nguy hiểm  đâm vào bụng, tay của anh Trần Văn Thành gây thương tích cho anh Thành với tỷ lệ là 40%.

Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn Lập thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự. Tòa cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã áp dụng khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 15 tháng tù là nhẹ và không đúng quy định của pháp luật.

Về phần bồi thường thiệt hại Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm chưa xem xét khoản tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị hại là thiếu sót, vì vậy cần phải buộc bị cáo phải bồi thường khoản tiền này để bảo đảm quyền lợi của người bị hại.

 Vì các lẽ trên,

 
Quyết định:

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 60/HSPT ngày 29-11-2001 của Tòa án nhân dân  tỉnh  Bà Rịa Vũng Tàu. Đề nghị Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và bản án hình sự sơ thẩm số 31/HSST ngày 18-9-2001 của Tòa án nhân dân  huyện Châu Đức để điều tra lại theo quy định của pháp luật.

__________________ 

 - Lý do kháng nghị để huỷ bản án sơ thẩm và phúc thẩm:

+ Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự, Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm áp dụng khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 15 tháng tù là nhẹ và không đúng pháp luật.

+ Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chưa xem xét khoản tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho bị hại là thiếu sót.

 - Kết quả xét xử giám đốc thẩm :

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 104/HS-GĐT ngày 15-8-2002, Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định: “Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 60/HSPT ngày 29-11-2001 của Tòa án nhân dân  tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu và bản án hình sự sơ thẩm số 31/HSST ngày 18-9-2001 của Tòa án nhân dân  huyện Châu Đức để giải quyết lại từ giai đoạn điều tra”.

 

4. Kháng nghị giám đốc thẩm Số 65/VKSTC-V3 ngày 23-9-2002 đối với vụ án: Nguyễn Văn May phạm tội “cố ý gây thương tích ”

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 57/HSPT ngày 24/5/2002 của Tòa án nhân dân  tỉnh Bắc Giang xử phạt: Nguyễn Văn May sinh năm 1964; trú tại: Thôn Mẫu Sơn, xã Chu Diện, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang về tội “cố ý gây thương tích”.

Nhận thấy:

Do trước đây Nguyễn Văn May nợ tiền mua lợn giống của gia đình ông Nguyễn Văn Đệ nên ngày 26-6-2001 giữa May và anh Nguyễn Văn Định (con trai ông Đệ) đã xảy ra cãi nhau.

Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 28-6-2001 anh Định đi qua cổng nhà May để vào nhà ông Lành lấy xe đạp thì chị Thúy (vợ May) nhìn thấy gọi anh Định vào nhà để trả nợ. Do anh Định không vào nên hai bên lời qua tiếng lại rồi May và chị Thúy đuổi đánh anh Định được ông Phan (hàng xóm) can ngăn nên vợ chồng May đi về nhà, còn Định tiếp tục sang nhà ông Lành để lấy xe đạp. Nhưng do vẫn còn bực tức với anh Định nên May giằng con dao quắm từ tạy chị Thúy chạy sang nhà ông Lành để đuổi đánh anh Định. Thấy vậy, anh Định chạy vòng quanh sân và vườn nhà ông Lành để tránh, anh Bùi và ông Lành cũng xông vào can ngăn May nhưng không được. Do khi chạy bị vấp ngã ngửa nên anh Định đã bị May chém vào cẳng tay trái. Sau khi chém anh Định bị chảy máu, May cầm dao bỏ về nhà. Anh Định được đưa đến bệnh viện huyện Lục Nam cấp cứu. Với thương tích như sau: Vết thương dài 15cm ở cẳng tay trái đứt động mạch chủ, đứt gần hết các cơ dưới cổ tay, mất toàn bộ cảm giác 5 ngón tay, một phần cơ dập nát ở xương trụ.

Theo bản kết luận giám định pháp y  ngày 8-8-2001 của Hội đồng  giám định pháp y trung ương thì tỉ lệ thương tích của anh Nguyễn Văn Định là 22% để lại di chứng bàn tay bị co quắp do đứt  các gân duỗi và thần kinh trụ.

 Tại bản án hình sự sơ thẩm số 29/HSST ngày 29/11/2001, Tòa án nhân dân  huyện Lục Nam áp dụng khoản 2 Điều 104; Điều 41; Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt Nguyễn Văn May 30 tháng tù về tội “cố ý gây thương tích”; buộc Nguyễn Văn May phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn Định số tiền là 9.000.000 đồng.

Ngày 3-12-2001 Nguyễn Văn May kháng cáo xin xét xử lại vụ án.

Ngày 7-12-2001 anh Nguyễn Văn Định kháng cáo đề nghị tăng hình phạt và tăng bồi thường đối với Nguyễn Văn May.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 57/HSPT ngày 24-5-2002, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang áp dụng khoản 2 Điều 104; Điều 42, điểm b, k, p khoản 1 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 và Điều 613 Bộ luật dân sự xử phạt Nguyễn Văn May 2 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 3 năm về tội “cố ý gây thương tích”; Buộc Nguyễn Văn May phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn Định số tiền là 5.600.000đ.


  Xét thấy:

Nguyễn Văn May đã dùng dao quắm là hung khí nguy hiểm để chém gây thương tích cho anh Nguyễn Văn Định. Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn May thể hiện tính côn đồ hung hãn, coi thường pháp luật và sức khỏe của người khác. Bởi vậy Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 để kết án bị cáo là đúng và xử phạt 30 tháng tù là không nặng.

Sau khi phạm tội bị cáo khai báo không thành khẩn nhưng Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ phạm tội do lạc hậu và người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với bị cáo là không đúng. Mặt khác trước khi xét xử phúc thẩm bị cáo bồi thường được số tiền 2.000.000đ cho anh Định, nhưng căn cứ vào tính chất và hậu quả của vụ án thì Tòa án cấp phúc thẩm giảm hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo là không đúng pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Tòa án cấp sơ thẩm quyết định Nguyễn Văn May phải bồi thường cho người bị hại số tiền là 9.000.000đ là hợp lý và phù hợp với các chi phí và thiệt hại thực tế của bị hại.

 Vì các lẽ trên,

 Quyết định:

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 57/HSPT ngày 24/5/2002 của Tòa án nhân dân  tỉnh Bắc Giang.

Đề nghị Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và giữ nguyên bản án Hình sự sơ thẩm số 29/HSST ngày 29-11-2001 của Tòa án nhân dân  huyện Lục Nam đối với Nguyễn Văn May.

 __________________ 

 - Lý do kháng nghị để huỷ bản án hình sự phúc thẩm:

+ áp dụng các tình tiết giảm nhẹ không đúng.

+ Cho hưởng án treo không đúng pháp luật.

+ Quyết định việc bồi thường thiệt hại không đúng với thực tế chi phí của bị hại.

 - Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 122/HSST-GĐT Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định: “Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 57/HSPT ngày 24/5/2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 29/HSST ngày 29-11-2001 của Tòa án nhân dân  huyện Lục Nam như sau: áp dụng khoản 2 Điều 104; Điều 41, Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt Nguyễn Văn May 30 tháng tù về tội cố ý gây thương tích; buộc Nguyễn Văn May phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn Định số tiền là 9.000.000 đồng” với nhận định như nội dung kháng nghị nêu trên.

 

5. Kháng nghị giám đốc thẩm Số 26/VKSTC-V3 ngày 9-7-2003 đối với vụ án: Phan Thanh Tình phạm tội “cố ý gây thương tích”

 Xét bản án hình sự phúc thẩm số 64/HSPT ngày 25/9/2002 của Tòa án nhân dân  tỉnh Quảng Nam  đã xử phạt Phan Thanh Bình sinh năm 1975;  trú tại: Thôn 5 xã Bình Trung, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Về tội: “Cố ý gây thương tích”

Nhận thấy:


Khoảng 18 giờ ngày 17-2-2002 anh Võ Văn Hải và Trần Ngọc Hoành trên đường đi chơi về ngang qua nhà anh Phan Thanh Tự thì gặp Phan Thanh Tình và anh Phan Văn Mạnh từ trong nhà anh Tự đi ra. Nghe anh Hải hát thì Tình nói: Đứa nào hát ồn ào?” và anh Hải trả lời “tao đây chứ ai” rồi đi tiếp một đoạn thì dừng xe lại. Thấy anh Hải dừng xe lại thì Tình đi đến bên anh Hải nói: “mi nhỏ mà ăn nói mất dậy” đồng thời dùng tay nắm cổ áo và tát anh Hải hai cái. Anh Hải đẩy xe vào người Tình rồi bỏ chạy. Khi anh Hải chạy đến quán của anh Trần Văn Hoàng  thì gặp anh Đỗ Hải Long và anh Hải nhờ anh Long chở đến nhà anh Tự để anh lấy xe đạp. Khi anh Long chở anh Hải đến cổng nhà anh Tự, anh Hải vào nhà anh Tự lấy xe đạp thì bị Tình lấy một đoạn tre đánh vào đầu, vào miệng của anh Hải rồi bỏ trốn.

Tại bản giám định pháp y số 240 ngày 11/3/2002, Hội đồng giám định pháp y tỉnh Quảng Nam kết luận tỷ lệ thương tật của anh Võ Văn Hải là 28%

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 21/HSST ngày 30/7/2002, Tòa án nhân dân  huyện Thăng Bình áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, p, khoản 1Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 613 Bộ luật dân sự xử phạt Phan Thanh Tình 18 tháng tù về tội “cố ý gây thương tích”; buộc Phan Thanh Tình phải bồi thường cho anh Võ Văn Hải số tiền là 2.524.000đồng.

Ngày 7/8/2002 Phan Thanh Tình làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 64/HSPT ngày 25/9/2002, Tòa án nhân dân  tỉnh Quảng Nam áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự xử phạt Phan Thanh Tình 12 tháng tù về tội “cố ý gây thương tích”.

Xét thấy:

Theo các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nhận thấy: Tòa án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm áp dụng khoản 2 Điều 104 để xử phạt Phạm thanh Tình về tội “cố ý gây thương tích” là có căn cứ và đúng pháp luật.

Giữa Phan Thanh Tình và Võ Văn Hải không có mâu thuẫn gì, chỉ vì một chuyện nhỏ nhặt mà Tình đã đánh anh Hải gây thương tích: vỡ xương trán hốc mắt phải, mẻ các răng R11, R13… Hành vi phạm tội của bị cáo Tình thể hiện tính côn đồ hung hãn, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ để xét xử  bị cáo 18 tháng tù (dưới mức thấp nhất của khung hình phạt) là có sự chiếu cố giảm nhẹ. Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ vào việc sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo bồi thường thêm 500.000đ cho bị hại để giảm hình phạt cho bị cáo là quá nhẹ, không tương xứng với tính chất mức độ của hành vi phạm tội và hậu quả do bị cáo gây ra.

Vì các lẽ trên,

Quyết định:

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 64/HSPT ngày 25/9/2002 của Tòa án nhân dân  tỉnh Quảng Nam. Đề nghị Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy phần quyết định về hình phạt của bản án hình sự phúc thẩm nên trên, giữ nguyên quyết định về hình phạt của bản án HSST số 21/HSST ngày 30/7/2002 của Tòa án nhân dân  huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam đối với Phan Thanh Tình.

 __________________ 

- Lý do kháng nghị huỷ phần quyết định về hình phạt của bản án phúc thẩm:

Giảm hình phạt cho bị cáo từ 18 tháng tù xuống còn 12 tháng tù là quá nhẹ không tương xứng với tính chất mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 33/HS-GĐ ngày 29/7/2003, Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định: “Huỷ phần quyết định về hình phạt tại bản án hình sự phúc thẩm số 64/HSPT ngày 25-9-2002 của Toà án nhân dân  tỉnh Quảng Nam đối với Phan Thanh Tình và giữ nguyên quyết định về hình phạt tại bản án hình sự sơ thẩm số 21/HSST ngày 30-7-2002 của Toà án nhân dân  huyện Thăng Bình đã áp dụng khoản 2 Điều 104; các điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự  xử phạt Phan Thanh Tình 18 tháng tù …” với nhận định như kháng nghị nêu trên.

 

6. Kháng nghị giám đốc thẩm Số 01/VKSTC-V3Ngày 03-1-2003 đối với vụ án Đinh Văn Linh phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 71/HSPT ngày 21-8-2002 của Toà án nhân dân  tỉnh Phú Yên xử phạt Đinh Văn Linh, sinh 1975; trú tại: Thôn 1, xã Đa Lộc, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên; về tội “Cố ý gây thương tích”

Nhận thấy:

Vào khoảng 18giờ  ngày 29-6-2001, Nguyễn Đức Lâm, Võ Văn Văn Định, Dương Minh Trang và Võ Văn Cảnh cùng uống rượu tại lán xây dựng của anh Định và anh Cản đến 23h cùng ngày thì Lâm bị say rượu nên các anh Trang, Định, Cảnh đưa Lâm về nhà. Trên đường đi anh Lâm nói to tiếng nên Đinh Văn Linh ngồi chơi gần đó nghe thấy nên hỏi: “Đứa nào ồn ào không cho người ta ngủ”? Anh Lâm chửi tục và trả lời: “Thằng nào hỏi tao, tao là dân Bình Định đây”. Theo lời khai của Linh thì Linh đến gần để xem là ai, thì bị anh Lâm dùng tay đấm một cái vào mặt. Do bị đánh nên Linh vừa la làng, vừa nhặt đá ném về phía anh Lâm, Trang, Định, và Cảnh làm anh Trang bị thương vào trán, anh Định bị trúng vào mắt phải. Do anh Định bị thương, nên anh Cảnh dìu Định chạy vào nhà anh Nguyễn Văn Lang xin thuốc băng bó vết thương. Lúc này Linh vẫn đuổi theo anh Lâm để đánh nhưng đuổi không kịp nên Linh quay trở lại nơi xẩy ra đánh nhau thì gặp Lơ O Thừa và một số thanh niên trong làng. Nghe tiếng ồn ào ở phía nhà anh Lang nên Linh cùng số thanh niên nói trên chạy đến nhà anh Lang thì thấy anh Cảnh và anh Định. Những thanh niên này đánh anh Cảnh, anh Cảnh bỏ chạy, còn anh Định bị Linh dùng đá ném trúng ngực Định và bị số thanh niên dùng cây đánh. 

Tại bản giám định pháp y số 236 ngày 13-8-2001 của Hội đồng giám định pháp y tỉnh Phú Yên kết luận: Tỷ lệ thương tích của anh Võ Văn Định là 51%.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/HSST ngày 29-5-2002, Toà án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên áp dụng khoản 2 Điều 104; các điểm đ, p, khoản 1 điều 46; khoản 2 Điều 60; Khoản 2 Điều 42 Bộ luật hình sự; Điều 613 Bộ luật dân sự xử phạt Đinh Văn Linh 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng; buộc Đinh Văn Linh phải bồi thường cho anh Võ Văn Định là 1.615.000 đồng.

Ngày 12-6-2002 anh Võ Văn Định kháng cáo yêu cầu xét xử phúc thẩm tăng hình phạt và tăng bồi thường đối với Đinh Văn Linh.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 71/HSPT ngày 21-8-2002, Toà án nhân dân  tỉnh Phú Yên giữ nguyên quyết định của Toà án cấp sơ thẩm về tội danh, hình phạt và bồi thường đối với Đinh Văn Linh.

Xét thấy:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy: Toà án các cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm kết án Đinh Văn Linh về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng.

Trong vụ án này, mặc dù anh Lâm đi cùng với anh Định có sai phạm là uống rượu say, nói to, văng tục trong đêm khuya ở khu dân cư nhưng chưa có cơ sở vững chắc để khẳng định anh Lâm đánh anh Định trước. Mặt khác, anh Định là người bị gây thương tích hoàn toàn không có lỗi. Bị cáo sau khi phạm tội đã khai báo quanh co không thành khẩn về hành vi phạm tội của mình. Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm đ, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự  là chưa chính xác. Bị cáo phạm tội với tính chất quyết liệt, hung hãn cao thể hiện sự coi thường pháp luật và sức khoẻ  của người khác. Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm xử phạt bị cáo 2 năm tù là nhẹ, lại cho hưởng án treo là áp dụng không đúng pháp luật, không đánh giá đúng các tình tiết của vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà sơ thẩm người bị hại đã có yêu cầu được bồi thường về việc phẫu thuật mắt và lắp mắt giả  cũng như bồi thường mất thu nhập nhưng chưa được giải quyết. Sau khi xét xử sơ thẩm, người bị hại có kháng cáo yêu cầu tăng bồi thường thiệt hại và cung cấp chứng cứ điều trị lắp mắt giả tại thành phố Hồ Chí Minh. Toà án cấp phúc thẩm không khắc phục sai sót của Toà án cấp sơ thẩm, không xem xét những chứng từ do người bị hại cung cấp để buộc bị cáo bồi thường những chi phí này và khoản mất thu nhập của người bị hại là không đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Quyết định:

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 71/HSPT ngày 21-8-2002 của Toà án nhân dân  tỉnh Phú Yên.

Đề nghị Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm huỷ bản án hình sự phúc thẩm nêu trên để xét xử phúc thẩm lại không cho hưởng án treo và buộc Đinh Văn Linh bồi thường cho người bị hại theo đúng pháp luật.

_____________________________

 - Lý do kháng nghị để huỷ bản án phúc thẩm:

+ Áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không đúng.

+ Cho bị cáo hưởng án treo không đúng quy định của pháp luật.

+ Quyết định việc bồi thường thiệt hại không đúng quy định của pháp luật.

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

Tại quyết định giám đốc thẩm số 06/HS-GĐT ngày 18-2-2003 Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao đã quyết định: “Huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 71/HSPT ngày 21-8-2002 của Toà án nhân dân  tỉnh Phú Yên để xét xử phúc thẩm lại không cho Đinh Văn Linh hưởng án treo và buộc Đinh Văn Linh phải bồi thường thiệt hại cho người bị hại theo đúng quy định của pháp luật” với nhận định như kháng nghị nêu trên.

 

7. Kháng nghị giám đốc thẩm Số 02/VKSTC-V3 ngày 16-1-2003 đối với vụ án Nguyễn Văn Đặt phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 127/HSPT ngày 26-11-2002 của Toà án nhân dân  tỉnh Bắc Giang xử phạt Nguyễn Văn Đặt sinh năm 1949; trú tại: Xóm Tó, xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang về tội “cố ý gây thương tích”.


Nhận thấy:

Khoảng 8giờ 30 phút  ngày 9-5-2001 anh Trần Văn Hán đi thăm vườn thấy có dấu chân trâu nghé vào vườn của anh ăn dây khoai lang. Lúc này anh Hán thấy anh Nguyễn Văn Thảo  đang làm cỏ na gần đó nên nói với anh Thảo “trâu nghé của nhà mày phải  nhốt vào ai bảo để ăn hết dây khoai lang nhà tao”. Anh Thảo nói lại với anh Hán “cách đây hai hôm cháu thấy trâu làng bên từ rừng xuống ăn, cháu đuổi mãi mới hết”. Anh Hán bảo “thế còn mấy lần trước trâu nghé nhà mày còn cãi à”. Anh Thảo nói “hôm nay trâu nhà cháu đang nhốt ở chuồng, chú nói phải có cơ sở, quả tang”… dẫn đến hai bên lời qua tiếng lại, thách thức đánh nhau. Anh Hán nhảy từ vườn nhà mình sang vườn nhà anh Thảo rồi hai bên du đẩy nhau, anh Thảo cầm cuốc bàu đánh anh Hán vào tay trái, vào đầu gối phải và vào bả vai trái. Thấy vậy Nguyễn Văn Đặt (bố của Thảo) chạy ra giằng cuốc của Thảo vứt đi và quát Thảo đi về. Anh Hán chạy vào bếp nhà anh Trần Văn Chiến ở  gần đó lấy một con dao phay chạy ra xông vào phía Đặt và dùng dao chém Đặt, Đặt dùng bay để sới cỏ đỡ lại. Lúc này có anh Nguyễn Văn Toàn, anh Trần Văn Chiến, chị Nguyễn Thị Hà và chị Viên Thị Thường vào can ngăn không cho 2 người đánh nhau. Anh Hán cầm dao đi về phía vườn nhà mình thấy Thảo tay  cầm con dao phay trắng đứng ở gốc xoài, anh Hán nói: “Thằng kia mày vừa đánh tao, mày có giỏi thì mày đứng đấy”. Rồi anh Hán cầm dao đuổi theo Thảo, Thảo sợ bỏ chạy. Thấy anh Hán cầm dao đuổi Thảo nên Đặt cầm bay xới cỏ đi về, vừa đi vừa đi vừa nói  “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Anh Hán không đuổi được Thảo nên quay trở lại nhà Đặt.

Theo Nguyễn Văn Đặt khai: Khi anh Hán quay lại đến chỗ sân gạch giáp phần sân xi măng thì anh Hán dùng dao chém Đặt nên Đặt dùng bay đỡ. Anh Hán nhảy song phi đá vào bụng Đặt thì Đặt dơ bay đỡ, anh Hán vướng chân ngã ngửa xuống sân và bị chảy máu ở đầu.

Theo anh Trần Văn Hán khai: Khi đuổi Thảo không được, anh quay lại liền bị Đặt dùng cán bay ngáng chân làm anh bị ngã sấp mặt xuống sân nhà Đặt và liền lúc đó bị Đặt dùng cán bay đánh vào gáy làm anh bị ngất xỉu.

Tại Bệnh án do trạm xá xã Nghĩa Phương xác nhận vết thương của anh Trần Văn Hán như sau: Vùng đỉnh đầu trên gáy có vết sước khoảng 7cm, đã khâu 4 mũi chỉ không tiêu, dưới bả vai trái xưng nề bầm tím, đầu gối phải có vết sượt phù nề bầm tím nhẹ không chảy máu, đỉnh tai trái xưng  nề.

Tại bản giám định pháp y số 675 ngày 26/7/2001 của Tổ chức giám định pháp y tỉnh Bắc Giang kết luận: Anh Trần Văn Hán bị tổn hại sức khoẻ với tỷ lệ thương tật là 4%.

Tại bản giám định y pháp số 886/1 ngày 27/8/2001 của Tổ chức giám định pháp y trung ương kết luận: Anh Trần Văn Hán bị tổn hại sức khoẻ với tỷ lệ thương tật là 13%.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 15/HSST ngày 18/6/2002, Toà án nhân dân  huyện Lục Nam áp dụng khoản 2 Điều 89; Điều 173 Bộ  luật tố tụng hình sự, tuyên bố Nguyễn Văn Đặt không phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Ngày 26/6/2002 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm nêu trên và yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử  Nguyễn Văn Đặt phạm tội “Cố ý gây thương tích” và phải bồi thường cho anh Trần Văn Hán.

Ngày 20/6/2002 anh Trần Văn Hán kháng cáo với lý do Toà án cấp  sơ thẩm tuyên bố Nguyễn Văn Đặt không phạm tội “Cố ý gây thương tích” là không đúng pháp luật.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 127/HSPT ngày 26/11/2002, Toà án nhân dân  tỉnh Bắc Giang đã quyết định  giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 15/HSST ngày 18-6-2002 của Toà án nhân dân  huyện Lục Nam đối với Nguyễn Văn Đặt.

Xét thấy:

Việc xô sát giữa Nguyễn Văn Đặt với anh Trần Văn Hán xảy ra tại sân nhà Đặt là  có thật.

Theo lời khai của những người làm chứng như anh Trần Văn Chiến, anh Nguyễn Văn Toàn, chị Nguyễn Thị Hà và chị Viên Thị Thường đều khai thương tích ở gáy của anh Hán là do Đặt dùng cán bay đánh sau khi anh Hán bị ngã, nhưng lời khai của những người này về diễn biến của việc  xô xát và lý do anh Hán bị ngã lại chưa thống nhất. Anh Chiến và chị Hà khai anh Hán bị ngã là do Đặt dùng  cán bay ngáng đường; anh Toàn thì khai giữa anh Hán và Đặt có xô xát  với nhau và trong quá trình xô xát thì anh Hán bị ngã, nhưng có bản khai anh Toàn lại khai không nhìn thấy anh Hán và Đặt xô xát với nhau; còn chị Thường thì khai không nhìn thấy việc Đặt dùng bay ngáng chân anh Hán.

Nguyễn Văn Đặt khai anh Hán bị thương tích ở gáy là do anh Hán nhảy lên đá Đặt, bị Đặt dùng cán bay cản lại nên đã bị ngã xuống sân gạch nơi tiếp giáp với sân xi măng của nhà Đặt. Anh Nguyễn Văn Toàn khai vị trí anh Hán ngã là sân gạch rất phẳng, anh Lành Văn Hoan thì khai vị trí anh Hán nằm sau khi bị đánh là gần cổng nhà Đặt, còn theo sơ đồ hiện trường thì không phải là nơi tiếp giáp giữa 2 sân. Tại biên bản  xem xét hiện trường do cơ quan công an huyện Lục Nam lập ngày 16-4-2002 thì phần tiếp giáp giữa sân xi măng với sân gạch của nhà Đặt hơi gợn, nhưng lại không mô tả tỷ mức độ chênh lệch giữa sân xi măng với sân gạch.

Theo lời khai của anh Trần Văn Hải là người trực tiếp băng bó khâu vết thương cho anh Hán ngay sau khi sự việc xẩy ra thì vết thương của anh Hán nham nhở, trong khi hung khí mà Đặt dùng để đánh anh Hán là cán bay dùng để xới cỏ, nhưng lại chưa xác định hình thù của  cán bay để xác định sự phù hợp giữa thương tích của anh Hán với vật gây nên thương tích.

Với các chứng cứ mâu thuẫn nêu trên thì việc xác định lại hiện trường cụ thể của vụ án, sự xô xát giữa bị cáo với anh Hán tại sân nhà bị cáo, xác định lại lời khai của những người làm chứng, dựng lại hiện trường và xác định lại hung khí gây án là rất cần thiết để giải quyết vụ án được chính xác, đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên,


Quyết định:

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 127/HSPT ngày 26-11-2002 của Toà án nhân dân  tỉnh Bắc Giang.

Đề nghị Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm huỷ bản án hình sự phúc thẩm nêu trên  và bản án hình sự sơ thẩm số 15/HSST ngày 18-6-2002 của Toà án nhân dân  huyện Lục Nam đối với Nguyễn Văn Đặt để điều tra xét xử lại theo thủ tục chung.

_____________________________

 - Lý do kháng nghị huỷ bản án Hình sự sơ thẩm và phúc thẩm:

 Tất cả các chứng cứ như: Lời khai của người làm chứng, lời khai của bị cáo, hiện trường, hung khí gây án và thương tích của bị hại có nhiều mâu thuẫn chưa được điều tra làm rõ.

 - Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

Tại quyết định giám đốc thẩm số 07/HS-GĐT ngày 18-2-2003, Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao đã quyết định: “Huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 12/HSPT ngày 26-11-2002 của Toà án nhân dân  tỉnh Bắc Giang và bản án Hình sự sơ thẩm số 15/HSST ngày 18-6-2002 của Toà án nhân dân  huyện Lục Nam đối với Nguyễn Văn Đặt để điều tra lại theo thủ tục chung” với nhận định như kháng nghị nêu trên.


8. Kháng nghị giám đốc thẩm Số 05/VKSTC-V3 ngày 11-3-2003 đối với vụ án Nguyễn Thị Bích Thuỷ phạm tội: “Cố ý gây thương tích”

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 02/HSPT ngày 28-5-2002 của Toà án nhân dân  tỉnh Kon Tum xử phạt Nguyễn Thị Bích Thuỷ sinh năm 1964; trú tại: số 48B Hoàng Văn Thụ, phường Quyết Thắng, thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum; về tội “Cố ý gây thương tích”. (Trong vụ án nàycòn có bị cáo Nguyễn Thị Tích không bị kháng nghị).


Nhận thấy:

Năm 1998 Nguyễn Thị Bích Thuỷ mua của anh Trần Phước Long và chị Nguyễn Thị Kim Nga hai chiếc xe máy với giá 62.000.000 đồng, Thuỷ đã trả đủ tiền cho anh Long và nhận xe. Khi Thuỷ đi làm thủ tục đăng ký sở hữu xe thì được Cảnh sát giao thông tỉnh Kon Tum cho biết hai chiếc xe nêu trên có giấy tờ giả không đăng ký được.

Khoảng 9 giờ sáng ngày 9/6/2001, Thuỷ gặp chị Nguyễn Thị Kim Nga vợ của anh Long trên đường và hỏi: “bây giờ giải quyết như thế nào?, Chị Nga trả lời “chờ công an giải quyết”. Sau đó, chị Nga và Thuỷ cùng về nhà bà Nguyễn Thị Ngọc (là mẹ của chị Nga). Thấy Thuỷ đến nhà thì  bà Ngọc nói: Việc mua bán xe của ai thì đến đó mà giải quyết” nên Thuỷ nói lại bà Ngọc dẫn đến việc xô xát giữa bà Ngọc và Thuỷ. Sau đó, Công an phường mời hai bên đến trụ sở giải quyết.

Về nhà Thuỷ kể lại với mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Tích về việc xô xát giữa mình với bà Ngọc. Nghe chuyện bà Tích bảo:  “để tối xuống bà Ngọc nói chuyện”. Đến khoảng 19h 30’ cùng ngày, Thuỷ và bà Tích cùng một số người khác đi đến nhà bà Ngọc. Tại đây, Thuỷ và bà Tích xông vào đánh bà Ngọc bằng tay và bằng guốc, tiếp sau đó Thuỷ chạy ra ngoài nhặt 1/2 viên gạch ném trúng đầu bà Ngọc. Một số thanh niên khác xông vào đánh ông Hoài (chồng của bà Ngọc) gây thương tích.

Theo kết quả giám định pháp y số 65 và 66 ngày 27-7-2001,  Hội đồng giám định pháp y tỉnh Kon Tum kết luận: Tỷ lệ thương tích của ông Nguyễn Cảnh Hoài là 21% và của bà Ngọc là 23%.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 01/HSST ngày 10/01/2002, Toà án nhân dân  thị xã Kon Tum áp dụng điểm I khoản 1 và 2 Điều 104 BLHS xử phạt Nguyễn Thị Bích Thuỷ 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Ngày 23-4-2002 ông Nguyễn Cảnh Hoài và bà Nguyễn Thị Ngọc đều có đơn kháng cáo yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại. Nếu bị cáo thực sự ăn năn hối cải và bồi thường thiệt hại thì xin miễn chấp hành hình phạt cho Nguyễn Thị Bích Thuỷ.

Ngày 24-1-2002 Nguyễn Thị Bích Thuỷ kháng cáo xin giảm hình phạt và được hưởng án treo. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Thuỷ rút kháng cáo.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 02/HSPT ngày 28-5-2002, Toà án nhân dân  tỉnh Kon Tum chấp nhận việc rút kháng cáo của Thuỷ. Bác kháng cáo của ông Hoài và bà Ngọc, giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm nêu trên.

Xét thấy:

Toà án cấp  sơ thẩm và phúc thẩm xử phạt Nguyễn Thị Bích Thuỷ về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ và đúng pháp luật . Tuy nhiên, xét thấy nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của Thuỷ là do Thuỷ bị bức xúc về việc đã bỏ ra số tiền lớn để mua hai chiếc xe máy của vợ chồng anh Long và chị Nga, nhưng anh Long và chị Nga giao cho Thuỷ hồ sơ của 2 chiếc xe máy là giấy tờ giả nên không đăng ký sở hữu được. Mặt khác, trong khi xô sát với bà Ngọc, Thuỷ cũng bị phía bà Ngọc đánh thương tích vẹo mũi phải đi bệnh viện điều trị; hiện nay sức khoẻ của bị cáo  còn yếu vì đã qua nhiều lần phẫu thuật vẫn đang điều trị bệnh. Sau khi xét xử phúc thẩm bị cáo đã ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã đến gia đình bị hại thoả thuận mức bồi thường thiệt hại là 40 triệu đồng và đã bồi thường cho gia đình bị hại được 15 triệu đồng. Người bị hại cũng đã chấp nhận việc thoả thuận bồi thường của gia đình bị cáo. Do vậy cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Vì các lẽ trên,

Quyết định:

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 02/HSPT ngày 28-5-2002 của Toà án nhân dân  tỉnh Kon Tum. Đề nghị Toà hình sự Toà án nhân dân  tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm cho bị cáo Nguyễn Thị Bích Thuỷ được hưởng án treo.

_____________________________

- Lý do kháng nghị sửa bản án hình sự phúc thẩm:

Bị cáo phạm tội do bức xúc vì đã bỏ ra 60.000.000đ mua 2 chiếc xe máy của anh Long, chị Nga (là con của bị hại) nhưng không đăng ký được sở hữu vì giấy tờ của 2 chiếc xe này là giả. bị cáo cũng bị phía bị hại đánh gây thương tích; bị cáo ăn năn hối cải đã bồi thường cho bị hại 15.000.000đ; có nhân thân tốt… nên cho bị cáo được hưởng án treo.

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

Tại quyết định giám đốc thẩm số 36/HS-GĐT ngày 29-7-2003, Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao đã quyết định: “Áp dụng  khoản 2 Điều 104; khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Thị Bích Thuỷ 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng kể từ ngày xét xử giám đốc thẩm (ngày 29/7/2003)” với nhận định như kháng nghị nêu.


9. Kháng nghị giám đốc thẩm số 07/VKSTC-V3 Ngày 13-3-2003 đối với vụ án Lê Đức Thiết phạm tội: “Cố ý gây thương tích”

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 86/HSPT ngày 26-8-2002 của Toà án nhân dân  tỉnh Thanh Hoá xử phạt Lê Đức thiết sinh năm 1976; trú tại: Xóm 2, xã Văn Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá về tội “cố ý gây thương tích”.


Nhận thấy:

Chiều ngày 6-1-2002, Lê Đức thiết đi chơi có mang theo một con dao Thái Lan. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày Lê Đức Thiết gặp Lê Bá Lâm, Lê Đức Phương,  sau đó gặp Lê Bá Song, Lê Văn Hiếu, Hoàng Trọng Võ và cùng nhau đứng chơi ở cạnh quán nhà chị Quế. Tại đây Võ nói: “Có mấy thằng làng khác đến tán chị Vân làng này, mình đánh cho nó một trận”, tất cả đều nghe thấy nhưng không ai nói gì. Lúc này có các anh Hoàng Khắc Dũng, Lê Quang Duyên, Phạm Văn Cảnh đi bằng xe đạp từ nhà chị Vân đi ra. Khi các anh này đi qua chỗ bọn Võ ngồi thì  Song ném gạch vào xe đạp của anh Cảnh. Thấy vậy, anh Cảnh đạp xe đi trước, anh Duyên nhảy xuống xe còn anh Dũng thì vẫn ngồi trên xe đạp. Lúc này Thiết, Phương, Song, Võ và Hiếu xông vào đánh anh Dũng, anh Dũng vứt xe bỏ chạy được khoảng 2m  thì Thiết xông vào đâm anh Dũng. Đâm xong anh Dũng Thiết hô “Chạy đi” nên tất cả bỏ chạy. Sau khi phạm tội Lê Đức Thiết bỏ trốn, đến ngày 20-1-2002 thì ra đầu thú.

Anh Hoàng Khắc Dũng được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện tỉnh Thanh Hoá và điều trị từ ngày 7-1-2002 đến ngày 14-1-2002. Kết quả giám định pháp y xác định anh Dũng bị thương tích tỷ lệ là 18%.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 10/HSST ngày 13-6-2002, Toà án nhân dân  huyện Triệu Sơn áp dụng điểm a khoản 2 Điều 104; các điểm b, p khoản 1 Điều 46; khoản 1 và khoản 2 điều 60 Bộ luật hình sự xử phạt Lê Đức Thiết 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng.

Áp dụng Điều 42  Bộ luật hình sự; Điều 613 Bộ luật dân sự buộc Lê Đức Thiết phải bồi thường cho anh Hoàng Khắc Dũng số tiền thuốc, tiền  giám định, tiền viện phí, chụp phim… tổng cộng là 4.041.400 đồng; tiền đi lại 600.000 đồng; tiền mất thu nhập của anh Dũng và của người chăm sóc là 560.000đ; tiền bồi dưỡng sức khoẻ một lần là 1.000.000đ. Tổng cộng là 6.201.4000đ, Thiết đã bồi thường được số tièn là 4.450.000đ, còn phải bồi thường tiếp số tiền là 1.751.400đ.

   Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Hoàng Khắc Hùng (là bố đẻ  của anh Hoàng Khắc Dũng) được Toà án cấp sơ thẩm đưa vào tham gia tố tụng với tư cách đại diện cho người bị hại về dân sự kháng cáo tăng hình phạt và tăng mức bồi thường thiệt hại.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 86/HSPT ngày 26-8-2002, Toà án nhân dân  tỉnh Thanh Hoá giữ nguyên quyết định về hình phạt đối với Lê Đức Thiết; tăng mức bồi thường thiệt hại buộc Lê Đức Thiết phải bồi thường cho anh Hoàng Khắc Dũng tổng số tiền là 8.201.000đ.

Xét thấy:

Toà án cấp sơ thẩm xác định và đưa ông Hoàng Khắc Hùng tham gia tố tụng với tư cách đại diện cho người bị hại về mặt dân sự là không đúng vì anh Hoàng Khắc Dũng không phải là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần và không có sự uỷ quyền của anh Dũng cho ông Hùng tham gia tố tụng.

Lê Đức Thiết không chỉ dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh Hoàng Khắc Dũng mà còn phạm tội có tính chất côn đồ. Toà án cấp sơ thẩm chỉ áp dụng điểm a khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là không chính xác,  cho bị cáo hưởng án treo là đánh giá không đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.

 Về phần bồi thường thiệt hại: Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì có một số hoá đơn thuốc có trước khi anh Dũng vào điều trị tại bệnh viện, có hoá đơn bị sửa chữa số tiền nhưng những vấn đề này chưa được xem xét làm rõ.

Toà án cấp phúc thẩm không khắc phục những sai sót của Toà án cấp sơ thẩm lại chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng Khắc Hùng giữ nguyên quyết định về hình phạt đối với bị cáo và tăng bồi thường thiệt hại là không đúng quy định tại Điều 205 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1985 .

Vì các lẽ trên,

Quyết định:

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 86/HSPT ngày 26-8-2002 của Toà án nhân dân  tỉnh Thanh Hoá. Đề nghị Toà hình sự Toà án nhân dân  tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và bản án hình sự sơ thẩm số 10/HSST ngày 13-6-2002 của Toà án nhân dân  huyện triệu Sơn để xét xử sơ thẩm lại theo hướng không cho Lê Đức Thiết hưởng án treo và giải quyết phần bồi thường thiệt hại theo đúng quy định của pháp luật.

_____________________________

- Lý do kháng nghị huỷ bản án hình sự phúc thẩm và sơ thẩm:

+ Xác định và đưa đại diện cho người bị hại về dân sự tham gia tố tụng hình sự không đúng quy định của pháp luật.

+ Vô cớ đánh anh Hoàng Khắc Dũng gây thương tích là thể hiện tính côn đồ, hung hãn nhưng Toà án cấp sơ thẩm không áp dụng là thiếu sót.

+ Cho bị cáo hưởng án treo là không đúng.

+ Buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho người bị hại chưa đúng.

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 08/HS –GĐT ngày 17-4-2003 Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao đã quyết định: “Huỷ bản  án hình sự phúc thẩm số 86 ngày 26-8-2002 của Toà án nhân dân  tỉnh Thanh Hoá và bản án hình sự sơ thẩm  số 10/HSST ngày 13-6-2002 của Toà án nhân dân  huyện Triệu Sơn đối với Lê Đức Thiết để xét xử sơ thẩm lại theo hướng không cho Lê Đức Thiết hưởng án treo và giải quyết bồi thường cho đúng quy định của pháp luật” với nhận định như kháng nghị nêu trên.


10- Kháng nghị giám đốc thẩm Số 13/VKSTC-V3 ngày 29-4-2003 đối với vụ án:  Nguyễn Duy Dũng phạm tội “cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần  bị kích động mạnh”

 Xét bản án hình sự phúc thẩm số 246/HSPT ngày  của Tòa án nhân dân  tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Duy Dũng sinh năm 1966;  trú tại: Xóm Bình Định 2, xã Trung Lương, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên về tội “Cố ý gây thương tích trong trạnh thái tinh thần bị kích động mạnh”.

Nhận thấy:

Do nghi ngờ vợ mình là chị Dương Thị Kim có quan hệ bất chính với anh Dương Hữu Thọ (là Phó trưởng Công an xã Trung Lương huyện Định Hóa) nên Nguyễn Duy Dũng đã bí mật theo dõi. Vào khoảng 20 giờ ngày 6/6/2001, Dũng phát hiện anh Thọ đèo chị Kim bằng xe máy đi vào đường xã Đồng Thịnh, huyện Định Hóa nên Dũng đến  báo cho anh Bùi Xuân Dư (là công an viên của xã) và rủ anh Dư đi cùng để chứng kiến sự việc.. Anh Thọ đèo chị Kim lên đồi cọ cách đường 32m, bẻ tàu lá cọ xuống để ngồi nói chuyện, sau đó anh Thọ và chị Kim cởi quần áo ra để quan hệ tình dục. Khi thấy anh Thọ nằm đè lên người chị Kim thì Dũng xông đến dùng gậy, đèn pin đánh anh Thọ. Anh Dư can ngăn Dũng rồi đi gọi người có trách nhiệm đến lập biên bản và đưa anh Thọ đến bệnh viện cứu chữa.

Tại bản giám đinh y pháp số 186/PY ngày 8/8/2001, Tổ chức giám định y pháp tỉnh Thái Nguyên kết luận: Tỉ lệ thương tích của anh dương Hữu Thọ là 31%.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 20/HSST ngày 24-9-2002 Tòa án nhân dân  huyện Định Hóa áp dụng khoản 1 Điều 105; các điểm b, h,p khoản 1 Điều 46, Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt Nguyễn Duy Dũng 15 tháng tù về tội “cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng; buộc Nguyễn Duy Dũng phải bồi thường cho anh Dương Hữu Thọ tổng số tiền là 5.292.000đ.

Ngày 25-9-2002 anh Dương Hữu Thọ kháng cáo cho rằng còn bỏ lọt kể phạm tội và đề nghị xét xử tăng bồi thường thiệt hại.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 246/HSPT ngày 4/12/2002, Tòa án nhân dân  tỉnh thái Nguyên giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với Nguyễn Duy Dũng.

Xét thấy:

Nguyễn Duy Dũng phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân. Do đó, trong tổng số chi phí thiệt hại phiá nạn nhân cũng phải chịu một phần tương ứng với phần lỗi của mình theo quy định tại Điều 621 Bộ luật dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ các khoản chi phí cho người bị hại là không đúng với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Quyết định:

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 246/HSPT ngày 4/12/2002 của Tòa án nhân dân  tỉnh Thái Nguyên. Đề nghị Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy quyết định về trách nhiệm dân sự của bản án hình sự phúc thẩm nên trên và của bản án hình sự sơ thẩm số 20/HSST ngày 24/9/2002 của Tòa án nhân dân  huyện Định Hóa để xét xử sơ thẩm lại cho đúng quy định của pháp luật.

__________________ 

- Lý  do kháng nghị huỷ phần trách nhiệm dân sự của bản án phúc thẩm và sơ thẩm:

Bị hại có lỗi nhưng không buộc phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần lỗi đã gây ra là không đúng quy định của pháp luật dân sự.

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm :

Tại Quyết định giám đốc thẩm số178/HS-GĐT ngày 20/5/2003, Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định; Hủy quyết định về phần trách nhiệm dân sự  tại bản án hình sự phúc thẩm số 246/HSPT ngày 4-12-2002 của Toà án nhân dân  tỉnh Thái Nguyên và bản án hình sự sơ thẩm số 20/HSST ngày 24-9-2002 của Toà án nhân dân  Định Hoá để xét xử sơ thẩm lại cho đúng quy định của pháp luật” với nhận định như kháng nghị nêu trên.

 

11- Kháng nghị giám đốc thẩm Số 33/VKSTC-V3 ngày 1-10-2003 đối với vụ án: Nguyễn Văn Vượng  phạm tội “cố ý gây thương tích”

 

 Xét bản án hình sự phúc thẩm số 48/HSPT ngày 02/6/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt Nguyễn Văn Vượng sinh năm 1963;  trú tại: ấp Chuồng Vít, Gành Dầu, Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang về tội “Cố ý gây thương tích”

(Vụ án còn có bị cáo Nguyễn Văn Thịnh không bị kháng nghị).

Nhận thấy:

Khoảng 10 giờ ngày 18-8-2002 Nguyễn Văn Vượng đi xuống ghe để sửa máy thì nhìn thấy ghe của anh Trần Văn Côi đậu gần đó nên đã đi đến đòi tiền dầu mà trước đây anh Côi mua dầu của Vượng còn nợ chưa trả. Do anh Côi không có trên ghe mà chỉ có anh Nguyễn Văn Bính nên Vượng nói: “thằng Côi thiếu tao 5 can dầu, bây giờ tao lấy 5 can trừ nợ” và xách dầu xuống xuồng đem về.

Sau khi anh Côi biết việc Vượng lấy dầu của mình nên đã kêu anh Bính đi đến nhà Vượng đòi lại số dầu này vì  anh Côi giao ghe cho anh Bính trông coi. Anh Bính lên nhà Vượng đòi lại dầu. Khi Vượng cùng anh Bính xách 5 can dầu xuống bãi biển thì Vượng đem theo 1 cây búa và 2 khúc cây. Đến bãi biển thì gặp Nguyễn Đức Thịnh là em ruột của Vượng, Vượng nói: “mày ra tiếp tao lấy lại can dầu của thằng Côi”. Thịnh đồng ý và lượm một khúc cây nhỏ đi cùng Vượng. Đến ghe của anh Côi thì Thịnh lên trước còn Vượng và Bính chuyển dầu lên ghe sau. Tại đây Vượng nói với anh Côi “Mày thiếu tiền dầu tao không trả, bây giờ tao lấy dầu trừ nợ”, anh Côi đáp lại “Tao không trả, mày làm gì tao”. Nghe vậy Thịnh xông vào đánh Côi, Vượng cũng cầm cây đánh anh Côi chạy vào cabin lấy dao chạy ra thì Vượng cầm cây đánh trúng vào tay cầm dao làm gãy tay anh Côi; Tiếp đó Thịnh cầm cây đánh Côi nhiều cái nữa. Sau đó Thịnh và Vượng xuống xuồng đi vào bờ.

Anh Côi được đưa đến bệnh viện huyện điều trị. Theo kết luận của Tổ chức giám định pháp y Kiên Giang: Sức khỏe của anh Côi bị giảm do thương tích gây nên là 12%.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 21/HSST ngày 7-3-2003, Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc áp dụng khoản 1 Điều 104, điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn Vượng  12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “cố ý gây thương tích”; buộc bị cáo Vượng và Thịnh phải bồi thường  cho anh Côi số tiền là 2 triệu đồng.

Ngày 18-3-2003 anh Trần Văn Côi kháng cáo đề nghị xử phạt tù giam các bị cáo và thắc mắc việc buộc 2 bị cáo đền bù 2 triệu đồng là nhằm bồi thường khoản gì.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 48/HSPT ngày 02-6-2003, Tòa án nhân dân  tỉnh Kiên Giang đã áp dụng khoản 1 Điều 104;   khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn Vượng 6 tháng tù về tội “cố ý gây thương tích”. Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Thịnh, Vượng bồi thường cho anh Trần Văn Côi số tiền là 10.000.000 đồng được trừ đi 4.275.000đ còn lại 5.275.000đ.

Xét thấy:

Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn Vượng gây ra có phần lỗi của chính bị hại vì anh Côi còn nợ tiền mua dầu của Vượng, khi Vượng đòi lại không trả mà có lời nói thách đố và khi xô sát xảy ra thì chính bị hại đã dùng dao chống trả. Mặt khác, trước khi xét xử sơ thẩm các bị cáo đã bồi thường tiền và viện phí cho bị hại số tiền là 4.725.000đ và tại phiên tòa phúc thẩm  bị cáo đã đồng ý thỏa thuận bồi thường cho bị hại số tiền là 10.000.000đồng. Nhưng khi xét xử, Tòa án cấp phúc thẩm chưa xem xét các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, p, h khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự và nhân thân Vượng chưa có tiền án, tiền sự, đã có quá trình tham gia quân đội là thiếu sót.

Mặt khác Nguyễn Văn Vượng là người lao động, phạm tội do mâu thuẫn nhỏ nhặt trong sinh hoạt nên không cần thiết áp dụng hình phạt tù giam mà cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

Vì các lẽ trên,

Quyết định:

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 48/HSPT ngày 02/6/2003 của Tòa án nhân dân  tỉnh Kiên Giang. Đề nghị Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm theo hướng cho bị cáo Vượng hưởng án treo.

__________________

- Lý do kháng nghị huỷ bản án hình sự phúc thẩm để xét xử lại:

Bị cáo phạm tội có một phần lỗi của bị hại, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nhân thân tốt cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, phòng ngừa.

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm :

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 48/HS-GĐ ngày 23/10/2003, Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định: Xử phạt Nguyễn Văn Vượng 6 tháng tù về tội “cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày 23-10-2003. Với nhận định như kháng nghị nêu trên.

 

 12- Kháng nghị giám đốc thẩm Số 41/VKSTC-V3 ngày 17-12-2003 đối với vụ án: Vũ Văn Dinh  phạm tội “cố ý gây thương tích ”

 Xét bản án hình sự phúc thẩm số 971/HSPT ngày 24/7/2003 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt Vũ Văn Dinh sinh năm 1984; trú tại: số 36, tổ 12 phường Trung Sơn, thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình về tội Cố ý gây thương tích.

Nhận thấy:

Khoảng 9h ngày 18/8/2002 anh Nguyễn Văn Sử mang liềm đến vườn làm cỏ vườn ở gần nhà chị Hoàng Thị Thủy. Khi đến nơi anh Sử thấy con dê nhà chị Thủy buộc ở gốc cây mít trong vườn nhà mình nên anh Sử gọi chị Thủy sang để dắt dê về. Chị Thủy sang vườn nhà anh Sử xin dắt dê về nhưng anh Sử không đồng ý và giơ liềm đe dọa, chị Thủy sợ lùi lại vấp vào hòn đá ngã và kêu cứu. Thấy mẹ kêu cứu nên Vũ Văn Dinh cầm côn nhị khúc và Vũ Thị Oanh (đều là con chị Thủy) chạy sang vườn nhà  anh Sử thấy anh Sử đang túm tóc và dẫm chân vào chị Thủy nên Oanh xông vào túm tóc anh Sử, Dinh thì xông vào đấm, đá vào người anh Sử. Anh Sử bị đánh đau nên buông tóc chị Thủy ra và Oanh cũng thôi không túm tóc anh Sử nữa. Lúc này anh Sử cầm liềm chém về phía Dinh trúng vào khủyu tay trái làm xước da, Dinh liền rút côn nhị khúc từ trong túi quần ra đánh nhiều cái vào sườn, vào cổ, lưng anh Sử. Do bị đánh đau nên anh Sử khựng lại, Chị Thủy xông vào giằng liềm từ tay Sử rồi chạy đến cởi dây buộc dê để Oanh đuổi dê về. Dinh chập côn lại tiến đến chọc thúc đầu côn nhiều cái vào hông, ngực, bụng, đùi anh Sử. Chị Thủy vào can kéo Dinh về nhà. Anh Sử được đưa đi cấp cứu nhưng do vết thương quá nặng nên đã chết lúc 13h30 cùng ngày.

Tại bản giám định pháp y số 135 ngày 18-8-2002 của tổ chức giám định pháp y tỉnh Ninh Bình kết luận: Anh Sử chết do sốc mất máu cấp tính không hồi phục do rách tĩnh mạch chậu gốc trái.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 110/HSST ngày 27/11/2002 Tòa án nhân dân  tỉnh Ninh Bình áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm d, p, khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Vũ Văn Dinh 9 năm tù về tội “cố ý gây thương tích” . áp dụng Điều 42 BLHS, Điều 614 Bộ luật dân sự buộc Vũ Văn Dinh phải bồi thường cho chị Phạm Thị Lan (đại diện bị hại) số tiền là 25.000.000đồng gồm chi phí mai táng, tổn thất tinh thần, cấp dưỡng cho 2 con và mẹ nạn nhân.

Ngày 5-12-2002 chị Phạm Thị Lan kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 97/HSPT ngày 24/7/2003 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội giữ nguyên quyết dịnh của bản án hình sự sơ thẩm đối với Vũ Văn Dinh.

 

Xét thấy:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy: về khoản mai táng phí thì chị Phan Thị Lan có bảng kê yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí mai táng phí là 12.861.000đồng. Tại biên bản thỏa thuận ngày 11-9-2002 chị Hoàng Thị Thủy (mẹ bị cáo) đồng ý bồi thường số tiền 12.861.000đ như yêu cầu của chị Lan. Còn các khoản khác như: cấp dưỡng nuôi con và cấp dưỡng nuôi mẹ anh Sử chị Lan đề nghị giải quyết theo pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử không xét hỏi bị cáo về khoản bồi thường mai táng phí mà chỉ nhận định là theo phong tục tập quán địa phương nên buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng, nhưng lại không nêu lý do không chấp nhận khoản nào trong bản kê khai chi phí do chị Lan xuất trình là không có căn cứ.

Về phần cấp dưỡng nuôi con và nuôi mẹ nạn nhân cũng không làm rõ mức thu nhập bình quân hàng tháng của anh Sử khi còn sống, không nêu rõ mức cấp dưỡng hàng tháng cho từng người là bao nhiêu và cũng không xem xét khả năng bồi thường của bị cáo đã quyết định buộc bị cáo cấp dưỡng nuôi 2 con và mẹ anh Sử một khoản tiền là 15.000.000đ trong khi 2 bên không có thỏa thuận gì về việc cấp dưỡng một lần là không đúng quy định của pháp luật.

Mặt khác phần quyết định của bản án sơ thẩm cũng chỉ nêu buộc bị cáo phải bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 25.000.000đ mà không nêu rõ từng khoản phải bồi thường là bao nhiêu. Tòa án cấp phúc thẩm không khắc phục những sai sót của Tòa án cấp sơ thẩm mà vẫn giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về bồi thường là không đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên,

 Quyết định:

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 791/HSPT ngày 24/7/2003 của Tòa phúc thẩm  Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

Đề nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm  hủy phần dân sự của bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và của bản án hình sự sơ thẩm số 110/HSST ngày 27-11-2002 của Tòa án nhân dân  tỉnh Ninh Bình để xét xử lại phần dân sự theo đúng quy định của pháp luật.

__________________ 

Lý do kháng nghị huỷ phần dân sự của bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm:

+ Toà án đã bác bỏ những thoả thuận và chấp nhận của các bên về chi phí mai táng mà chỉ chấp nhận buộc bồi thường từ 5.000.000đồng đến 6.000.000đồng theo “phong tục tập quán địa phương” là không có căn cứ.

+ Không điều tra làm rõ thu nhập bình quân của nạn nhân, không có sự thoả thuận bồi thường mà buộc bị cáo bồi thường một lần 15.000.000đồng là không có căn cứ.

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

Tại Quyết định số 02/HĐTP-HS ngày 23-2-2004, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định: “Hủy phần dân sự của bản án hình sự phúc thẩm số  971/HSPT ngày 24/7/2003 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội và bản án hình sự sơ thẩm số 110/HSST ngày 27-11-2002 của Toà án nhân dân  tỉnh Ninh Bình để giải quyết lại phần dân sự theo thủ tục chung” với nhận định như kháng nghị nêu trên.

 

13- Kháng nghị giám đốc thẩm Số 01/VKSTC-V3 ngày 19-2-2004 đối với vụ án: Đặng Thị An  phạm tội “Làm nhục người khác”

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 24/HSPT ngày 12-6-2003 của Tòa án nhân dân  tỉnh Gia Lai xử phạt đối với:

1- Đặng Thị An, sinh năm 1951; trú quán: Đội 4, thôn An Định, xã Cư An, huyện An Khê, tỉnh Gia Lai.

2- Đoàn Thị Thanh Hồng sinh năm 1977; trú quán: Đội 4, thôn An Định, xã Cư An, huyện An Khê, tỉnh Gia Lai.

3- Đoàn Thị Thanh Lai, sinh năm 1970; trú quán: Đội 4, thôn An Định, xã Cư An, huyện An Khê, tỉnh Gia Lai.

4- Trần Thị Hồng Hạnh, sinh 1975; trú quán: Đội 4, thôn An Định, xã Cư An, huyện An Khê, tỉnh Gia Lai.

Đều về tội “làm nhục người khác”

Nhận thấy:

Do tức giận chị Nguyễn Thị Nhung đã nói xấu mình với bà Phạm Thị Công nên Đặng Thị An có ý định trả thù chị Nhung. Khoảng 7h sáng ngày 15-11-2002 thấy chị  Nhung đi qua nhà An cùng con gái là Đoàn Thị Thanh Hồng đuổi theo đến chợ Đồng Chè, xã Tân An, huyện An Khê, tỉnh Gia Lai khi chị Nguyễn Thị Nhung đang lom khon mua cá ở hàng của bà Đồng Thị Hương thì An đi đến dùng tay kẹp cổ chị Nhung và kêu Đoàn Thị Thanh Hồng (là con gái) vào hỗ trợ. Lúc này Đoàn Thị Thanh Lai (là con gái) và Trần Thị Hồng Hạnh (là con dâu) của An đi qua thấy vậy cũng vào giúp sức giữ chân tay và đè chị Nhung để An xé, lột quần áo của chị Nhung. Chị Nhung bị lột hết quần áo, đã được chị Hương bán hàng ở gần đó đưa quần áo cho mặc. Sự việc được mọi người can ngăn và chị Nhung ra về, nhưng khi ra về đến cổng chợ thì chị Nhung kêu mất 10.000.000đồng đồng để ở túi quần.

Quá trình điều tra thì chị Nhung khai ngoài số tiền 10.000.000đồng bị mất nêu trên, chị còn mất 14 chỉ vàng và 25.000đ.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 04/HSST ngày 11-3-2003 Tòa án nhân dân  huyện An Khê áp dụng khoản 1 Điều 121; các điểm đ, h, p khoản 1 Điều 46; Đièu 42; (riêng Hồng, Hạnh và Lai áp dụng thêm Điều 60) Bộ luật hình sự; Điều 615 Bộ luật dân sự  xử phạt Đặng Thị An 9 tháng tù, Đoàn thị thanh Hồng 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, Đoàn Thị Thanh Lai 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và Trần Thị Hồng Hạnh 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo đều về tội “làm nhục người khác”; buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho chị Nguyễn Thị Nhung số tiền là 6.025.000đồng  mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền là 1.506.250đồng.

Ngày 17-3-2003 Đặng Thị An kháng cáo xin hưởng án treo.

Ngày 20-3-2003 chị Nguyễn Thị Nhung kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt và tăng bồi thường về danh dự, nhân phẩm và bồi thường toàn bộ số tài sản chị khai mất.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 24/HSPT, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai giữ nguyên các quyết đinh về tội danh và hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm  đối với các bị cáo; áp dụng Điều 42 và Điều 615 Bộ luật dân sự buộc các bị cáo Đặng Thị An, Đoàn thị Thanh Hồng, Đoàn Thị Thanh Lai và Trần Thị Hồng Hạnh phải liên đới bồi thường cho chị Nguyễn Thị Nhung số tiền về danh dự, nhân phẩm là 10.000.000đồng và số tiền bị mất là 10.025.000 đồng. Cụ thể là: An phải bồi thường số tiền là 8.025.000đ, các bị cáo Lai, Hồng, Hạnh mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền là 4.000.000đồng.

Xét thấy:

 Hành vi làm nhục của các bị cáo đối với chị Nhung diễm ra ở chỗ đông người, những người chứng kiến sự việc đều thừa nhận không thấy vàng, tiền của chị Nhung rơi ra, không thấy ai nhặt được, trong khi việc Đặng Thị An bị rơi dây chuyền và đồng hồ có nhiều người nhìn thấy. Mặt khác lời khai của chị Nhung về mục đích mang số tiền trên vào sáng hôm đó không thống nhất, lúc thì khai mang tiền đi mua hàng, lúc thì khai mang tiền đi trả nợ. Lời khai của anh Phụng (chồng chị Nhung) về việc biết vợ mang tiền đi sáng hôm xảy ra sự việc cũng mâu thuẫn với lời khai của chị Nhung. Tòa án cấp phúc thẩm buộc các bị cáo bồi thường cho chị Nhung số tiền 10 triệu đồng mà chị Nhung khai bị mất lúc giằng co, xô xát là không có căn cứ vững chắc.

Trong vụ án này người bị hại cũng có lỗi vì thế việc quyết định mức bồi thường thiệt hại cho chi Nhung về danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm cũng cần phải được xem xét một cách hợp lý, đúng pháp luật.

 Vì các lẽ trên,

 

 Quyết định:

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 24/HSPT ngày 12-6-2003 của Tòa án nhân dân  tỉnh Gia Lai. Đề nghị Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hủy phần quyết định về bồi thường dân sự của bản án hình sự phúc thẩm nêu trên để xét xử phúc thẩm lại cho đúng quy định của pháp luật.

 __________________ 

- Lý do kháng nghị huỷ phần dân sự của bản án hình sự phúc thẩm:

Quyết định bồi thường dân sự cho bị hại chưa có căn cứ vững chắc và không đúng quy định của pháp luật dân sự.

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm :

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 04/HSST-GĐT ngày 23-3-2004 của Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã  quyết định: “Hủy phần quyết định về bồi thường dân sự tại bản án hình sự phúc thẩm số 24/HSPT ngày 12-6-2003 của Tòa án nhân dân  tỉnh Gia Lai để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật” với nhận định như kháng nghị nêu trên.

 

14- Kháng nghị giám đốc thẩm Số 04/VKSTC-V3 ngày 4-4-2005 đối với vụ án: Trần Binh phạm tội :"cố ý gây thương tích "

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 78/HSPT ngày 28-6-2004 của Tòa án nhân dân  tỉnh Bình Định xử phạt Trần Binh, sinh năm 1973; trú tai: Thôn Bình Chương, xã Hoài Đức, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định về tội “cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”.

Nhận thấy:

Bà Đặng Thị Hồng vay tiền của ông Trần Tích  (trú tại thôn Bình Chương, xã Hoài Đức, huyện Hoài nhơn, tỉnh Bình Định) nhưng chưa thống nhất khoản tiền lãi nên vào khoảng 8h 30 phút ngày 28-4-2003, ông Tích cho con gọi bà Hồng đến nhà ông Tích để giải quyết. Trong lúc bàn bạc, hai bên có cãi nhau. Thấy bà Hồng cãi nhau với ông Tích nên anh Trần Minh Tuấn (là con của ông Tích) dùng tay đánh bà Hồng ngã xuống đất. Bà Hồng la làng, hô hoán là anh Tuấn đánh chết bà. Lúc này anh Trần Ngọc Quang (con bà Hồng) nghe một số người nói anh Tuấn đánh chết mẹ mình, liền cầm một cây tre (có đường kính 06 cm, dài 2m) chạy vào đánh anh Tuấn, anh Tuấn tránh được. Quang tiếp tục giơ cây đánh anh Tuấn thì bị anh Ngô Chí Danh ôm giữ.

Anh Tuấn sợ Quang đánh tiếp nên chạy ra ngoài sân trước nhà đứng. Cùng lúc Trần Binh (con bà Hồng) nghe hàng xóm nói bà Hồng bị anh Tuấn đánh chết cũng chạy đến nhà ông Tích thấy bà Hồng nằm ở đó. Binh hỏi Trần Minh Thành (anh ruột Tuấn) ai đánh mẹ mình thì anh Thành trả lời “ông Tuấn đánh”. Lúc này Binh nhìn thấy anh Tuấn trước sân liền chạy đến chỗ anh Tuấn ôm vật nhau với anh Tuấn khoảng 1 phút thì được mọi người kéo ra. Anh Tuấn la lên là bị gãy tay trái nên được mọi người đưa đi bệnh viện.

Tại bản giám định pháp y số 692/GĐPY ngày 25-7-2003, Tổ chức giám định pháp y tỉnh Bình Định kết luận: anh Trần Minh Tuấn bị chấn thương gây gãy phức tạp lồi cầu xương cánh tay trái, đã phẫu thuật kết hợp xương bằng đinh và chỉ thép. Hiện tại can chưa chắc, còn đinh và chỉ thép, hạn chế vận động khớp khủyu tay trái; tỷ lệ thương tật là 35%.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 11/HSST ngày 04-5-2004, Tòa án nhân dân  huyện Hoài Nhơn áp dụng khoản 1 Điều 105; các điểm b, h và p khoản 1 Điều 46; Điều 60 BLHS xử phạt Trần Binh 06 tháng tù về tội ‘cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm.

Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự công nhận bị cáo đã tự nguyện nộp 9.951.000đ để chi phí thuốc men điều trị cho người bị hại. Tách việc bồi thường các chi phí tiếp theo để giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi anh Tuấn có yêu cầu.

Ngày 11-5-2004 anh Trần Minh Tuấn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm  xử tăng hình phạt đối với bị cáo và tăng bồi thường.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 78/HSPT ngày 28-6-2004, Tòa án nhân dân  tỉnh Bình Định áp dụng khoản 1 Điều 105; các điểm b, h và p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, phạt Trần Binh 09 tháng tù về tội “cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”.

Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự và Điều 613 Bộ luật dân sự buộc Trần Binh phải bồi thường cho anh Trần Minh Tuấn 30.800.000đ (không tính 9.951.100đ đã chi phí trước.

Xét thấy:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì tại phiên tòa sơ thẩm, người bị hại là anh Trần Minh Tuấn yêu cầu: do hiện nay vết thương chưa lành, chi phí thuốc men chưa thể thống kê được nên khi nào lành hẳn sẽ yêu cầu cụ thể bằng một vụ án khác. Bởi vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã tách yêu cầu bồi thường của người bị hại để giải quyết bằng một vụ án dân sự khác khi người bị hại  có yêu cầu là đúng pháp luật . Tòa án cấp phúc thẩm xem xét và  quyết định về phần bồi thường dân sự mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tách ra để giải quyết bằng một vụ án dân sự khác là không đúng với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quyết định mức bồi thường mà không điều tra, xác định thu nhập thực tế của người bị hại, thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị hại… là không đúng với quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. Mặt khác, Tòa án cấp phúc thẩm buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm khi Tòa án cấp sơ thẩm đã miễn cho bị cáo là không đúng pháp luật.

   Vì các lẽ trên,

Quyết định:

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 78/HSPT ngày 28-6-2004 của Tòa án nhân dân  tỉnh Bình Định. Đề nghị Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy quyết định “buộc Trần Binh phải bồi thường cho anh Trần Minh Tuấn 30.800.000đ (Không tính 9.951.100đ đã chi phí trước) và quyết định “bị cáo phải nộp 50.000đ án phí hình sự phúc thẩm và 1.540.000đ án phí dân sự phúc thẩm của bản án hình sự phúc thẩm nêu trên.

__________________ 

- Lý do kháng nghị hủy phần dân sự của bản án hình sự phúc thẩm:

Tòa án cấp phúc thẩm đã vi phạm nghiêm trọng phạm vi xét xử phúc thẩm là xem xét và quyết định việc bồi thường dân sự mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tách ra không xét xử.

- Quyết định mức bồi thường mà không điều tra, xác minh thu nhập thực tế của người bị hại và thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị hại.

- Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm khi Tòa án cấp thẩm đã miễn cho bị cáo.

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm :

Tại quyết định giám đốc thẩm số 09/2005/HS-GĐT ngày 19-4-2005 Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định: Hủy quyết định buộc Trần Binh phải bồi thường cho anh Trần Minh Tuấn 30.888.000đ (không tính 9.951.100đ đã chi phí trước)  và quyết định Bị cáo phải nộp 50.000đ án phí hình sự phúc thẩm và 1.540.000đ án phí dân sự phúc thẩm của bản án hình sự phúc thẩm số 781/HSPT ngày 28-6-2004 của Tòa án nhân dân  tỉnh Bình Định với nhận định như kháng nghị nêu trên.

 

15- Kháng nghị giám đốc thẩm Số 07/VKSTC-V3 ngày 10-5-2005 đối với vụ án: Tạ Văn Hải phạm tội : “cố ý gây thương tích”

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 49/HSPT ngày 18-5-2004, Tòa án nhân dân  tỉnh Bắc Giang đã tuyên Tạ Văn Hải sinh năm 1953; trú tại thôn Khả Lý Hạ, xã Quảng Minh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang không phạm tội “cố ý gây thương tích”.

Nhận thấy:

Khoảng 10 giờ ngày 31/12/2002, anh Đỗ Văn Diện và anh Nguyễn Văn Hòe đến quán bán hàng nhà Tạ Văn Hải ăn sáng. Trong quán lúc này có anh Đỗ Văn Bình đang ngồi uống rượu với Hải nên anh Diện và anh Hòe cùng ngồi uống rượu với Hải và anh Bình.

Đến 12 giờ cùng ngày, chị Nguyễn Thị Xuân là vợ Hải thấy mọi người vẫn ngồi uống rượu nên yêu cầu mọi người ra về để gia đình còn bán hàng. Thấy vậy,Hải cho rằng việc xử sự của vợ là đuổi khách nên đã chửi chị Xuân là mất lịch sự đuổi khách đi, chị Xuân phản ứng lại. Thấy vậy anh Diện cho rằng vợ chồng Hải giả vờ cãi nhau nên đã xảy ra to tiếng giữa Hải và anh Diện. Anh Nguyễn Văn Hòe đẩy Hải vào buồng trong và cùng chị Xuân đẩy Diện ra ngoài đường. Can ngăn hai bên xong anh Bình và anh Hòe ra về, còn anh Diện vẫn đứng ở cửa nhà chửi Hải. Chị Xuân ra khuyên can, anh Diện cầm hai nửa viên gạch xông vào nhà ném Hải, một viên trúng vào mu bàn tay trái của Hải, viên còn lại thì không trúng. Anh Diện tiếp tục dùng cốc ném nhưng không trúng Hải. Thấy vậy chị Xuân lại ra khuyên can và đẩy anh Diện ra ngoài cửa. Anh Diện tiếp tục xông vào nhặt gạch để ném Hải thì Hải quay vào nhà lấy con dao chuôi sắt dài 30 cm, rộng 5 cm chém  một nhát vào đầu Diện khi Diện đang cúi xuống nhặt gạch làm anh Diện bị thương.

Chị Xuân đẩy Diện ra ngoài đường và nhờ anh Tạ Văn Ngữ đưa sang nhà chị Đặng Thị Luận là y sĩ để băng vết thương. Sau khi được băng bó vết thương xong, anh Diện lấy luôn một con dao chuôi gỗ  của nhà chị Luận xông vào nhà chém Hải, nhát thứ nhất trúng vào 3 ngón tay trái, nhát thứ hai Hải đỡ được nên dao rơi xuống đất. Mọi người đưa Hải và Diện đi bệnh viện 110 Bắc Ninh để cấp cứu băng bó vết thương.

Tại biên bản giám định pháp y số 1158/03/GĐPY ngày 23-1-2003, Tổ chức giám định pháp y tỉnh Bắc Giang kết luận: thương tích của anh Diện ở vùng đỉnh có vết sẹo dài 5cm; sẹo mềm; chụp phim X quang thể hiện: Vết vỡ xương sọ bản ngoài  vùng đỉnh chẩm dài 3 cm. Tỷ lệ thương tật của anh Đỗ Văn Diện là 12%.

Tạ Văn Hải bị thương tích không đáng kể nên không đi giám định.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 11/HSST ngày 11-4-2003, Tòa án nhân dân  huyện Việt Yên, tỉnh bắc Giang áp dụng khoản 2 Điều 104; các điểm đ, h và p khoản 1 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự xử phạt Tạ văn Hải 24 tháng tù về tội “cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng.

Ngày 12-4-2003 chị Trần Thị Thảo là người đại diện hợp pháp của người bị hại kháng cáo đề nghị xử phạt tù giam và tăng mức bồi thường đối với Tạ Văn Hải.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 51/HSPT ngày 7-7-2003, Tòa án nhân dân  tỉnh Bắc Giang quyết định hủy bản án hình sự sơ thẩm số 11/HSST ngày 11-4-2003 của Tòa án nhân dân  huyện Việt Yên để điều tra lại.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 03/HSST ngày 4-2-2004, Tòa án nhân dân  huyện việt Yên áp dụng khoản 2 Điều 89 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 tuyên bố Tạ Văn Hải không phạm tội “cố ý gây thương tích”.

Tại quyết định kháng nghị số 01/KSXXHS  ngày 5-2-2004, Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang kháng nghị phúc thẩm đề nghị Tòa án nhân dân  tỉnh Bắc Giang xét xử Tạ Văn Hải về tội “cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự.

Ngày 18-2-2004 ông Đỗ Văn Dục được chị Trần Thị Thảo là người đại diện hợp pháp của người bị hại ủy quyền tham gia phiên tòa kháng cáo đề nghị xử Tạ Văn Hải như cáo trạng truy tố và phạt tù giam đối với bị cáo về tội ‘cố ý gây thương tích”.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 49/HSPT ngày 18-5-2004, Tòa án nhân dân  tỉnh Bắc Giang giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm và kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại tội danh đối với Tạ Văn Hải.

Xét thấy:

Theo lời khai của người bị hại là anh Nguyễn Văn Diện thì khi anh đang can ngăn không cho Hải đánh chị Xuân, bất ngờ anh bị Hải chém từ phía sau lưng, anh không dùng gạch ném Hải. Lời khai này của anh Diện phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường là chỉ có vết máu và các mảnh xuyến bị vỡ, không có gach, không có mảnh vỡ của cốc chén và không thu được con dao nào. Ông Tạ Văn Khanh là công an viên đại diện chính quyền địa phương tham gia khám nghiệm hiện trường khai: tại hiện trường không thấy gạch trong nhà.

Người làm chứng là chị Nguyễn Thị Xuân là người có mặt tại hiện trường có lời khai mâu thuẫn về diễn biến vụ án. Tại biên bản khám nghiệm hiện trường chị Xuân không khai việc anh Diện dùng gạch tấn công Hải, nhưng sau đó lại khai rằng anh Diện có lấy 02 nửa hòn gạch dùng để dựa biển ném Hải; chị Xuân còn khai lúc thu dọn hiện trường có nhặt 04 (bốn) hòn gạch nhỏ.

Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm Tạ Văn Hải đều khai nguyên nhân dẫn đến việc Hải chém anh Diện là do anh Diện dùng gạch ném (đập) Hải trước, hòn thứ nhất vào mu bàn tay trái, hòn thứ hai Hải tránh được. Anh Diện tiếp tục lấy cốc, xuyến, chén, gạch ném Hải, vì bực tức nên Hải đã lấy dao chém anh Diện khi anh Diện đang cúi xuống nhặt gạch ném tiếp. về con dao dùng để chém anh Diện, lúc đầu Hải khai sau khi anh Diện chém Hải, dao của anh Diện bị rơi xuống đất, Hải cướp được dao chém lại anh Diện. Nhưng sau đó tại các biên bản lấy lời khai khác, Hải khai là sau khi bị anh Diện ném gạch, Hải lấy dao nhỏ vẫn dùng để ăn mía chém anh Diện; tại phiên tòa sơ thẩm (lần hai) ngày 04-02-2004 Hải lại khai rằng lấy dao vẫn dùng để thái lòng lợn chém anh Diện. Mặt khác, ngoài vết chém đứt da 3 ngón tay trái thì bàn tay của Hải còn bị tím bầm, nhưng nguyên nhân các vết bầm tím này cũng chưa được xác định do vật gì tác động?.

Việc xác định người bị hại có dùng hung khí tấn công bị cáo trước hay không có tính chất rất quan trọng trong việc xác định trách nhiệm hình sự và tội danh đối với bị cáo. Nhưng những tình tiết, chứng cứ về vấn đề này chưa được điều tra, xác định một cách đầy đủ, chính xác. Bởi vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Tạ Văn Hải không phạm tội và Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” đều chưa có đủ căn cứ vững chắc.

Vì các lẽ trên,

Quyết định:

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 49/HSPT ngày 18-5-2004 của Tòa án nhân dân  tỉnh Bắc Giang. Đề nghị Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trênvà bản án hình sự sơ thẩm số 03/HSST ngày 4-2-2004 của Tòa án nhân dân  huyện Việt Yên để điều tra lại theo quy định của pháp luật.

__________________ 

- Lý do kháng nghị hủy bản án hình sự phúc thẩm và sơ thẩm:

 Việc xác định người bị hại có dùng hung khí tấn công bị cáo  hay không có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác định trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Nhưng chứng cứ về vấn đề này có nhiều mâu thuẫn chưa được điều tra làm rõ do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không phạm tội và Tòa án cấp phúc thẩm lại cho rằng bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích đều chưa có cơ sở vững chắc.

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 13/2005/HS-GĐT ngày 7-6-2005 Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định: “Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 49/HSPT ngày 18-5-2004 của Tòa án nhân dân  tỉnh Bắc Giang và bản án hình sự sơ thẩm số 03/HSST ngày 4-2-2004 của Tòa án nhân dân  huyện Việt Yên để điều tra lại” với nhận định như kháng nghị nêu trên.

 

16- Kháng nghị giám đốc thẩm Số 08/VKSTC-V3 ngày 24-5-2005 đối với vụ án: Trần Thị Phụng phạm tội "Cố ý gây thương tích"

Xét quyết định phúc thẩm hình sự số 57/QĐPT ngày 27-5-2004 của Tòa án nhân dân  tỉnh Bình Định đình chỉ việc giải quyết vụ án hình sự đối với Trần Thị Phụng; sinh năm 1962; trú tại thôn Phú Mỹ 1; Phước Lộc, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định về tội cố ý gây thương tích”

 

Nhận thấy:

Vào khoảng 8giờ ngày 24-4-2002, Trần Thị Phụng đang bán hàng ăn trước nhà, thì ở nhà bên cạnh chị Nguyễn Thị Xuân Lan quét sân làm bụi bay lên. Thấy vậy chị Võ Thị Thanh Thúy (con bà Phụng) ra cãi nhau với chị Lan, sau đó kéo nhau lên chợ Cầu Giành tiếp tục đôi co. Nghe tin, Phụng và bà Võ Thị Hữu (mẹ chị Lan) chạy đến chỗ chị Thúy và chị Lan. Tại đây bà Hữu dùng tay chỉ vào mặt Phụng nên Phụng dùng tay tát vào mặt bà Hữu một cái. Ngay lập tức bà Hữu và Phụng xông vào vật nhau Bà Hữu bị Phụng gạt ra làm ngã ngửa xuống đất, đồng thời kéo Phụng ngã theo đè lên người bà Hữu, hai bên tiếp tục cấu xé lẫn nhau. Hậu quả Phụng bị thương nhẹ, còn bà Hữu sưng ở vùng chẩm được gia đình đưa đi bệnh viện điều trị.

Tại bản giám định pháp y số 318/GĐ-YP ngày 04-9-2002, Tổ chức giám đinh y pháp tỉnh Bình Định kết luận: bà Võ Thị Hữu bị chấn thương vùng chẩm, hiện tại để lại trạng thái suy nhược thần kinh mức độ nhẹ, đau; tỷ lện thương tật là 14% tạm thời.

Tại cáo trạng số 138/KSĐT-TA ngày 18-7-2003, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước truy tố Trần Thị Phụng về tội “cố ý gây thương tích “ theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự.

Tại Quyết định số 30/KSĐT ngày 20-2-2004, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước căn cứ vào Khoản 2 Điều 89  Bộ luật tố tụng hình sự, rút toàn bộ quyết định truy tố đối với Trần Thị Phụng về tội “cố ý gây thương tích”.

Tại Quyết định số 09/QĐ-TA ngày 23-2-2004, Tòa án nhân dân  huyện Tuy Phước đã căn cứ vào Điều 155; Điều 156 và Điều 213 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, đình chỉ vụ án hình sự đối với Trần Thị Phụng.

Ngày 25-2-2004 bà Võ Thị Hữu kháng cáo đề nghị xử lý Phụng đúng tội.

Tại Quyết định số 180/KSXX-HS ngày 09-4-2004, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã hủy Quyết định rút quyết định truy tố số 30/KSĐT ngày 20-2-2004 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước; giao Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước lập lại cáo trạng mới để truy tố Trần Thị Phụng về tội “cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự.

Tại Quyết định số 57/QĐPT  ngày 27-5-2004, Tòa án nhân dân  tỉnh Bình Định bác kháng cáo của người bị hại là bà Võ Thị Hữu, giữ nguyên Quyết định số 09/QĐ-TA ngày 23-2-2004 của Tòa án nhân dân  huyện Tuy Phước.

Tại cáo trạng số 120/KSĐT-TA ngày 24-8-2004, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước truy tố Trần Thị Phụng về tội “cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự.

Xét thấy:

Về thương tật của người bị hại:Tỷ lệ thương tật của bà Võ Thị Hữu là 14%, trong đó chủ yếu là vết mổ khối u mỡ ở vùng chẩm do có tụ máu ở trong. Các tài liệu của các cơ quan y tế về thương tích và tỷ lệ thương tật của bà Hữu còn có nhiều điểm không thống nhất, cụ thể:

Ngày 09-12-2002, Công an huyện Tuy Phước có công văn đề nghị tách tỷ lệ thương tật của bà Võ Thị Hữu; tại công văn số 140/CV-GĐPY ngày 25-12-2002, Tổ chức giám đinh y pháp tỉnh Bình Định trả lời: bà Hữu bị chấn thương dẫn đến tụ máu trong u. Do đó chúng tôi không tách tỷ lệ thương tật của bà Hữu.

Sau đó, công an huyện Tuy Phước đề nghị Trung tâm y  tế huyện Tuy Phước có kết luận việc bà Hữu mổ u mỡ vùng chẩm; tại Công văn số 80/KHNV-TTYT ngày 10-02-2003, Trung tâm y tế huyện Tuy Phước kết luận: bà Hữu bị u mỡ vùng chẩm có tụ máu trong u là do tình trạng bệnh lý.

Ngày 17-3-2004, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đề nghị Tổ chức giám định y pháp tỉnh Bình Định giải thích kết quả giám định đối với bà Hữu. Tại công văn số 171/CV-GĐPY ngày 19-3-2004, tổ chức giám định y pháp tỉnh Bình Định lại giải thích: tỷ lệ thương tật của bà Hữu không bao hàm việc mổ u mỡ vùng chẩm.

Như vậy, về nguyên nhân dẫn đến thương tật và tỷ lệ thương tật do bị chấn thương của bà Hữu, kết luận của các cơ quan chức năng  còn mâu thuẫn nhau, mà  đây là căn cứ chủ yếu để truy cứu hay không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Trần Thị Phụng.

Về thủ tục tố tụng: Tại Quyết định số 30/KSĐT ngày 20-2-2004, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước rút toàn bộ quyết định truy tố đối với Trần Thị Phụng về tội “cố ý gây thương tích”, nên việc Tòa án cấp sơ thẩm ra quyết định đình chỉ vụ án là đúng với quy định tại Điều 181 Bộ luật tố tụng hình sự.

Ngày 09-4-2004, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã hủy quyết định rút truy tố nêu trên của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước.

Tại quyết định số 57/QĐPT ngày 27-5-2004, khi xét kháng cáo của bà Võ Thị Hữu, Tòa án nhân dân  tỉnh Bình Định vẫn giữ nguyên Quyết định số 09/QĐ-TA ngày 23-2-2004 của Tòa án nhân dân  huyện Tuyên Phước sau khi Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã hủy Quyết định số 30/KSĐT ngày 20-2-2004 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước là không đúng. Quyết định số 57/QĐPT ngày 27-5-2004 của Tòa án nhân dân  tỉnh Bình Định đã có hiệu lực pháp luật; Do vậy, việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước ra bản cáo trạng số 120/KSĐT-TA ngày 24-8-2004 truy tố Trần Thị Phụng về tội “cố ý gây thương tích” là trái với quy định tại khoản 4 Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự. Việc tiến hành tố tụng lại đối với Trần Thị Phụng chỉ được thực hiện khi các quyết định đình chỉ vụ án số 09/QĐ-TA ngày 23-02-2004 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước và số 57/QĐPT gày 27-5-2004 của Tòa án nhân dân  tỉnh Bình Định được hủy bỏ.

Vì các lẽ trên,

 Quyết định:

Kháng nghị quyết định số 57/QĐPT ngày 27-5-2004 của Tòa án nhân dân  tỉnh Bình Định. Đề nghị Tòa hình sự Tòa án nhân dân  tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy quyết định của Tòa án nhân dân  tỉnh  Bình Định nêu trên và quyết định số 09/QĐ-TA ngày 23-2-2004 của Tòa án nhân dân  huyện Tuy Phước để điều tra lại theo quy định của pháp luật.

__________________ 

- Lý do kháng nghị hủy quyết định phúc thẩm và sơ thẩm:

Các kết luận của cơ quan y tế về thương tích và tỷ lệ thương tích của bị hại mâu thuẫn nhau nên chưa có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự của Trần Thị Phụng.

- Về tố tụng:

Hành vi phạm tội của Trần Thị Phụng đã có quyết định phúc thẩm của Tòa án nhân dân  tỉnh Bình Định đã có hiệu lực pháp luật do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện tuy Phước ra bản cáo trạng truy tố Trần Thị Phụng hành vi đã có quyết định của Tòa án là trái với khoản 4 Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự. Trong  trường hợp này  muốn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với Trần thị Phụng phải hủy quyết định của Tòa án nhân dân  huyện Tuy Phước và quyết định của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 15/2005 HS-GĐT ngày 7-6-2005, Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định: “Hủy quyết định phúc thẩm số 57/QĐPT ngày 27-5-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định và quyết định số 09/QĐ-TA ngày 23-2-2004 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước để điều tra lại theo thủ tục chung” với nhận định như kháng nghị trên.

 

17- Kháng nghị giám đốc Thẩm số 03/VKSTC-V3ngày 24-1-2006 đối với vụ án Vũ Hậu Chiến phạm tội “hiếp dâm trẻ em”

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 2931/HSPT ngày 22-12-2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Vũ Hậu Chiến sinh ngày 3/4/1984; trú tại tổ 5, ấp 4 xã Thanh Hoà, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước về tội “hiếp dâm trẻ em”.

Nhận thấy

 Vào đầu năm 2001 chị Trần Thị Lĩnh quê ở Nam Định cùng con là Đoàn Thị Ngát (sinh ngày 10-1-1986) bị câm bẩm sinh vào Bình Phước làm thuê và được gia đình ông Vũ Chiến Lược (là người cùng quê) cho ở nhờ căn nhà tại rẫy vườn tiêu.

Khoảng 08 giờ ngày 08-1-2001, Vũ Hậu Chiến (là con ông Vũ Chiến Lược) vào vườn tiêu của gia đình (cách nhà khoảng 700 m) để tưới tiêu. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, Chiến đang bơm  nước vào phi ở phía sau nhà trong vườn tiêu thì Chiến nhìn thấy cháu Ngát ở nhà một mình. Chiến đi vào trong nhà lấy chiếc áo len màu đỏ của cháu Ngát treo trên vách trùm vào mặt cháu Ngát, dùng tay sờ ngực rồi cởi quần Ngát ra và thực hiện hành vi giao cấu với cháu Ngát. Do cháu Ngát bị câm nên chỉ kêu la ú ớ, không chống cự lại được. Ông Trần Văn Dưỡng đang tưới tiêu gần đó có nghe thấy tiếng ú ớ tưởng là trẻ con đùa nghịch nên không chú ý. Sau đó Chiến bỏ đi ra vườn tưới tiêu một lúc thì về. Khoảng 11 giờ cùng ngày chị Trần Thị Lĩnh (là mẹ của cháu Ngát) cùng chị Phạm Thị Sen (là người cùng xóm) về nhà thấy cháu Ngát ngồi khóc. Chị Lĩnh ra hiệu hỏi có việc gì thì cháu Ngát dùng cử chỉ kể lại toàn bộ sự  việc và chỉ cho Lĩnh, chị Sen thấy vết  bẩn còn in trên giường. Ngay sau khi biết sự việc, chị Lĩnh đến nhà Chiến gặp bà Dung (là mẹ của Chiến) nói lại toàn bộ sự việc và yêu cầu vợ chồng bà Dung phải dạy bảo Chiến. Khoảng 15giờ cùng ngày bà Dung đến nhà chị Lĩnh xin lỗi và đưa cho chị Lĩnh 200.000 đồng nói là  để cháu Ngát mua bánh kẹo. Khoảng 20 giờ cùng ngày chị Lĩnh đưa cháu Ngát đến nhà chị Phạm Thị Nhung (là y sĩ làm việc tại trạm xá xã Thanh Hoà) để khám. Chị Nhung đã khám và hướng dẫn chị Lĩnh đưa cháu Ngát đến bệnh viện huyện để khám tiếp. Ngay sau đó chị Lĩnh đưa cháu Ngát đến Trung tâm y tế huyện Lộc Ninh để khám. Đến khoảng 18 giờ ngày 9-12-2001 gia đình Chiến đến nhà chị Lĩnh đòi lại 150.000 đồng vì cho là Chiến không thực hiện hành vi giao cấu với cháu Ngát mà chỉ sờ mó nên chỉ bồi thường 50.000đồng. Ngay ngày 9-12-2001 chị Lĩnh làm đơn tố cáo hành vi hiếp dâm của Chiến với cơ quan Công an.

Tại giấy chứng nhận thương tích số 08 ngày 10-12-2001, Trung tâm y tế huyện Lộc Ninh  kết luận đối với cháu Ngát: “âm hộ bình thường; màng trình không có  vết rách, mép trên màng trình dãn nhẹ; soi dịch âm đạo tìm tinh trùng, không thấy tinh trùng”.

Tại biên bản giám định pháp y số 226/2001/GĐPY ngày 17-12-2001, Tổ chức giám định pháp y tỉnh Bình Phước kết luận đối với cháu Ngát: “âm hộ bình thường, thành sau âm đạo dãn nhiều; màng trinh dãn rộng, đường kính 1,5 cm x 1 cm; màng trinh vị trí 3giờ, 9 giờ rách cũ kích thước 0,5 mm; test thai âm tính”.

Do có mâu thuẫn giữa kết quả giám định và khám nêu trên, nên cơ quan công an tỉnh Bình Phước đã trưng cầu Viện y học tư pháp Trung ương khu vực phía Nam giám định lại.

Tại biên bản giám định pháp y số  15/GĐPY ngày 18-2-2002, Viện y học tư pháp Trung ương khu vực phía Nam kết luận: “màng trinh bị rách cũ giãn rộng ở vị trí 1 giờ”.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 151/HSST ngày 27/09/2004  Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước áp dụng  khoản 1 Điều 112; khoản 2 Điều 46; Điều 69; Điều 74 Bộ luật hình sự, xử phạt Vũ Hậu Chiến 07 năm tù về tội "hiếp dâm trẻ em"; áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự và Điều 615 Bộ luật dân sự buộc ông Vũ Chiến Lược có trách nhiệm bồi thường cho đại diện bị hại là bà Trần Thị Lĩnh số tiền 1.034.000 đồng.

Ngày 27/09/2004 và ngày 6-10-2004 Vũ Hậu Chiến kháng cáo kêu oan cho rằng  giấy chứng nhận thương tích không thể hiện  cháu Ngát bị hiếp dâm, các kết luận giám định sau không đủ tin cậy vì tiến hành sau ngày xảy ra vụ án đã lâu; gia đình bị hại đã có đơn bãi nại; tại phiên toà sơ thẩm không có luật sư bào chữa cho bị cáo là vi phạm tố tụng.

 Tại bản án hình sự phúc thẩm số 2931/HSPT  ngày 22/12/2004, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên các quyết định của  bản án hình sự sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với Vũ Hậu Chiến.

Xét thấy:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nhận thấy : Tại cơ quan điều tra cũng như tại các phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo Vũ Hậu Chiến khai nhận chỉ đùa giỡn với Đoàn Thị Ngát chứ không hiếp dâm hoặc có ý định hiếp dâm Đoàn Thị Ngát. Toà án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm kết án Vũ Hậu Chiến phạm tội hiếp dâm trẻ em là chưa có căn cứ vững chắc, bởi vì :

- Về kết quả khám và giám định:

Theo giấy chứng nhận thương tích số 08/12 do bệnh viện huyện Lộc Ninh cấp ngày 10/12/2001 có nội dung "Đoàn Thị Ngát vào viện lúc 21 giờ ngày 8/12/2001, ra viện ngày 8/12/2001; tình trạng thương tích hiện nay: Âm hộ bình thường; màng trinh không có vết rách, mép trên màng trinh dãn nhẹ; soi dịch âm đạo tìm tinh trùng, không tìm thấy tinh trùng”. Giấy chứng nhận thương tích này phù hợp với lời khai của chị Phạm Thị Nhung là cán bộ y tế chuyên khoa sản của trạm xá xã Thanh Hoà, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước là: vào khoảng 20 giờ ngày 8/12/2001 mẹ cháu Ngát đưa cháu Ngát đến nhờ chị khám. Chị khám ngoài không có dấu vết sưng, bên trong màng trinh giãn nhẹ, rộng hơn bình thường, không có dấu vết gì khác. Theo chị thì một cháu bé mới lớn nếu bị hiếp thì bộ phận sinh dục sẽ bị trầy, sưng, rách. Lời khai của chị Nhung phù hợp với lời khai của chị Trần Thị Lĩnh ( mẹ cháu Ngát) là: " Sau khi được Ngát kể lại sự việc, tôi đã cởi đồ cháu Ngát ra và kiểm tra người cháu Ngát không phát hiện gì và dùng tay kiểm tra chim cháu (âm hộ)  cụ thể là dùng tay banh ra không phát hiện gì cả. Không nhìn thấy bị trầy xớt sưng đỏ, không bị tổn thương gì ".

Theo biên bản giám định pháp y số 226 ngày 17/12/2001 của Tổ chức giám định pháp y tỉnh Bình Phước có nội dung: “ Hội đồng giám định pháp y tỉnh Bình Phước họp hồi 10 giờ ngày 13/12/2001 để hội chẩn giám định trực tiếp bị hại lần cuối kết quả khám hiện tại : âm hộ bình thường; thành sau âm đạo dãn nhiều; màng trinh dãn rộng đường kính 1,5x1cm; màng trinh ở vị trí 3 giờ, 9 giờ rách cũ  kích thước # 0,5 mm”.

Theo biên bản giám định y- pháp số 15 ngày 18/2/2002 của Viện y học tư pháp trung ương khu vực phía nam có nội dung: “kết quả giám định ngày 4/2/2002 …  sản phụ khoa: tầng sinh môn bình thường; âm đạo bình thường có huyết kinh ; màng trinh rách cũ dãn rộng ở vị trí 1 giờ. Kết luận màng trinh của cháu Đoàn Thị Ngát bị rách cũ dãn rộng”.

Với các kết quả khám và giám định mâu thuẫn nêu trên thì văn bản nào là văn bản phản ánh chính xác để làm cơ sở kết luận cháu Ngát bị hiếp dâm?. Ngày 27/12/2005, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có văn bản gửi Viện y học tư pháp Trung ương - Bộ Y Tế đề nghị cho biết ý kiến về chuyên môn đối với 3 kết quả khám và giám định nêu trên. Tại văn bản số 369 ngày 29/12/2005 Viện y học tư pháp trung ương- Bộ Y Tế đã trả lời: “ kết luận của 3 lần khám và giám định không thể khẳng định kết luận nào là chính xác vì chưa được khám trực tiếp nạn nhân”. Bởi vậy vấn đề này cần phải được điều tra làm rõ. Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chỉ căn cứ vào một trong những nội dung của 2 bản giám định và giấy chứng nhận thương tích là “màng trinh bị dãn” để kết luận Vũ Hậu Chiến hiếp dâm cháu Ngát là chưa có cơ sở vững chắc.

- Về lời khai của chị Trần Thị Lĩnh (là mẹ cháu Ngát): Tại cơ quan điều tra chị Lĩnh đều khai cháu Ngát bị câm không nói đ­ược mà chỉ diễn tả bằng hành động (ra hiệu)…  khi chị lĩnh và chị Sen vào nhà thì cháu Ngát khóc và ra hiệu Chiến bơm dùm hai thùng nư­ớc, sau đó vào lấy chiếc áo len trùm vào mặt cháu, đè cháu ra giường, bóp vú rồi kéo quần cháu xuống và kéo quần anh ấy xuống hiếp dâm cháu. Tôi hỏi có đau không cháu nói có. Khi tôi về áo cháu vẫn mặc nguyên, chỉ có thay quần khác. Cháu ra hiệu quần của cháu bị ngư­ời kia nằm đè lên bị ­ướt đã thay mang đi giặt. Nh­ưng sau đó VKSND tỉnh Bình Phư­ớc lấy lời khai thì chị Lĩnh lại khai: cháu Ngát ra dấu nói là Chiến bơm n­ước đầy phi, Chiến dùng vòi xịt vào người cháu làm ư­ớt quần áo, cháu ra dấu chửi lại Chiến thì bị Chiến đi vào trong nhà lấy áo len trên vách trùm vào mặt cháu và dùng tay bóp ngực cháu, dùng chân đạp lên ng­ười cháu, sau đó Chiến bỏ về. Tôi nghĩ Chiến dùng áo len trùm lên mặt cháu Ngát và dùng tay sờ vào ngực cháu Ngát làm xúc phạm đến danh dự của con tôi. Tôi  biết đ­ược Chiến thực hiện hành vi hiếp dâm con tôi là do Ngát dùng tay chỉ lên ngư­ời cháu nên tôi nghĩ cháu bị Chiến hiếp. Như­ vậy lời khai của chị Lĩnh là mâu thuẫn không thống nhất bởi những lời khai ban đầu tại cơ quan điều tra chị Lĩnh khai cháu Ngát bị Chiến hiếp dâm, như­ng sau đó Viện kiểm sát nhân dân lấy lời khai thì chị Ngát lại khai rằng Chiến bóp vú con chị và do Ngát dùng tay chỉ lên ngư­ời nên chị nghĩ là Chiến hiếp con chị.

- Về lời khai của cháu Đoàn Thị Ngát: cháu Ngát bị câm không nói đư­ợc mà chỉ ra hiệu bằng tay do vậy cháu đ­ược cô Trần Ngọc Lan là giáo viên trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật Thuận An, Bình Dư­ơng phiên dịch. Cô giáo Lan đã thông qua động tác ra hiệu bằng tay của cháu Ngát để phiên dịch với nội dung: Chiến bơm đầy 2 phi nư­ớc, vào chỗ cháu Ngát nằm lấy áo len treo trên tường bịt mặt cháu, lấy tay bóp vào ngực cháu, cởi quần của cháu và quần của Chiến để ở trên giư­ờng, nằm đè lên ng­ười cháu rồi lấy chim của Chiến đ­ưa vào chim của cháu của cháu…  anh Chiến làm cháu đau, cháu kêu khóc như­ng không ai nghe cả… Sau khi phiên dịch xong cơ quan điều tra hỏi cô giáo Lan về việc cháu Ngát dùng tay chỉ vào bộ phận sinh dục của cháu như­ vậy là như  thế nào thì cô Lan trả lời: “Cháu chỉ tay vào bộ phận sinh dục bị tổn thư­ơng như­ng cháu không xác định đư­ợc là có vật gì đ­ưa vào âm hộ và cảm thấy đau”. Nh­ư vậy nội dung phiên dịch và nội dung trả lời của cô giáo Lan nêu trên là mâu thuẫn không thống nhất. Mặt khác, cháu Ngát không phải là học sinh đã theo học trường giáo dục giáo dục trẻ khuyết tật, không có thời gian theo học cô giáo Lan và cô giáo Lan cũng chư­a có thời gian tiếp xúc với cháu Ngát. Vấn đề này, ngày 12/1/2006 VKSNDTC đã làm việc với Ban giám hiệu trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật Thuận An, tỉnh D­ương đư­ợc Ban giám hiệu cho biết: “ Đối với những cháu không đ­ược đư­a đến tr­ường học muốn phiên dịch đư­ợc chính xác phải có hình vẽ, mô hình… để cháu chỉ đúng vào những nơi mình cần chỉ, nếu không có hình vẽ mô hình thì người câm điếc phải diễn tả bằng hành động cụ thể và phải có thêm một người nữa đóng vai thực hiện từng hành vi cụ thể. Trường hợp không có hình vẽ, mô hình và diễn tả nêu trên thì việc dịch không thể chính xác được". Cùng ngày đã làm việc với cô giáo Lan và cô giáo Lan khai: "Khi dịch cho cháu Ngát chỉ căn cứ vào động tác của cháu để phiên dịch; không có hình ảnh, mô hình hoặc diễn tả để thực hiện cụ thể sự việc cháu bị hiếp dâm". Trong vụ án không một tài liệu nào thể hiện khi phiên dịch cô giáo Lan đã dùng hình ảnh hoặc mô hình  hoặc có người đóng vai, thực hiện từng hành vi cụ thể.

  Ngoài ra những nội dung phiên dịch của cô giáo Lan còn mâu thuẫn với lời khai của chị Trần Thị Lĩnh và anh Trần Văn Dưỡng như: thông qua động tác của cháu Ngát chị Lĩnh khai Chiến kéo quần của Ngát và kéo quần của Chiến xuống để hiếp dâm và quần của Ngát bị ướt do chiến nằm đè lên nên Ngát đã thay quần để giặt. Chị Lĩnh không có lời khai nào khai cháu Ngát bị hiếp kêu khóc và cháu đã nhéo tay anh Chiến. Nhưng cô giáo Lan lại phiên dịch : Chiến cởi quần của Ngát và cởi quần của Chiến để ở trên giường, khi bị hiếp cháu khóc và nhéo vào tay Chiến… Anh Trần Văn Dưỡng là người tưới tiêu cách chỗ cháu Ngát ở khoảng 20 mét thì khai: Khoảng 10 giờ anh nghe thấy cháu Ngát la u ớ.  Còn cô giáo Lan lại phiên là cháu kêu khóc.

- Về lời khai anh Trần Văn Dưỡng : Anh Dưỡng khai sáng ngày 8/12//2001 anh tưới tiêu rẫy của nhà anh cách nơi cháu Ngát ở khoảng 20 m. Khoảng 10 giờ thấy tiếng cháu Ngát la u ớ anh tưởng là trẻ con vào chọc phá cháu Ngát nên cháu Ngát la. Đến hơn 10 giờ anh sang nhà cháu Ngát trả tay quay giếng nước thấy cháu Ngát ngồi trong nhà khóc u ớ. Như vậy anh Dưỡng không nhìn thấy, không bắt được Chiến hiếp dâm cháu Ngát  mà chỉ nghe tiếng cháu Ngát la ú ớ. Vậy cháu Ngát la u ớ do bị Chiến hiếp dâm hay do Chiến đùa dỡn lấy áo len trùm lên mặt, bóp vào ngực Ngát như lời khai của Chiến và lời khai của chị Lĩnh? Vấn đề này chưa được làm rõ.  

Tổng hợp các tình tiết, căn cứ nêu trên nhận thấy những chứng cứ Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm dùng để kết tội bị cáo Vũ Hậu Chiến còn nhiều mâu thuẫn chưa được xem xét làm rõ. Do vậy  để có đầy đủ căn cứ để kết luận Vũ Hậu Chiến có phạm tội “hiếp dâm” cần thiết phải điều tra lại làm rõ: Các mâu thuẫn trong các kết luận giám định. Nếu thấy cần thiết phải tiến hành giám định lại theo đúng quy định của pháp luật về giám định tư pháp; lời khai của chị Lĩnh, của cháu Ngát và cháu Chiến có mâu thuẫn do vậy phải cho các đối tượng này tiến hành đối chất; Lời khai cháu Ngát phải đảm bảo đủ thời gian cần thiết để người phiên dịch tiếp xúc trước với cháu Ngát và khi phiên dịch phải có mô hình, hình vẽ hoặc người đóng thế để cháu Ngát mô tả hành vi cụ thể qua hình vẽ, mô hình.

Về bồi thường cho người bị hại: Theo quy định tại khoản 2 Điều 611 Bộ luật dân sự năm 1995 (khoản 2 Điều 606 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình”. Trong vụ án này khi phạm tội Chiến 17 tuổi 8 tháng 5 ngày, thế nhưng Toà án cấp sơ thẩm tuyên ông Vũ Chiến Lược (bố bị cáo) bồi thường cho người bị hại là không đúng với quy định của Bộ luật dân sự. Đến khi xét xử phúc thẩm, Toà án cấp phúc thẩm cũng không phát hiện được sai lầm này nên vẫn giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm cũng là có sai lầm.

Về tố tụng hình sự: Tại biên bản nghị án của Hội đồng xét xử sơ thẩm lại ghi là Hội đồng xét xử phúc thẩm là vi phạm pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

Quyết định

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 2931 ngày 22/12/2004 của Toà phúc thẩm TANDTC tại thành phố Hồ Chí Minh. Đề nghị Hội đồng thẩm phán TANDTC xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm huỷ bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và bản án hình sự sơ thẩm số 151 ngày 27/9/2004 của Toà án nhân tỉnh Bình Phước để điều tra giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

_________________________

- Lý do kháng nghị để huỷ bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm :

+Các chứng cứ được Toà án cấp  sơ thẩm và phúc thẩm sử dụng kết án bị cáo còn rất nhiều mâu thuẫn chưa được điều tra xác minh rõ.

+ Có sai lầm trong việc quyết định bồi thương dân sự cho bị hại.

+ Biên bản nghị án của Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm lại ghi là Hội đồng xét xử phúc thẩm là không đúng thực tế.

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

Tại quyết định giám đốc thẩm số 13/2006/HS-GĐT ngày 3-7-2006, Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã quyết định: Huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 2931/HSPT ngày 22-12-2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và bản án hình sự sơ thẩm số 151/HSST ngày 27-9-2004 của Toà án nhân dân  tỉnh Bình Phước về vụ án Vũ Hậu Chiến phạm tội Hiếp dâm trẻ em để điều tra lại theo thủ tục chung với nhận định như kháng nghị nêu trên.

 

18- Kháng nghị giám đốc thẩm  số 24/VKSTC-V3 ngày 2-10-2006 đối với vụ án Phạm Văn Phương  phạm tội “cố ý gây thương tích”

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 35/2006/HSPT ngày 21/4/2006, Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xử phạt Phạm Văn Phương (tức Lê Xuân Phương) sinh năm 1975; trú tại: Số nhà 14, Lương Đức Bằng, phường Đông Sơn, thành phố Thanh Hóa tỉnh Thanh Hóa về tội “cố ý gây thương tích”.

Nhận  thấy

Phạm Văn Phương và anh Lê Tùng Lâm đều là lái xe ô tô nhận hợp đồng chở đất từ huyện Thường Xuân tỉnh Thanh Hóa đến nhà máy gạch CERAMIC Thanh Hoá.

Ngày 15/7/2005 trên đường vận chuyển đất từ Thường Xuân về, xe ô tô do Phương điều khiển bị Cảnh sát giao thông lập biên bản xử lý với lý do chở quá tải. Phương nghi ngờ anh Lâm đã báo cho cảnh sát giao thông biết việc chở quá tải của mình nên vào khoảng 24 giờ cùng ngày, Phương điều khiển xe ô tô chở đất vào bãi sau nhà máy gạch để giao thì phát hiện thấy anh Lâm đang đứng nói chuyện với anh Nguyễn Ngọc Hưng (là lái xe) và Nguyễn Ngọc Thảo (là bảo vệ của nhà máy) nên Phương nảy sinh ý định trả thù anh Lâm. Thực hiện ý định Phương đã điều khiển ô tô chạy thẳng đến chỗ anh Lâm đứng làm cho 3 anh phải chạy tránh ra hai bên. Tiếp đó Phương bỏ lái để ô tô tự trôi rồi cầm chiếc kiếm tự tạo đầu nhọn dài khoảng 1m để sẵn trên xe nhảy xuống xe chém anh Lâm một nhát vào thái dương trái, anh Lâm bỏ chạy thì Phương đuổi theo chém tiếp một nhát vào bả vai bên phải và đâm một nhát vào mông phải anh Lâm. Anh Lâm được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hoá và điều trị từ ngày 16/7/2005 đến ngày 25/7/2005.

Tại Giấy xếp hạng thương tật số 284/GĐPY ngày 24/8/2005, Tổ chức giám đinh pháp y tỉnh Thanh Hoá kết luận: anh Lê Tùng Lâm rách da đầu, mông, chấn động não do bị chém, sẹo dài 4cm x 0,4cm…, vết thương phần mềm vùng mông phải sẹo dài 2,5cm x 0,5cm, vết thương phần mềm mặt sau vai phải dài 14cm x 0,5cm… tỷ lệ thương tật 13%.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 10/2006/HSST ngày 19/1/2006, Toà án nhân dân  thành phố Thanh Hoá áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 619 Bộ luật dân sự xử phạt Phạm Văn Phương 24 tháng tù về tội “cố ý gây thương tích”; buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Lê Tùng Lâm các khoản chi phí với tổng số tiền là 11.069.000đ, bị cáo đã bồi thường được 4.000.000đ, còn phải bồi thường tiếp là 7.069.000đ.

Ngày 15/1/2006 Phạm Văn Phương kháng cáo xin cải tạo tại địa phương và xin giảm bồi thường.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 35/2006/HSPT ngày 21/4/2006 Toà án nhân dân  tỉnh Thanh Hoá áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm g, n khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự xử phạt Phạm Văn Phương 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội “cố ý gây thương tích”.

Giữ nguyên quyết định về bồi thường thiệt hại của bản án sơ thẩm đối với Phạm Văn Phương.

Xét thấy:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nhận thấy: Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm kết án Phạm Văn Phương tội “cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Mặc dù thương tích của anh Lâm không nặng (13%) nhưng hành vi phạm tội của Phạm Văn Phương dùng kiếm tự tạo (dài 1m, rộng 5cm, đầu nhọn) là hung khí nguy hiểm, vô cớ chém nhiều nhát vào đầu, lưng và mông anh Lâm là thể hiện tính côn đồ hung hãn thuộc các trường hợp tăng nặng định khung hình phạt được quy định tại điểm a và điểm i khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện coi thường pháp luật và coi thường tính mạng, sức khoẻ của người khác. Toà án cấp sơ thẩm đã xét và đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ nên xử phạt bị cáo 24 tháng tù là nhẹ. Toà án cấp phúc thẩm đã quá nhấn mạnh đến nhân thân và khai báo thành khẩn của bị cáo để cho bị cáo hưởng án treo là không đúng pháp luật là không đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, không có tác dụng giáo dục và phòng ngừa.

Ngoài ra bản án hình sự phúc thẩm không áp dụng các tình tiết tăng nặng quy định tại điểm a và điểm i khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự là thiếu sót.

Vì các lẽ trên,

Quyết định

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 35/2006/HSPT ngày 21-4-2006 của Toà án nhân dân  tỉnh Thanh Hoá. Đề nghị Toà Hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử  vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm phần quyết định về hình phạt của bản án hình sự phúc thẩm nêu trên đối với Phạm Văn Phương để xét xử phúc thẩm lại không cho Phạm Văn Phương được hưởng án treo./.

_________________________

 - Lý do kháng nghị hủy bản án hình sự phúc thẩm:

Hành vi phạm tội của bị cáo tập trung nhiều tình tiết tăng nặng là dùng hung khí nguy hiểm và có tính chất  côn đồ, Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo là không đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

  - Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

Tại quyết định giám đốc thẩm số 37/2006/HS-GĐT ngày 22-11-2006, Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định: Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 35/2006/HSST ngày 21-4-2006 của  của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa về phần quyết định hình phạt đối với Phạm Văn Phương để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật với nhận định như kháng nghị nêu trên.

 

19- Kháng nghị giám đốc thẩm Số 25/VKSTC-V3 ngày  6-10-2006 đối với vụ án: Phùng Thị Xuân phạm tội :"Vu khống”

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 91/HSPT ngày 10-11-2005 của Tòa án nhân dân  tỉnh  Bạc Liêu xử phạt Phùng Thị Xuân, sinh năm 1994; trú tại ấp Vĩnh Điền, xã Long Điền Đông, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu về tội “vu khống”.

Nhận thấy

Vào khoảng 5giờ 30 phút ngày 15-1-2005 Phùng Thị Xuân đi ngang qua nhà chị Trương Thị Đậm vén tấm cao su che cửa sổ nhìn vào trong nhà chị Đậm thì bị chị Hồ Thị Giầu phát hiện hô hoán. Ngay lúc đó Phùng Thị Xuân chạy ra sân nhà chị Đậm la lớn bà con ơi ra xem công an huyện, công an xã ôm hôn con Đậm này và còn la lớn nhiều lần kêu mọi người chứng kiến việc anh Trần Hồng Quân công an huyện ôm hôn chị Đậm. Nghe vậy, chị Đậm chạy ra sân cự cãi và đánh Phùng Thị Xuân thì được mọi người can ngăn. Sau đó Xuân đi đến nhà ông Lê Văn Hai (trưởng ấp) và đến nhà ông Nguyễn Quốc Nam (chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã) tố cáo việc anh Quân ôm hôn chị Đậm.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 20/HSST ngày 18-8-2005, Tòa án nhân dân huyện Đông Hải áp dụng điểm  c khoản 2 Điều 122; điểm m khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Phùng Thị Xuân 1 (một) năm tù về tội “vu khống”.

áp dụng Điều 615 Bộ luật dân sự buộc Phùng Thị Xuân bồi thường về tổn thất tinh thần cho chị Trương Thị Đậm 1.000.000đồng.

Ngày 30-8-2005 Phùng Thị Xuân kháng cáo kêu oan.

Tại bản án Hình sự phúc thẩm số 91/2005/HSPT ngày 10-11-2005 Tòa án nhân dân  tỉnh Bạc Liêu giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm đối với Phùng Thị Xuân.

Xét thấy:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy: Lời khai của chị Trương Thị Đậm phù hợp với lời khai của anh Trần Hồng Quân, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, do vậy có căn cứ kết luận Phùng Thị Xuân đã loan tin bịa đặt là nhìn thấy anh Quân ôm hôn chị Đậm và Xuân đã đến chính quyền ấp, chính quyền xã tố cáo việc này. Tòa án các cấp áp dụng Điều 122 Bộ luật hình sự kết an Phùng Thị Xuân về tội “vu khống” là đúng bởi vì theo quy định tại Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự thì tội “vu khống” chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại. Nhưng trong vụ án này chỉ có một mình chị Đậm (là người bị hại) có đơn yêu cầu khởi tố đối với Xuân còn anh Quân không có đơn yêu cầu khởi tố do đó hành vi phạm tội của Xuân chỉ bị truy tố và xét xử theo khoản 1 Điều 122 Bộ luật hình sự. Tòa án các cấp kết án Phùng Thị Xuân  theo điểm c (đối với nhiều người) khoản 2 Điều 122 Bộ luật hình sự là không đúng và xử phạt Phùng Thị Xuân 01 năm tù là quá nghiêm khắc. Hành vi phạm tội của bị cáo Phùng Thị Xuân chưa gây hậu quả nghiêm trọng, hiện nay bị cáo đã ngoài 60 tuổi và có nhân thân tốt, bị cáo có quá trình cống hiến cho cách mạng, do đó chỉ cần áp dụng hình phạt cảnh cáo đối với Phùng Thị Xuân cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Vì các lẽ trên,

Quyết định

Kháng nghi bản án hình sự phúc thẩm số 91/HSPT 10-11-2005 của Tòa án nhân dân  tỉnh Bạc Liêu. Đề nghị Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

 __________________ 

- Lý do kháng nghị hủy bản án hình sự phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại:

áp dụng điểm c (đối với nhiều người) khoản 2 Điều 122 Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo là không đúng.

Bị cáo phạm tội chưa gây hậu quả nghiêm trọng, có nhân thân tốt nên chỉ phạt cảnh cáo cũng đủ tác dụng giáo dục phòng ngừa.

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

Tại quyết định giám đốc thẩm số 8/2006/HSST-GĐT ngày 22-11-2006 Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định: Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 91/2005/HSPT ngày 10-11-2005 của Tòa án nhân dân  tỉnh Bạc Liêu để xét xử phúc thẩm lại theo thủ tục chung với nhận định như kháng nghị nêu trên.

 

20- Kháng nghị giám đốc thẩm Số 22/VKSTC-V3 ngày 24/10/2005 đối với vụ án Hoàng Bá Quang  phạm tội “vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp”

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 104/HSPT ngày 27/10/2004 Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang tuyên Hoàng Bá Quang sinh năm 1956; trú quán: thôn Phù Tài, xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang không phạm tội “vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp”.

Nhận thấy

Vợ chồng anh Vương Văn Khoa và chị Hoàng Thị Oanh có dựng một ngôi nhà để bán than ở khu vực lòng đê sông Cầu. Sáng ngày 01/8/2002 chị Hoàng Thị Oanh cùng con gái là Vương Thị Uyên ra đê xem mức nước sông thì gặp anh Lê Văn Dũng làm nghề chở đò. Vì anh Lê Văn Dũng dùng nhờ điện thắp sáng ở bến đò nên có nói với chị Hoàng Thị Oanh vào bảo Hoàng Bá Quang là thợ điện của thôn cắt điện dẫn vào nhà chị Hoàng Thị Oanh để anh Lê Văn Dũng cắt điện vì nước sông đã lên gần đến bảng điện. Chị Hoàng Thị Oanh và cháu Vương Thị Uyên đến nhà Hoàng Bá Quang bảo Hoàng Bá Quang cắt điện vào khu nhà bán than. Do gia đình đang đảo mái ngói nhà, nên Hoàng Bá Quang bảo cháu Vương Thị Uyên vác thang ra cột điện treo hòm công tơ và giữ thang để Hoàng Bá Quang trèo lên cắt điện.

Hoàng Bá Quang khai khi cắt điện lần thứ nhất thì Quang chỉ rút 02 đầu dây dẫn điện từ công tơ vào nhà bán than của chị Hoàng Thị Oanh mà không tháo hai mối buộc chồng lên 02 dây nhôm trần hạ thế quấn ở hai quả sứ mà trước đây khi thi công lắp đặt đường dây dẫn điện của thôn, Hoàng Bá Quang đã buộc đè lên với mục đích để dây dẫn điện vào nhà chị Hoàng Thị Oanh không bị võng xuống.

Đến 08 giờ cùng ngày cháu Vương Thị Uyên gặp anh Lê Văn Dũng tại bến đò, anh Lê Văn Dũng bảo cháu Vương Thị Uyên đưa chìa khoá nhà bán than để vào tháo bảng điện và nói với anh Hoàng Bá Siển tháo đầu dây ở cây đa xuống để thu dây. Sau đó, anh Lê Văn Dũng mở khoá cửa vào nhà bán than của chị Hoàng Thị Oanh tháo bảng điện, anh Hoàng Bá Siển không ra cây đa tháo dây mà đi xe máy ra đê, cởi quần áo lội vào nhà bán than của chị Hoàng Thị Oanh gọi tìm anh Lê Văn Dũng nhưng không thấy. Anh Siển quay ra bảo cháu Vương Thị Uyên hỏi lại Hoàng Bá Quang xem đã cắt điện chưa thì Hoàng Bá Quang trả lời đã rút 02 đầu dây ra khỏi công tơ nhà cháu Vương Thị Uyên rồi. Khi gặp ở cột mốc chân đê, Hoàng Bá Quang đưa bút thử điện và bảo anh Hoàng Bá Siển vào kiểm tra trong nhà bán than của chị Hoàng Thị Oanh đã cắt điện chưa, anh Siển bảo Hoàng Bá Quang vứt 02 dây dẫn điện vào nhà chị Hoàng Thị Oanh buộc ở cố sứ xuống đất. Hoàng Bá Quang đến trạm điện cắt cầu dao tổng, rồi trèo lên cột điện tháo 02 đầu dây dẫn điện vào nhà bán than của chị Hoàng Thị Oanh đang buộc ở cổ sứ thả xuống đường. Sau khi Hoàng Bá Quang hoàn tất công việc trên, anh Hoàng Bá Siển bảo anh Lê Văn Nghị là cháu ruột của anh Lê Văn Dũng cùng lội vào nhà bán than của chị Hoàng Thị Oanh để tìm thì thấy anh lê Văn Dũng nằm chìm dưới nền nhà nên đưa lên gò để cấp cứu nhưng anh Lê Văn Dũng đã chết.

Khám nghiệm hiện trường: là nhà trần (mái bằng) 3 gian nằm trong khu vực lòng đê sông Cầu, giáp với lối lên xuống bến đò Phù Tài. Có 01 cửa chính ra vào 2 cánh, cửa có đinh khuy để khoá, nhìn ra hướng Đông. Trước cửa có 01 dây phơi, trên dây có móc 01 khoá Việt Tiệp (có chìa cắm ở ổ), cửa mở. Mực nước trong nền 1m20 đo từ nền, toàn bộ tài sản đã được chuyển đi nơi khác. Trong nhà có 01 bảng điện treo ở tường phía Bắc, cách mặt nước 20cm, cách trần 80cm. Tường phía Tây có 02 dây điện chạy từ ngoài vào bảng điện, được dẫn từ cột điện ở chân đê vào nhà. đường dây dẫn điện từ cột vào nhà dài 70m, đầu cột điện có 01 hộp đựng 6 công tơ, trong đó có 01 công tơ của nhà chị Hoàng Thị Oanh. Hai đầu dây cắm vào công tơ của nhà chị Hoàng Thị Oanh đã rút ra khỏi công tơ và vứt xuống đường.

Khám nghiệm tử thi anh Lê Văn Dũng: Mặt trong ngón tay cái bàn tay phải có đám cháy kích thước 1,5 x 1, lòng đốt 2 ngón đeo nhẫn bàn tay trái có đám phồng rộp cháy kích thước 1,5 x 0,5 cháy sâu hết lớp da, đốt 1 ngón giữa bàn tay trái có đám cháy da đường kính 1,5.

Bản giám định pháp y số 65/GĐPY ngày 05/8/2002 của Tổ chức giám định pháy y tỉnh Bắc Giang kết luận “Trên cơ thể nạn nhân chỉ có một số đám cháy ở lòng hai bàn tay sâu hết lớp da là phù hợp do điện gây ra. Ngoài ra, không có gì đặc biệt”.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 28/HSST ngày 15/8/2003 Toà án nhân dân  huyện Việt Yên áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 99; khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự xử  phạt Hoàng Bá Quang 18 tháng tù về tội “vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp”. Cấm Hoàng Bá Quang hành nghề quản lý lưới điện nông thôn 04 năm sau khi chấp hành xong hình phạt tù.

Buộc Hoàng Bá Quang bồi thường cho chị Nguyễn Thị Huyền số tiền là 12.000.000 đồng và đóng góp phí tổn nuôi 02 cháu Lê Văn Hùng sinh tháng 6/1997 và Lê Văn Việt sinh tháng 8/2000 là 150.000đồng/cháu/tháng kể từ tháng 9/2003 đến khi tròn 18 tuổi.

Ngày 18/8/2003 Hoàng Bá Quang kháng cáo kêu oan.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 90/HSPT ngày 17/11/2003 Toà án nhân dân  tỉnh Bắc Giang áp dụng khoản 3 Điều 220; khoản 1 Điều 222 Bộ luật tố tụng hình sự huỷ bản án hình sự sơ thẩm số 28/HSST ngày 15/8/2003 của Toà án nhân dân huyện Việt Yên để điều tra lại.

Ngày 05/3/2004, Cơ quan điều tra huyện Việt Yên đã dựng lại hiện trường để thực nghiệm điều tra có sự tham gia của Viện kiểm sát, chính quyền địa phương và Sở công nghiệp tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên, kết quả điều tra thực nghiệm ngày 05/3/2004 khi Hoàng Bá Quang thao tác cắt điện (rút 2 đầu dây ra khỏi công tơ nhà chị Hoàng Thị Oanh) thì hệ thống điện nhà bán than của chị Hoàng Thị Oanh không có điện. Lý do: điều kiện môi trường tại nơi tiến hành thực nghiệm không thể tạo ra được độ ẩm đối với tường nhà, dây dẫn và bảng điện.

Tại Bản ý kiến giám định của Sở Công nghiệp tỉnh Bắc Giang số 53/CN-QLĐ ngày 09/3/2004 về vụ tai nạn chết người về điện do vi phạm quy tắc nghề nghiệp thì: nguyên nhân có thể dẫn đến cái chết vì điện đối với anh Lê Văn Dũng là:

- Anh Lê Văn Dũng tháo dỡ bảng điện sau khi Hoàng Bá Quang cắt điện, nhưng đường dây về nhà anh Vương Văn Khoa vẫn có điện do 2 khả năng: khả năng 1: cắt nhầm công tơ hộ khác, khả năng 2: cắt đúng nhưng chủ quan không kiểm tra lại trong khi đường dây vẫn có điện. Thực tế tại hiện trường thấy khả năng thứ hai dễ xảy ra vì đường dây dẫn điện từ sau công tơ về nhà anh Vương Văn Khoa là dây cũ, có mốc nối, sây xát lại quấn chồng vào 2 cổ sứ đè lên dây nhôm trần. Điểm quấn chồng lên cổ sứ, đường dây kém chất lượng cùng với thời tiết mùa mưa ẩm ướt năm 2002 có thể là nguyên nhân chính dẫn đến dò điện từ trục chính vào dây nhà anh Vương Văn Khoa, nên sau khi Hoàng Bá Quang cắt điện mà đường dây nhà anh Vương Văn Khoa vẫn có điện.

Kết luận: Căn cứ Quy định an toàn điện nông thôn ban hành kèm theo Quyết định số 41/2001/QĐ-BCN ngày 30/8/2001 của Bộ Công nghiệp thì Hoàng Bá Quang đã vi phạm quy trình, quy phạm kỹ thuật an toàn điện nông thôn. Tóm lại, sau khi Hoàng Bá Quang báo đã cắt điện nhưng trên đường dây về nhà anh Vương Văn Khoa vẫn có điện để xảy ra tai nạn thì Hoàng Bá Quang phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 15/HSST ngày 02/8/2004 Toà án nhân dân  huyện Việt Yên áp dụng Điều 222 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên bố Hoàng Bá Quang không có tội.

Ngày 04/8/2004 chị Nguyễn Thị Huyền đại diện hợp pháp của người bị hại kháng cáo.

Ngày 12/8/2004 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên kháng nghị đề nghị huỷ án sơ thẩm để xét xử lại theo trình tự sơ thẩm, tuyên bố Hoàng Bá Quang phạm tội “vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp” theo Điều 99 Bộ luật hình sự.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 104/HSPT ngày 27/10/2004, Toà án nhân dân  tỉnh Bắc Giang áp dụng điểm a khoản 2 Điều 248; Điều 222 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của đại diện người bị hại và kháng nghị của Viện kiểm sát, giữ nguyên bản án sơ thẩm tuyên bố Hoàng Bá Quang không phạm tội “vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp”.

Xét thấy:

Theo bản hợp đồng về việc khoán quản lý dịch vụ điện thắp sáng năm 2003 giữa ban quản trị Hợp tác xã Phù tài với bên nhận khoán làm dịch vụ do Hoàng Bá Quang làm tổ trưởng, thì tổ điện của thôn có trách nhiệm quản lý toàn bộ công trình điện của thôn từ dây dẫn dưới máy biến áp, toàn bộ lưới điện hạ thế  trong thôn. Tại khoản 2 Điều 10 quy định về an toàn điện nông thôn (ban hành kèm theo Quyết định số 41/2001/QĐ - BCN ngày 30/8/2001 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp) có quy định: “… Nếu cần bắt nhiều dây dẫn trên một sứ thì phải dùng sứ nhiều tán hoặc sứ đệm nhiều tầng. Cấm mắc nhều dây dẫn chồng lên nhau trên một cổ sứ”. Tuy nhiên, khi thi công lắp đặt đường dây trần hạ thế và đường dây điện sinh hoạt đến các hộ sử dụng điện, do không muốn để dây bị võng nên Hoàng Bá Quang đã không tuân thủ quy định này. Cụ thể, Hoàng Bá Quang quấn hai đầu dây dẫn điện ở phía sau công tơ về nhà bán than của chị Hoàng Thị Oanh chồng lên hai dây nhôm trần trục chính ở vị trí hai cổ sứ.

Tại Điều 23 quy định về an toàn điện nông thôn (ban hành kèm theo Quyết định số 41/2001/QĐ - BCN ngày 30/8/2001 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp) quy định: “Khi treo, tháo công tơ đều phải cắt điện rồi mới được thực hiện. Những đầu dây còn lại sau khi tháo công tơ phải lấy băng cách điện bọc kín lại. Trong trường hợp cần kiểm tra công tơ và các mạch đo lường có thể được phép không cắt điện nhưng công nhân thực hiện công việc này phải được huấn luyện về chuyên môn, khi làm việc phải có hai người”. Tại khoản 1, khoản 3 Điều 37 cũng quy định: “Sửa chữa điện trên cột có nhiều mạch hạ áp thì phải cắt điện tất cả các mạch”, “Việc cắt điện phải thực hiện bằng cầu dao hoặc áptômát. Nếu cầu dao bố trí ở phía sau tủ bảng điện, ở trong hòm cầu dao, thì phải mở nắp để kiểm tra, phải nhìn thấy rõ cả 3 lưỡi dao đã ở vị trí cắt”. Ngoài ra, khoản 1 Điều 38 còn quy định: “Tại nơi làm việc phải dùng bút thử điện kiểm tra không còn điện. Phải thử ở cả 3 pha và dây trung tính. Bút thử điện phải được kiểm tra trước ở nơi có điện để chắc chắn bút làm việc tốt.”. Ngày 01/8/2002, sau khi nhận được yêu cầu cắt điện của gia đình chị Hoàng Thị Oanh thì Hoàng Bá Quang đã hai lần cắt điện. Lần thứ nhất Hoàng Bá Quang trèo lên cột điện nhưng chỉ rút hai đầu dây ở sau công tơ nhà chị Hoàng Thị Oanh; lần thứ hai Hoàng Bá Quang mới cắt điện ở cầu dao tổng của trạm, sau đó trèo lên cột điện gỡ nút quấn chồng lên dây điện trần hạ thế ở hai cổ sứ và vứt dây dẫn điện của nhà chị Hoàng Thị Oanh xuống đường. Như vậy, khi Hoàng Bá Quang cắt điện nhà chị Hoàng Thị Oanh lần thứ nhất đã không tiến hành cắt điện bằng cầu dao hoặc áptômát, không kiểm tra điện thế và áp dụng các biện pháp để ngăn ngừa dòng điện trở lại là vi phạm các quy định nêu trên dẫn đến hậu quả khi anh Lê Văn Dũng vào tháo bảng điện trong nhà bán than của gia đình chị Hoàng Thị Oanh thì bị điện giật chết.

Tại Bản giám định pháp y số 65/GĐPY ngày 05/8/2002 của Tổ chức giám định pháp y tỉnh Bắc Giang đã kết luận trên cơ thể nạn nhân Lê Văn Dũng chỉ có một số đám cháy ở lòng hai bàn tay  sâu hết lớp da là phù hợp do điện gây ra.

Hoàng Bá Quang cho rằng anh Lê Văn Dũng bị chết trước khi Hoàng Bá Quang cắt điện lần thứ nhất là không có căn cứ, vì theo những người làm chứng là chị Hoàng Thị Oanh, các anh Tạ Duy Khanh và Hoàng Bá Điền thì khi Hoàng Bá Quang cắt điện dẫn về nhà bán than của gia đình chị Hoàng Thị Oanh lần thứ nhất họ vẫn nhìn thấy anh Lê Văn Dũng đứng xem Hoàng Bá Quang cắt điện. Cháu Vương Thị Uyên khẳng định rằng sau khi Hoàng Bá Quang cắt điện lần thứ nhất mới đưa chìa khoá cho anh Lê Văn Dũng mở kháo cửa vào nhà bán than để tháo bảng điện, nên lời khai của Hoàng Bá Quang là không có cơ sở. Ngoài Hoàng Bá Quang là người có những thao tác cắt điện thì không còn ai tham gia vào việc cắt điện nhà chị Hoàng Thị Oanh; cũng không tìm ra nguyên nhân khách quan nào dẫn đến cái chết của anh Lê Văn Dũng.

Với những căn cứ như đã nêu trên xét thấy có đủ cơ sở xác định ngày 01/8/2002 Hoàng Bá Quang là tổ trưởng tổ điện có trách nhiệm quản lý toàn bộ công trình điện của thôn Phù Tài, là người trực tiếp thao tác cắt điện nhà chị Hoàng Thị Oanh nhưng không thực hiện đúng các quy trình quy phạm của ngành điện, đã vi phạm các quy định về an toàn điện nông thôn dẫn đến hậu quả làm anh Lê Văn Dũng bị điện giật chết nên Hoàng Bá Quang phải chịu trách nhiệm về hậu quả gây ra. Do đó, cần phải huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 104/HSPT ngày 27/10/2004 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và bản án hình sự sơ thẩm số 15/HSST ngày 02/8/2004 của Toà án nhân dân  huyện Việt Yên để giải quyết lại vụ án từ giai đoạn điều tra để Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên để giải quyết lại vụ án từ giai đoạn điều tra theo đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Quyết định

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 104/HSPT ngày 27/10/2004 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang. Đề nghị Toà Hình sự – Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và bản án hình sự sơ thẩm số 15/HSST ngày 02/8/2004 của Toà án nhân dân huyện Việt Yên để điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật.

_______________________________

 Lý do kháng nghị huỷ bản án hình sự phúc thẩm và sơ thẩm:

Tuyên bố Hoàng Bá Quang không phạm tội là phản ánh không đúng các tình tiết khách quan của vụ án và hành vi phạm tội của Hoàng Bá Quang.

 Kết quả xét xử giám đốc thẩm: Tại quyết định giám đốc thẩm số 08/2006/HS-GĐT ngày 16/3/2006, Toà Hình sự Toà án nhân dân tối cao đã quyết định: “Huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 104/HSPT ngày 27/10/2004 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và bản án hình sự sơ thẩm số 15/HSST ngày 02/8/2004 của Toà án nhân dân  huyện Việt Yên để điều tra lại” với nhận định như kháng nghị nêu trên.

 

21- Kháng nghị giám đốc thẩm Số 15/VKSTC-V3 ngày 23-6-2006 đối với vụ án Vũ Chí Thiện phạm tội:"Hiếp dâm trẻ em"

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 478/HSPT ngày 28-6-2005 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt Vũ Chí Thiện sinh năm 1986; trú tại thôn 9, xã Krông Buk, huyện Krông Păk, tỉnh Đăk Lăk về tội “hiếp dâm trẻ em”.

Nhận thấy:

Khoảng 13 giờ ngày 08-6-2004, Vũ Chí Thiện sang nhà bà Bùi Thị Phương chơi, Thiện phát hiện thấy cháu Trần Thị Thỏa (cháu bà Phương) ở nhà một mình đang nằm trên giường nên Thiện nảy sinh ý định hiếp dâm cháu Thỏa. Thực hiện ý định Thiện đi vào nhà thì cháu Trần Thị Thỏa đứng dậy đi ra, Thiện liền tiến lại ôm cháu Thỏa và dùng tay bịt miệng, kéo cháu Thỏa vào trong buồng đè cháu xuống nền nhà, kéo quần cháu Thỏa xuống rồi thực hiện hành vi hiếp dâm cháu Thỏa. Trong khi Thiện đang giao cấu thì cháu Trần Minh Hiếu sinh năm 1991 (con của bà Phương) đi chơi về chạy vào trong buồng nhìn thấy nên Thiện thả cháu Trần Thị Thỏa ra và đứng nép vào cạnh thùng lúa rồi sau đó bỏ chạy ra vườn cà phê, còn cháu Thỏa đứng dậy tự kéo quần lên và khóc. Khoảng 5 phút sau Thiện cầm quả bưởi đi vào đưa cho cháu Trần Minh Hiếu và nói nhỏ với cháu Hiếu “về đừng nói với ai, khi nào cần tiền tao cho”. Sau khi sự việc xảy ra cháu Trần Thị Thỏa nói lại  cho gia đình bà Phương biết. Ngày 10-6-2004 bà Bùi Thị Thường là mẹ của cháu Thỏa làm đơn tố cáo hành viphạm tội của Thiện với công an huyện Krông Păk, tỉnh Đăk Lăk.

Tại bản giám định pháp y số 590/GĐPY ngày 15-6-2005, Tổ chức giám định pháp y tỉnh Đăk Lăk kết luận : Cháu Trần Thị Thỏa bị rách màng trinh mới, viêm sinh dục; tổn hại sức khỏe là 30%.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 27/HSST  ngày 29-1-2005, Tòa án nhân dân  tỉnh Đăk Lăk áp dụng khoản 1 Điều 112; điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Vũ Chí Thiện 8 năm tù về tội “hiếp dâm trẻ em”; buộc bị cáo phải bồi thường cho cháu Trần Thị Thỏa tiền bồi dưỡng sức khỏe và tiền tổn thất về tinh thần tổng cộng là 6.500.000đồng.

Xét thấy:

Người bị hại là cháu Trần Thị Thỏa là người chưa thành niên, bố và mẹ cháu Trần Thị Thỏa còn sống. Người bị hại sinh tại xã Xuân Yên, huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh nhưng năm nào vào xã Krông Búk, huyện Krông Pắk, tỉnh Đăk Lăk ở với dì (bà Bùi Thị Phương)? Bà Bùi Thị Phương có phải là mẹ nuôi hoặc là người trực tiếp nuôi dưỡng người bị hại hay không thì chưa được điều tra làm rõ. Mặt khác, hồ sơ vụ án không có giấy ủy quyền của bố hoặc mẹ của người bị hại ủy quyền cho bà Bùi Thị Phương làm người đại diện cho người bị hại tại phiên tòa, nên việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà Bùi Thị Thường (là mẹ đẻ của cháu Trần Thị Thỏa) là người đại diện hợp pháp của người bị hại là đúng, còn việc xác định bà Bùi Thị Phương là người đại diện của người bị hại là chưa có căn cứ. Nếu bà Bùi Thị Phương không phải là người đại diện hợp pháp của người bị hại, thì việc Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà Bùi Thị Phương là chưa đúng. Tại phiên tòa , Hội đồng xét xử phúc thẩm không kiểm tra xem xét tư cách tham gia tố tụng của bà Bùi Thị Phương là vi phạm nghiêm trọng Điều 231 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về những người có quyền kháng cáo.

Theo các tài liệu do cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án như: giấy khai sinh chính (bản phô tô không có công chứng), bản sao giấy khai sinh, sổ hộ khẩu của gia đình bà Bùi Thị Thường, sổ hộ tịch của xã Xuân Yên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh và các tài liệu xác minh của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (lời khai của bà Bùi Thị thường, lời khai của bà cổ Thị Thành là người có con sinh cùng năm với cháu Trần Thị Thỏa) đều thể hiện người bị hại là cháu Trần Thị Thỏa sinh năm 1993, tuy ngày, tháng sinh có khác nhau (giấy khai sinh chính ghi ngày 04-8-1993, bản sao giấy khai sinh ghi ngày 03-9-1993, còn sổ hộ khẩu gia đình bà Bùi thị Thường và sổ hộ tịch của xã Xuân Yên thì ghi cháu Trần Thị Thỏa sinh ngày 08-9-1993). Nếu lấy ngày 01-01-1993 là ngày sinh của người bị hại thì đến ngày 8-6-2004 (ngày Vũ Chí Thiện hiếp dâm), người bị hại mới 11 tuổi 6 tháng 07 ngày.

Nhưng theo bản giám định pháp y số 4800/C21 CIII ngày 29-10-2004 của Phân viện khoa học hình sự Bộ công an kết luận: căn cứ vào mức độ phát triển thể chất của cơ thể  cháu Trần Thị Thỏa, sự phát triển của các xương tay và chân, xương chậu, mức độ hàn các đầu xương vào thân xương của các xương tay và chân, xương chậu, đánh giá độ tuổi của cháu Trần Thị Thỏa tại thời điểm giám định (ngày 12-10-2004) là 13 năm 9 tháng đến 14 năm 3 tháng. Theo kết luận giám định pháp y thì người bị hại sinh khoảng từ ngày 12-7-1990 đến ngày 12-3-1991. Khi bị Vũ Chí Thiện hiếp dâm (ngày 08-6-2004), người bị hại khoảng từ 13 tuổi 02 tháng 26 ngày đến 13 tuổi 10 tháng 26 ngày.

Như vậy, nếu căn cứ vào kết luận giám định pháp y thì Vũ Chí Thiện phạm tội “hiếp dâm trẻ em” theo quy định tại khỏan 1 Điều 112 Bộ luật hình sự có khung hình phạt tù từ 07 năm dến 15 năm; nếu căn cứ vào giấy khai sinh, sổ hộ khẩu, sổ hộ tịch và các biên bản xác minh của Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì Vũ Chí Thiện phạm tội “hiếp dâm trẻ em” theo quy định tại khoản 4 Điều 112 Bộ luật hình sự có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình, và khi điều tra, xét xử phải có người bào chữa tham gia để bảo vệ cho Vũ Chí Thiện theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Trong khi hồ sơ vụ án có hai loại tài liệu về độ tuổi của người bị hại mâu thuẫn nhau, kết luận giám định pháp y chỉ là tài liệu tham khảo, nhưng bản cáo trạng, bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm không có lập luận để bác bỏ ngày, tháng, năm sinh của người bị hại tại các giấy khai sinh, sổ hộ khẩu, sổ hộ tịch mà chỉ căn cứ vào kết quả giám định xương của người bị hại để kết luận khi bị Vũ Chí Thiện hiếp dâm, người bị hại đã trên 13 tuổi là chưa đúng pháp luật. Mặt khác, cơ quan điều tra cũng chưa điều tra, đối chất làm rõ  các mâu thuẫn về ngày, tháng sinh của người bị hại tại các giấy khai sinh với ngày, tháng sinh tại sổ hộ khẩu và sổ hộ tịch. Do đó, cần phải điều tra lại làm rõ các vấn đề sau:

- Xác định chính xác tư cách tham gia tố tụng của bà Bùi Thị Phương?

- Thu thập thêm chứng cứ về tuổi của người bị hại để kết luận chính xác Vũ Chí Thiện phạm tội quy định tại khoản 1 hay khoản 4 Điều 112 Bộ luật hình sự để xử lý vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Quyết định:

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 478/HSPT ngày 28-6-2005 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng. Đề nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và bản án hình sự sơ thẩm số 27/HSST của Tòa án nhân dân  tỉnh Đăk Lăk để điều tra lại theo quy định của pháp luật.

__________________ 

- Lý do bản án hình sự phúc thẩm của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng bị kháng nghị:

+ Các chứng cứ, tài liệu để xác định chính xác tuổi của cháu Trần Thị Thỏa chưa được thu thập và xem xét đầy đủ để kết luận Vũ Chí Thiện phạm tội quy định tại khoản 1 hay khoản 4 Điều 112 Bộ luật hình sự?

+ Chưa kiểm tra xác định chính xác tư cách tham gia tố tụng của bà Bùi Thị Phương có phải là đại diện hợp pháp cho bị hại hay không?

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm :

Tại quyết định giám đốc thẩm số 23/2006/HS/GĐT ngày 1-8-2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định: Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 478 ngày 8-6-2005 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng và bản án hình sự sơ thẩm số 27/HSST ngày 28-1-2005 của Tòa án nhân dân  tỉnh Đăk Lăk để điều tra lại theo thủ tục chung với nhận định như kháng nghị nêu trên.

 

22- Kháng nghị giám đốc thẩm Số 16/VKSTC-V3 ngày 27/7/2006 đối với vụ án Huỳnh Hữu Tùng  cùng đồng bọn phạm tội “cố ý gây thương tích”

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 56/2005/HSPT ngày 16/8/2005 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam tuyên không phạm tội “cố ý gây thương tích” đối với:

1- Huỳnh Hữu Tùng, sinh năm 1985; trú tại: thôn 2, thị trấn Tân An, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam; tiền án: Ngày 20/3/2003 bị Toà án nhân dân  huyện Hiệp Đức xử phạt 3 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội “vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”.

2- Nguyễn Minh Hiếu, sinh năm 1983; trú tại: thôn 2 thị trấn Tân An, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.

3 – Lê Công Thành, snh năm 1985; trú tại: thôn 2 thị trấn Tân An, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.

4- Lê Văn Vương, sinh năm 1986; trú tại: thôn 2 thị trấn Tân An, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.

Xét thấy:

Khoảng 20 giờ ngày 05/9/2004 Huỳnh Hữu Tùng cùng với các bạn là Nguyễn Minh Hiếu, Châu Thị Kim Huệ, Nguyễn Thị Nhị, Trần Thị Hường đi xem văn nghệ tại sân vận động huyện Hiệp Đức. Khi xem được khoảng 30 phút thì chị Hường đập vào vai Tùng và chỉ vào anh Lê Văn Ngà nói: “Thằng nớ vỗ mông tao”. Sau khi nghe chị Hường nói thì Tùng chỉ vào anh Ngà và nói cho Hiếu nghe nhưng Hiếu không nói gì. Sau đó Hiếu dùng xe máy chở Hường về nhà. Khi quay trở lại sân vận động Hiếu đi qua quán cà phê thấy Lê Công Thành và Nguyễn Văn Vương đang ngồi uống cà phê thì Hiếu vào rủ Thành và Vương cùng xuống sân vận động xem hát. Tới sân vận động thì Hiếu, Thành và Vương gặp Tùng tồi Hiếu kể lại cho Thành, Vương nghe việc chị Hường bị một thanh niên bóp mông và Tùng chỉ tay vào anh Lê Văn Ngà đang ngồi xem. Sau khi nghe kể xong thì Thành đi đến chỗ anh Ngà bất ngờ dùng chân đạp vào má phải và phía sau cổ anh Ngà. Anh Ngà đứng dậy đánh lại Thành nhưng không trúng. Thấy vậy Tùng, Vương, Hiếu dùng chân đá vào lưng, hông anh Ngà, Hiếu dùng tay đấm vào mắt trái anh Ngà, Tùng dùng chiếc ghế nhựa đánh vào giữa mặt anh Ngà gây thương tích.

Tại bản giám định thương tích số 693/GĐT ngày 08/9/2004 của Tổ chức giám định y pháp tỉnh Quảng Nam kết luận tỷ lệ thương tích của anh Lê Văn Ngà là 14%.

Tại Quyết định số 01 ngày 16/1/2005, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Đức đã trả hồ sơ vụ án và đề nghị Cơ quan điều tra xác định rõ tỷ lệ thương tích của mỗi bị can gây ra cho anh Lê Văn Ngà.

Tại công văn số 04 ngày 19/1/2005 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Quảng Nam kết luận thương tích của anh Lê Văn Ngà như sau: Vết thương vùng thái dương gò má bên phải tỷ lệ 2%; Vết thương vùng giữa trán đến sống mũi, gãy xương chính mũi tỷ lệ 11%; Vết thương vùng hông bên phải tỷ lệ 1%.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 05/2005/HSST ngày 05/5/2005 Toà án nhân dân huyện Hiệp Đức áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự xử phạt Huỳnh Hữu Tùng 26 tháng tù về tội “cố ý gây thương tích”.

áp dụng điểm i khoản 1 Điều 104; điểm b, g, h, p khoản 1 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 60; khoản 1, 2 Điều 31 Bộ luật hình sự xử phạt: Lê Công Thành 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng; Các bị cáo Nguyễn Minh Hiếu và Nguyễn Văn Vương mỗi bị cáo 6 tháng cải tạo không giam giữ đều về tội “cố ý gây thương tích”.

Ngày 08/5/2005 Huỳnh Hữu Tùng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị giám định lại thương tích của anh Lê Văn Ngà.

Ngày 12/6/2005 anh Lê Văn Ngà có đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả các bị cáo.

Kết quả giám định thương tích số 717/GĐTT ngày 16/8/2005 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Quảng Nam kết luận tỷ lệ thương tích của người bị hại là 10%.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 56/2005/HSPT ngày 16/8/2005 Toà án nhân dân  tỉnh Quảng Nam áp dụng khoản 2 Điều 105; Điều 251 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định huỷ bản án hình sự sơ thẩm số 05/2005/HSST ngày 05/5/2005 của Toà án nhân dân  huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam tuyên bố các bị cáo Huỳnh Hữu Tùng, Lê Công Thành, Nguyễn Minh Hiếu và Nguyễn Văn Vương không phạm tội “cố ý gây thương tích” và đình chỉ vụ án.

Xét thấy:

Toà án cấp sơ thẩm kết án các bị cáo về tội “cố ý gây thương tích” là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, việc Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào công văn số 04/GĐPY ngày 19/1/2005 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh tỉnh Quảng Nam để xét xử các bị cáo Lê Công Thành, Nguyễn Minh Hiếu, Nguyễn Văn Vương theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự là áp dụng không đúng điều khoản của Bộ luật hình sự bởi lẽ tất cả các bị cáo đều tham gia đánh anh Ngà, do đó phải chịu hậu quả chung là thương tích 14% và phạmt ội có tính chất côn đồ nên phải truy tố xét xử các bị cáo theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự mới đúng.

Toà án cấp phúc thẩm không khắc phục thiếu sót này lại căn cứ vào kết quả giám định thương tích số 717/GĐTT ngày 16/8/2005 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Quảng Nam kết luận thương tích của anh Ngà là 10% và việc người bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố đối với tất cả các bị cáo tại phiên toà phúc thẩm để tuyên bố các bị cáo không phạm tội “cố ý gây thương tích” và đình chỉ vụ án là vi phạm nghiêm trọng tố tụng. Bởi vì việc người bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố theo quy định tại khoản 2 Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự chỉ được chấp nhận trước khi mở phiên toà sơ thẩm. Mặt khác, việc giám định lại thương tích sau gần một năm là không phản ánh đúng mức độ thương tích của người bị hại và trường hợp phải giám định lại hoặc giám định bổ sung thì theo khoản 2 Điều 159 Bộ luật tố tụng hình sự việc giám định lại phải do người giám định khác tiến hành. Do đó, kết luận giám định lần thứ hai vẫn do những giám định viên đã giám định lần đầu là vi phạm khoản 2 Điều 159 Bộ luật tố tụng hình sự và trong Bản kết luận giám định lần thứ hai ghi ngày 16/8/2005 trùng với ngày xét xử phúc thẩm là không khách quan.

Do có những thiếu sót nêu trên lẽ ra cần huỷ cả bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm để xét xử lại áp dụng khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự đối với tất cả các bị cáo mới đúng pháp luật. Tuy nhiên, do hành vi phạm tội của các bị cáo có mức độ, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, mức hình phạt Toà án cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo tuy có phần nhẹ nhưng các bị cáo Lê Công Thành, Nguyễn Minh Hiếu, Nguyễn Văn Vương không kháng cáo và không bị kháng nghị, vì vậy chỉ cần huỷ bản án hình sự phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm đối với Huỳnh Hữu Tùng là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

Quyết định:

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 56/2005/HSPT ngày 16/8/2005 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam. Đề nghị Toà Hình sự – Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, huỷ bản án hình sự phúc thẩm nêu trên để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

_________________________________

 Lý do kháng nghị huỷ bản án hình sự phúc thẩm:

+  Chấp nhận đơn rút yêu cầu khởi tố của bị hại tại phiên toà phúc thẩm để tuyên các bị cáo không phạm tội “cố ý gây thương tích” là vi phạm khoản 2 Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự.

 Việc giám định lại (lần 2) vẫn do những Giám định viên đã tiến hành giám định lần đầu (lần 1) là vi phạm nghiêm trọng khoản 2 Điều 159 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

Tại quyết định giám đốc thẩm số 34/2006/HS-GĐT ngày 26/9/2006, Toà Hình sự Toà án nhân dân tối cao đã quyết định: “Huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 56/2005/HSPT ngày 16/8/2005 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật” với nhận định như kháng nghị nêu trên.

 

23- Kháng nghị giám đốc thẩm Số 23/VKSTC-V3 ngày 28-9-2006 đối với vụ án Nguyễn Tấn Kiệt cùng đồng bọn phạm tội “cố ý gây thương tích”

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 35/2006/HSPT ngày 11-4-2006, Tòa án nhân dân  tỉnh Long An xử phạt đối với các bị cáo :

1- Nguyễn Tấn Kiệt sinh năm 1985; trú tại: ấp Tân Phú, xã Tân Hương, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

2- Lê Quốc Huy sinh năm 1986; trú tại: ấp Tân Phú, xã Tân Hương, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

3- Châu Hoàng Tiến sinh năm 1981, trú tại: ấp Tân Phú, xã Tân Hương, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

4- Nguyễn Văn Lâm, sinh năm 1983; trú tại: ấp Tân Phú, xã Tân Hương, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

5- Trần Minh Tâm sinh năm 1978; trú tại ấp Tân Phú, xã Tân Hương, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

Đều về tội “cố ý gây thương tích”

Nhận thấy:

Khoảng 21 giờ ngày 30-6-2005, Trần Minh Tâm, Nguyễn Tấn Kiệt, Nguyễn Văn Lâm, Châu Hoàng Hiếu và Lê Quốc Huy đến uống rượu tại quán Lẩu cầy Hà Nội ở số 359 quốc lộ 1A thuộc ấp Quyết Thắng, xã Khánh Hậu, thị xã Tân An, tỉnh Long An. Lúc này có anh Cao Văn Sang và anh Dương Văn Rô cũng đang ngồi uống rượu ở đó. Trong lúc uống rượu giữa anh Sang, anh Rô với bàn của Kiệt có lời qua tiếng lại và Tâm nói nếu chưa có vợ con thì sẽ đánh hai anh. Nghe vậy, Hiếu và Huy đòi đánh ngay nhưng Lâm và Tâm nói không được đánh trong quán mà để ra đường đón đánh và cả bọn đồng ý ra đường đứng đợi. Huy bẻ một thanh gỗ vạc giường ở  nhà bên vứt ra đường và Hiếu cầm thanh gỗ này, Kiệt cầm một thanh gỗ dài khoản 60 đến 70cm,  bản 4x1cm, Huy lấy một khúc cây cầm trên tay rồi nói cả bọn đi vào chỗ tối để đón đánh. Khoảng 15 phút sau anh Sang và anh Rô đi về, anh Sang say rượu không đi được nên ngồi xuống lề đường, còn anh Rô rắt xe đạp thì gặp Huy, Huy đấm vào gáy anh Rô, anh Rô bỏ xe chạy. Huy đuổi được 10m thì thấy anh Sang ngồi ở lề đường, Huy dùng tay đánh vào đầu đầu anh Sang và đạp làm anh Sang ngã nằm nghiêng. Thấy Huy đánh anh Sang và anh Rô thì Tâm nói với Lâm, Hiếu, Kiệt: “Thằng Huy nó đánh người ta kìa” lập tức Kiệt và Hiếu mỗi tên cầm một thanh gỗ chạy tới chỗ anh Sang và Lâm cũng chạy xe tới chỗ anh Sang. Kiệt đá vào người anh Sang và dùng thanh gỗ đánh một cái vào cổ anh Sang, Lâm đá vào người anh Sang, còn Tâm chở Huy đuổi đánh tiếp anh Rô, anh Rô bỏ chạy. Sau đó, cả bọn về tiệm sửa xe của Tâm tiếp tục uống rượu thì bị Công an thị xã Tân An bắt.

Sau khi bị đánh anh Sang chết tại chỗ, còn anh Rô bị chấn thương phần mềm, không đi giám định.

Tại bản giám định pháp y số 161/GĐPY ngày 04-7-2005, Tổ chức giám định pháp y tỉnh Long An kết luận: nạn nhân Cao văn Sang bị tử vong do bị tác động ngoại lực vào vùng cổ phía sau gây xuất huyết não lan tỏa.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 107/2005/HSST, Tòa án nhân dân  thị xã Tân An đã áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự  (áp dụng thêm Điều 60 Bộ luật hình sự đối với Trần Minh Tâm) xử phạt Nguyễn Tấn Kiệt 7 năm tù, Lê Quốc Huy 5 năm tù, Châu Hoàng Hiếu 3 năm tù, Nguyễn Văn Lâm 3 năm tù và Trần Minh Tâm 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 3 năm đều về tội “cố ý gây thương tích”.

Ngày 05-1-2006 nguyễn Tấn Kiệt, Châu Hoàng Hiếu và Nguyễn Văn Lâm kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 35/HSPT ngày 11-4-2006 Tòa án nhân dân  tỉnh Long An vẫn giữ nguyên các quyết định của bản án hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo Kiệt, Hiếu và Lâm.

Xét thấy:

Trần Minh Tâm, Nguyễn Tấn Kiệt, Lê Quốc Huy, Châu Hoàng Hiếu và Nguyễn Văn Lâm đã bàn bạc, chuẩn bị hung khí, chặn đường đánh anh Cao văn Sang và anh Dương Văn Rô. Mặc dù biết anh Sang say rượu không có khả năng tự về nhưng các bị cáo đã đấm, đá và dùng hung khí (thanh gỗ) đánh vào đầu, cổ và người anh Sang làm anh Sang chết tại chỗ. Hành vi phạm tội của các bị cáo cấu thành tội “Giết người” và tất cả các bị cáo đều phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hậu quả của vụ án. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân An truy tố các bị cáo về tội “cố ý gây thương tích”, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm kết án các bị cáo về tội “cố ý gây thương tích” là đánh giá không đúng tính chất của hành vi phạm tội của các bị cáo. Mặt khác, theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì không có cơ sở kết luận là anh Cao Văn Sang và anh Dương Văn Rô có lỗi hoặc có mâu thuẫm với các bị cáo nên việc các bị cáo chặn đường đánh các anh này rõ ràng là có tính chất côn đồ.

Do các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm và phúc thẩm có sai lầm nghiêm trọng nên phải hủy cả bản án hình sự sơ thẩm và bản án hình sự phúc thẩm  để điều tra lại xác định chính xác tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và có mức hình phạt tương xứng với tính chất, hậu quả và vai trò của từng bị cáo trong vụ án.

Vì các lẽ trên,

Quyết định:

Kháng nghị bản án Hình sự phúc thẩm số 35/HSPT ngày 11/4/2006 của Tòa án nhân dân  tỉnh Long An và bản án hình sự sơ thẩm số 107/2005/HSST ngày 24-12-2005 của Tòa án nhân dân  thị xã Tân An. Đề nghị Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm và bản án hình sự sơ thẩm nêu trên để điều tra xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật.

______________________ 

- Lý do kháng nghị hủy bảnán hình sự phúc thẩm:

Hành vi phạm tội của các bị cáo cấu thành tội giết người có tính chất côn đồ nhưng điều tra, truy tố và xét xử tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người là đánh giá không đúng tính chất hậu quả do các bị cáo gây ra.

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm :

Tại quyết định giám đốc thẩm số 42/2006/HS-GĐT, Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định: Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 35/HSPT ngày 11-4-2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An và bản án hình sự sơ thẩm số 107/HSST ngày 24-10-2005 của Tòa án nhân dân thị xã Tân An để điều tra lạivới nhận định như kháng nghị nêu trên.

 

24- Kháng nghị giám đốc thẩm Số 30/VKSTC-V3 ngày 12-12-2006 đối với vụ án Lê Bá Mai phạm tội “giết người” và tội “hiếp dâm trẻ em”

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 1345/2005/HSPT ngày 04/8/2005 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh kết án Lê Bá Mai sinh năm 1982; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú thôn 6, xã Cán Khê, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hoá; chỗ ở: ấp 1, xã An Khương, huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước về tội “giết người” và tội “hiếp dâm trẻ em”.

Nhận thấy

Vào Khoảng 6giờ 30 phút ngày 12/11/2004 anh Bạch Văn Hừng thuê Lê Bá Mai (là người trông giữ rẫy cho anh Dương Bá Tuân) cùng các anh Trong và Trường đi rải phân để trồng mì cách chòi Mai ở khoảng 300m. Trong lúc rải phân, Mai thấy cháu út (sinh ngày 07/5/1993) và cháu Hằng (sinh năm 1995) mót củ đậu (củ sắn) ở gần đó. Sau khi rải phân xong, Mai về chòi ở lấy xe môtô biển số 53SB - 4457 của anh Dương Bá Tuân giao cho Mai quản lý để làm phương tiện trông coi rẫy chạy lại chỗ cháu út và Hằng. Đến nơi, Mai dừng xe lại rồi rủ cháu út vào vườn mít để hỏi chuyện. Cháu út lên xe Mai và nói lại với Hằng bằng tiếng dân tộc Stiêng (sau này cháu Hằng khai là cháu út dặn trông xe đạp). Mai chở cháu út vào vườn mít của anh Tuân cách chỗ cháu út và Hằng mót củ đậu khoảng 1,5 km. Mai dừng xe dẫn cháu út vào vườn mít và đi được 80m thì cháu út không đi nữa. Mai đòi giao cấu nhưng cháu út không đồng ý và doạ sẽ về nói lại cho bố mẹ biết. Mai dùng tay phải chặt mạnh vào gáy của cháu út làm cháu út bất tỉnh rồi giao cấu với cháu út. Giao cấu xong Mai cởi quần cháu út, lật úp người cháu út, ngồi lên lưng cháu  út cầm ống quần luồn qua cổ cháu út, cột hai ống quần với nhau (thắt hai nút). Sau đó Mai cầm chỗ quần thắt ở cổ cháu út bằng tay trái, tay phải cầm chân cháu út bế cháu út lại gốc mít cách nơi giao cấu 3,5m rồi lấy xe về chòi.

Còn Hằng thấy cháu út lên xe của Mai thì lấy xe đạp đuổi theo nhưng không kịp nên đã về báo cho gia đình biết. Đến chiều không thấy cháu út về gia đình cháu út đi tìm không thấy và ngày 15/11/2004 ông Điểu Ky (là anh họ cháu út) có đơn gửi Công an xã An Khương trình báo có một thanh niên chở cháu út đi từ ngày 12/11/2004 đến nay chưa về. Ngày 16/11/2004 xác của cháu út được phát hiện tại vườn mít của ông Dương Bá Tuân. Đến ngày 17/11/2004 Lê Bá Mai bị Công an huyện Bình Long tạm giữ và ngày 19/11/2004 Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bình Phước khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với Lê Bá Mai.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 11/2005/HSST ngày 16/3/2005, Toà án nhân dân  tỉnh Bình Phước áp dụng điểm c, g khoản 1 Điều 93; khoản 4 Điều 112; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 50 Bộ luật hình sự xử phạt Lê Bá Mai tử hình về tội “giết người” và 18 năm tù về tội “hiếp dâm trẻ em”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội là tử hình.

Ngoài ra bản án hình sự sơ thẩm còn quyết định buộc Lê Bá Mai phải bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại và phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Ngày 30/3/2005 Lê Bá Mai kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo kêu oan và cho rằng mình không phải là thủ phạm việc làmđơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt là do cán bộ trong trại tạm giam đọc cho viết.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 1345/2005/HSPT ngày 04/8/2005,  Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với Lê Bá Mai.

Sau khi xét xử phúc thẩm theo quy định của pháp luật, Lê Bá Mai không làm đơn gửi Chủ tịch nước xin ân giảm hình phạt tử hình mà làm đơn kêu oan.

Xét thấy:

Căn cứ  vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án  nhận thấy Toà án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm kết án Lê Bá Mai về tội “giết người” và tội “hiếp dâm trẻ em” với hình phạt cao nhất là chưa có căn cứ vững chắc, còn  nhiều mâu thuẫn giữa lời khai của bị cáo với lời khai của người làm chứng về các đặc điểm của nạn nhân và đặc điểm của bị cáo chưa được điều tra làm rõ. Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra có những vi phạm pháp luật tố tụng hình sự trong việc khám nghiệm hiện trường, thu giữ các dấu vết vật chứng cũng như việc giao nhận bảo quản vất chứng… Cần phải được điều tra làm rõ, cụ thể là:

- Xét lời khai nhận tội của Lê Bá Mai: Tại cơ quan điều tra trừ bản khai đầu tiên vào ngày 16/11/2004 Lê Bá Mai không nhận tội, còn các bản khai tiếp sau đó và tại phiên toà sơ thẩm bị cáo khai nhận tội; tại phiên toà phúc thẩm bị cáo kêu oan. Căn cứ vào lời khai nhận tội của Lê Bá Mai thấy còn có nhiều mâu thuẫn với biên bản khám nghiệm tử thi, lời khai của cháu Hằng và của Điểu Ky đó là:

Về quần mặc của cháu út: Lê Bá Mai khi thì khai cháu út mặc quần lửng màu xám, khi thì khai út mặc quần lửng thun màu trắng đục. Tại biên bản khám nghiệm tử thi xác định: “xiết quanh cổ nạn nhân là chiếc  quần thun ống dài có hai túi phía trước”. Lời khai của cháu Hằng và của Điểu Ky thì đều khẳng định út mặc quần lửng màu xanh.

Về đặc điểm của người chở cháu út: Theo Lê Bá Mai khai thì sau khi rải phân xong bị cáo và anh Trong về chòi rồi bị cáo mới lấy xe đi xuống chỗ hai cháu và xe Honda không có chở vật gì. Lời khai này của Mai phù hợp với lời khai của anh Trong. Nhưng cháu Hằng tại cơ quan điều tra và tại phiên toà đều xác định người thanh niên chở cháu út  trên xe có bình xịt thuốc rầy dẹp màu xanh và một thùng nước đá màu đỏ treo ở ghi đông. Lời khai của cháu Hằng phù hợp với nội dung của đơn trình báo gửi Công an xã An Khương và lời khai ngày 16/11/2004 của Điểu Ky là vào khoảng 9h30’ (bản khai ngày 16/11/2004 khai lúc 10h) cháu Hằng về nói có một người thanh niên đi xe Honda…trên xe có một bình xịt thuốc rầy dẹp màu xanh loại 14 - 16lít và ghi đông xe có treo thùng đựng nước màu đỏ ... Lúc này Hằng đứng cách xa khoảng 100m nên không biết người đó là ai.

Ngoài ra theo lời khai của Lê Bá Mai thì trên tay cháu út cầm một củ sắn, ăn chưa tôi không nhớ. Tại biên bản khám nghiệm hiện trường thể hiện: củ đậu đã bị cắn một phần… Tại biên bản khám nghiệm tử thi xác định: “dạ dày chứa thức ăn đã tiêu hoá” chứ dạ dày không có chứa củ đậu.

Tất cả những mâu thuẫn nêu trên chưa được tiến hành đối chất và điều tra làm rõ vì nếu theo lời khai của Hằng, của Điểu Ky và các biên bản khám nghiệm hiện trường, tử thi thì người chở cháu út không phải là Mai và nạn nhân chưa có cơ sở kết luận đó là cháu út.

- Xét lời khai của cháu Hằng thấy rằng: Cháu Hằng là người duy nhất trực tiếp nhìn thấy người thanh niên chở cháu út đi, nhưng lời khai của cháu Hằng không chỉ có mâu thuẫn với lời khai của Lê Bá Mai đã nêu trên mà còn có mâu thuẫn giữa các lời khai của cháu Hằng với nhau. Tại bản khai ngày 15/11/2004 cháu Hằng khai vào khoảng 9 giờ có một thanh niên cao 1,55m, khoảng 18-20 tuổi, mặc áo màu xanh, quần màu đen, đầu đội nón lá, đi xe máy màu xanh, trên xe chở một bình xịt thuốc rầy màu xanh loại 14-16 lít và một bình đựng đá màu đỏ treo ở ghi đông xe cháu về báo cho bà bác biết út đi xe máy với người ta rồi… Lời khai này của cháu Hằng phù hợp với đơn trình báo của Điều Ky gửi UBND xã An Khương ngày 15/11/2004 lời khai ngày 16/11/2004; và phù hợp với lời khai của Điều Cẩn (là bố đẻ của út);  phù hợp với bản báo cáo số 159 ngày 16/11/2004 của Công an huyện Bình Long và thông báo xử lý tin trực ban hình sự số 1505 ngày 16/11/2004 của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Phước  vì theo 2 văn bản của cơ quan công an và các lời khai của cháu Hằng, Điểu Ky, Điểu Cẩn thì đến 15h30’ ngày 16/11/2004 vẫn chưa xác định được người thanh niên đi xe máy màu đen chở cháu út đi là ai. Nhưng tại bản khai lúc 14 giờ10 phút ngày 16/11/2004 thì Hằng lại khai người thanh niên chở cháu út đó là Mai vì Mai mặc áo xanh đậm, quần đen, đầu đội nón lá, đi xe máy gì không biết nhưng thấy màu đen, trên xe treo một bình xịt rầy dẹp màu xanh và một thùng đựng nước đá màu đỏ… thỉnh thoảng Hằng vẫn gặp và biết mặt,… Vấn đề được đặt ra là nếu cháu Hằng biết Mai và thỉnh thoảng vẫn gặp Mai thì  ngay ban đầu cháu Hằng về báo cho gia đình và khai tại cơ quan công an phải khai Mai là người đã chở cháu út đi. Nhưng ngược lại ngay từ ban đầu cháu Hằng khai người chở cháu út đi  là một người thanh niên chứ không phải là Mai. Những mâu thuẫn nêu trên chưa được làm rõ. Mặt khác,  do có việc thay đổi lời khai của cháu Hằng như nêu trên, nhưng lại không cho cháu Hằng nhận dạng có đúng người thanh niên đã chở cháu út đi là Mai hay không là vi phạm nghiêm trọng Điều 139 Bộ luật tố tụng hình sự về nhận dạng.

- Xét lời khai của Điểu Ky: Lời khai của Điểu Ky về sự việc đều nghe từ cháu Hằng kể lại, do vậy lời khai của Điểu Ky phù hợp với lời khai của cháu Hằng. Nhưng các lời khai này không chỉ mâu thuẫn với lời khai của Mai đã nêu trên mà còn mâu thuẫn với chính lời khai của Điểu Ky, cụ thể: Tại đơn trình báo ngày 15/11/2004 gửi UBND xã An Khương và bản khai lúc 13h20’ ngày 16/11/2004 Điểu Ky trình bày theo cháu Hằng kể có một thanh niên chở cháu út đi… Nhưng đến cuối của bản khai này thì Điểu Ky lại khai nghi cho Lê Bá Mai vì qua miêu tả của cháu Hằng thì Điểu Ky nghi như vậy. Lời khai này của  Điểu Ky mâu thuẫn với chính lời khai của Điểu Ky đã khai lúc 8 giờ ngày 17/11/2004 là: “ khoảng 18h30’ cùng ngày (ngày 12/11/2004) tôi và bố cháu út đến rẫy nhà ông Tuân. Khi đến chòi rẫy ông Tuân thấy có 3 người đang ăn cơm, trong 3 người này tôi không biết ai cả…”. Như vậy thì Điểu Ky khai biết Mai, lúc thì Điểu Ky khai không biết Mai, mâu thuẫn này chưa được điều tra làm rõ. Sau khi Điểu Ky khai nghi ngờ cho Mai cũng không cho Điểu Ky nhận dạng Mai là vi phạm nghiêm trọng Điều 139 Bộ luật tố tụng hình sự . Mặt khác, những lời khai đầu tiên của cháu Hằng và Điểu Ky đều không khai nhận người thanh niên đã chở cháu út đi là Mai, nhưng đến cuối bản khai hồi 13h20’ ngày 16/11/2004 Điểu Ky khai nghi ngờ người thanh niên chở út đi đó là Mai và tiếp đó đến bản khai lúc 14h10’ ngày 16/11/2004 cháu Hằng cũng thay đổi khai là người thanh niên đó là Mai. Nhưng vì sao cả Điểu Ky và cháu Hằng lại có sự thay đổi  này chưa được điều tra làm rõ.

 Ngoài ra lời khai của các anh Nguyễn Văn Trong và Đỗ Thanh Trường là những người cùng làm, cùng ăn ở với Mai mâu thuẫn với lời khai nhận tội của Mai nhưng không được tiến hành đối chất làm rõ. Đặc biệt là các lời khai của anh Trong là người cùng đi rải phân, cùng về với Mai có những mâu thuẫn với nhau cũng chưa được điều tra làm rõ.

Cháu út là người dân tộc Stiêng, cũng chưa làm rõ cháu có biết tiếng Việt hay không? vì nếu cháu út biết được tiếng Việt thì mới hiểu được các câu nói bằng tiếng Việt của Mai. Vấn đề này cũng chưa được điều tra làm rõ.

- Về thu thập đồ vật, dấu vết khi khám nghiệm hiện trường: Theo biên bản khám nghiệm hiện trường còn một số đồ vật: “cọng tóc mảnh dính trên nền đất; một bật lửa ga màu đỏ; một chiếc dép da màu đen bên trái (dép nam) và các vết hằn của lốp xe, vết giày dép” không được thu giữ các đồ vật và xem xét dấu vết này để xác định chúng có quan hệ với vụ án này  như thế nào là vi phạm nghiêm trọng Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Về  việc bảo quản vật chứng: Theo biên bản khám nghiệm hiện trường đã thu: “một đôi dép Lào và chiếc quần quấn trên cổ nạn nhân”. Theo biên bản khám nghiệm tử thi thì chiếc quần xiết quanh cổ nạn nhân là chiếc quần thun ống dài có 2 túi phía trước. Nhưng tại lệnh nhập kho vật chứng số 1637 ngày 19/11/2004 của Công an Bình Phước lại ghi: “ một đôi dép nhựa màu xanh và một cái quần lửng màu trắng đục đã cũ”. Tại phiếu nhập khi vật chứng số 1637 ngày 19/11/2004 lại ghi” “một đôi dép nhựa màu trắng”. Như vậy khi nhập kho vật chứng không phải quần và dép đã được thu tại hiện trường là vi phạm nghiêm trọng Điều 75 Bộ luật tố tụng hình sự về bảo quản vật chứng.

- Về xác định nạn nhân: Theo biên bản khám nghiệm tử thi thì mặt nạn nhân bị phân huỷ biến dạng; thể tạng nhỏ; xiết quanh cổ nạn nhân là chiếc quần thun ống dài có 2 túi phía trước. Ngược lại về thể trạng của cháu út theo lời khai của Điểu Cẩn (bố nạn nhân) thì cháu út là người khoẻ mạnh, mập mạp hơn những cháu cùng tuổi. Còn về quần mặc theo cháu Hằng và Điểu Ky khai thì cháu út mặc quần lửng màu xanh là theo Lê Bá Mai khai khai thì cháu út mặc quần lững màu xám khi thì lại khai út mặc quần thu màu trắng đục. Trong khi đó hồ sơ vụ án lại không có một tài liệu nào thể hiện đã cho gia đình nạn nhân nhận dạng và gia đình nạn nhân đã căn cứ vào các dấu vết đặc điểm gì để xác định nạn nhân là cháu út. Bởi vậy chưa có cơ sở vững chắc để kết luận nạn nhân là cháu út được.

- Về thu giữ đồ vật, tài sản: Theo biên bản tạm giữ đồ vật, tài sản do Công an huyện Bình Long lập lúc 9h30’ ngày 18/11/2004 có nội dung: “tại chòi rẫy của ông Dương Bá Tuân, anh Nguyễn Văn Trọng là người cùng ở chòi rẫy với Lê Bá Mai nộp áo quần, nón lá, khăn của Lê Bá Mai”…  việc thu giữ này được tiến hành trước khi khởi tố vụ án hình sự và không có lệnh của người có thẩm quyền. Mặt khác trong biên bản  chỉ ghi anh Trọng nộp áo quần, nón lá, khăn của Mai chứ không ghi nộp thùng đựng đá màu đỏ. Nhưng tại hàng chữ cuối cùng ghi những đồ vật thu giữ có dòng: “01 thùng đựng đá màu đỏ”  nhìn mắt thường thấy hàng chữ này có nét chữ khác với nét chữ của những hàng chữ khác trong biên bản. Vấn đề này ngày 19/5/2006, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã trực tiếp gặp và lấy lời khai của anh Nguyễn Văn Trọng và anh Trọng khẳng định chỉ giao nộp cho Công an quần, áo, nón của Mai không giao nộp bình đựng đá màu đỏ cho Cơ quan công an vấn đề này cũng cần phải được điều tra làm rõ.

Ngoài ra, theo lời khai của anh Trong thì ngày 12/11/2006 không chỉ có Mai, Trong và Trường mà còn có khoảng 30 người được anh Hừng thuê trồng mì nhưng không được điều tra xác minh làm rõ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Lê Bá Mai và gia đình có đơn khiếu nại về việc Mai bị ép cung và bị vi phạm quyền kháng cáo nhưng chưa được xem xét giải quyêt, vì vậy cũng phải được tiến hành làm rõ để trả lời cho người khiếu nại.

Vì các lẽ trên,

Quyết định

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 1345/2005/HSPT ngày 04/8/2005 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh. Đề nghị Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm huỷ bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và bản án hình sự sơ thẩm số 11/2005/HSST ngày 16/3/2005 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước để điều tra lại theo thủ tục chung.

___________________________

-  Lý do kháng nghị huỷ bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm là:

+ Bị xử phạt hình phạt tử hình, nhưng chứng cứ để kết tội bị cáo có rất nhiều mâu thuẫn nhưng chưa được điều tra xác minh làm rõ đặc biệt là nhiều mâu thuẫn giữa lời khai của bị cáo với lời khai của người làm chứng về các đặc điểm của nạn nhân và đặc điểm của thủ phạm gây án chưa được làm rõ.

+ Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong việc chứng minh tội phạm, trong việc khám nghiệm hiện trường, thu giữ dấu vết, vật chứng cũng như giao nhận, bảo quản vật chứng.

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

 Tại quyết định giám đốc thẩm số 02/2007/HS-GĐT ngày 5-2-2007 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã quyết định: “Huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 1345/2005/HSPT ngày 4-8-2005 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và bản án hình sự sơ thẩm số 11/2005/HSST ngày 16-3-2005 của Toà án nhân dân  tỉnh Bình Phước về vụ án Lê Bá Mai phạm tội “hiếp dâm trẻ em” và “giết người” để điều tra lại theo quy định của pháp luật”.

 

25-Kháng nghị giám đốc thẩm số 27/QĐ-VKSTC-V3 ngày 21-09-2009 đối với vụ án Nguyễn Đình Thiên Quan phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 17/2009/HSPT ngày 3/12/2009 của toà án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt Nhuyễn Đình Thiên Quan sinh năm 1985; trú quán: ấp Long Thành, thị trấn Tân Châu, huyện Tân Châu, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hoá: 12/12; chưa có tiền án, tiền sự, đang được tại ngoại; 1 năm 3 tháng tù về tội "cố ý gây thương tích", qua nghiên cứu các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án.

XÉT THẤY

Vào khoảng 18 giờ ngày 24/5/2008, Nguyễn Đình Thiên Quan điều khiển xe mô hiệu INNOVA BKS- 52 Z-9810 đến thị trấn Tân Châu thì xảy ra va chạm với xe môtô NOUVO BKS: 67 L2-4526 của ông Trần Hiếu Trân chạy cùng chiều (ông Trân cho rằng Quan lái xe ô tô lấn đường xe mô tô của ông). ông Trân lái xe chạy vượt lên hướng bên phải, dùng tay trái đập vào kính chiếu hậu của xe Quan, Quan dừng xe lại và chặn đầu xe ông Trân, hai bên cự nhau. Trong lúc cãi lộn, Quan dùng tay, chân đấm đá làm ông Trân bị thương, ông Trân được dưa vào bệnh viện điều trị.

Theo biên bản giám định pháp y số 264/BBPY ngày 8/8/2008 của tổ chức giám định pháp y tâm thần tỉnh An Giang kết luận: Tỷ lệ thương tích đối với ông Trần Hiếu Trân là 15%.

Bản án hình sự sơ thẩm số 53 ngày 11/12/2008  của Toà án huyện Tân Châu áp dụng khoản 1 Điều 104, điểm h, p, s khoản 1, 2 Điều 60 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Thiên Quan 1 năm 3 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Bản án hình sự phúc thẩm số 17/2009/HSPT ngày 3/2/2009 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang áp dụng khoản 1 Điều 104, điểm p, h khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS xử phạt Nguyễn Đình Thiên Quan 1 năm 3 tháng tù về tội "cố ý gây thương tích".

Sau khi nghiên cứu hồ số vụ án nhận thấy: xuất phát từ việc Nguyễn Đình Thiên Quan và ông Trần Hiếu Trân cùng tham gia giao thông (đi cùng chiều) trên tuyến đường thuộc thị trấn Tân Châu, huyện Tân Châu, tỉnh An Giang; ông Trân cho rằng Quan lái xe mô lấn đường xe mô tô của ông, nên ông Trần Hiếu Trân cho xe chạy vượt leo bên phải xe của Nguyễn Đình Thiên Quan và dùng tay đập vào kính chiếu hậu gập ra phía sau lái xe, Quan cho dừng xe, xuống xe và hai bên xảy ra xô sát, Quan dùng tay, chân đấm đá ông Trần Hiếu Trân.

Hành vi của Nguyễn Đình Thiên Quan bị Toà án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 104 BLHS xử phạt 1 năm 3 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo về tội "cố ý gây thương tích" là có căn cứ, đúng với các quy định tại Điều 60 BLHS và điểm 6 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02 tháng 10 năm 2007 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự.

Toà án cấp phúc thẩm sửa án Sơ thẩm, áp dụng khoản 1 điều 104; điểm p, h khoản 1 và khoản 2 Điều 46 BLHS xử phạt Nguyễn Đình Thiên Quan 1 năm 3 tháng tù mà không áp dụng điểm s Điều 46 đối với Nguyễn Đình Thiên Quan và Điều 60 BLHS, trong khi đó bị cáo đủ điều kiện để được hưởng án treo theo khoản 1 , khoản 2 Điều 60 BLHS và điểm 6 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02 tháng 10  năm 2007 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự.

Trong suốt quá trình giát quyết vụ án Nguyễn Đình Thiên Quan thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải, sau khi ông Trân vào viện, bị cáo cùng gia đình đến thăm hỏi và đề nghị được bồi thường nhưng ông Trần Hiếu Trân từ chối trong khi đó, bản thân người bị hại cũng có một phần lỗi như đã dùng tay đập kính chiếu hậu xe ôtô của của bị cáo bẻ ra phía sau phía bên phải, sau đó cầm mũ bảo hiểm đập vào đầu xe gây cho Nguyên Đình Thiên Quan bức xúc dẫn đến gây thương tích cho ông Trần Hiếu Trân. Trong thực tế thì sự va chạm giữa hai xe chưa xẩy ra, đây chỉ là lỗi về làn đường khi các xe tham gia giao thông. Hậu quả xe ô tô của Quan bị hư hỏng, sứa chữa mất 2.400.000 đồng do hành vi của người bị hại gây nên (BL70,71,80).

Về nhân thân: Nguyễn Đình Thiên Quan đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự được chính quyền địa phương xác nhận sau khi xuất ngũ về chấp hành tốt chủ trương chính sách pháp luật của Nhà nước; bản thân đã đạt được những thành tích xuất sắc trong lao động.

Từ những căn cứ nêu trên Viện kiểm sát nhân dân tối cao xét thấy cần phải kháng nghị đối với bản án hình sự phúc thẩm nêu trên để áp dụng Điều 60 BLHS và Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao cho Nguyễn Đình Thiên Quan.

QUYẾT ĐỊNH

Kháng nghị giám đốc thẩm bản án hình sự phúc thẩm số 17/2009/HSPT ngày 03/2/2009 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang. Đề nghị Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xứ giám đốc thẩm huỷ bản án phúc thẩm nêu trên để xét xứ phúc thẩm lại cho bị cáo Nguyễn Đình Thiên Quan được hưởng án treo. Trong khi chờ xét xử, căn cứ theo Điều 276 Bộ luật tố tụng hình sự tạm đình chỉ thi hành án hình sự phúc thẩm số 17/2009/HSPT ngày 03/2/2009 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang đối với Nguyễn Đình Thiên Quan./

 

___________________________

-Lý do kháng nghị hủy bản án hình sự phúc thẩm:

+ Đây là một vụ án xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống, bị cáo phạm tội ít nghiêm trong và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, cần điều tra xác định lại các vấn đề để có cơ sở đúng đắn khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội.

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

Tại Quyết  định giám đốc thẩm số 24/2010/HS-GĐT ngày 27-05-2010 Hội đồng giám đốc thẩm Tòa án nhân nhân tối cao quyết định: Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 17/2009/HSPT ngày 03-02-2009 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang và bản án hình sự sơ thẩm số 153/2008/HSST ngày 11-12-2008 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu để điều tra lại. Chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao để giải quyết theo thủ tục chung.

 

26- Kháng nghị giám đốc thẩm số 20/QĐ-VKSTC-V3 ngày 30-07-2009 đối với vụ án Nguyễn Thiên Phong phạm tội “Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”.

- Xét bản án hình sự phúc thẩm số 1432/2008/HSPT ngày 17/12/2008 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Nguyễn Thiên Phong sinh năm 1974; đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 8, ấp Thanh Bình 2, xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Ria- Vũng Tàu về tội "cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh" theo Điều 105 Bộ luật hình sự.

NHẬN THẤY

Theo nội dung bản án sơ thẩm và phúc thẩm: Nguyễn Thiên Phong và Phạm Văn Hội có mâu thuẫn với nhau, lý do Hội nghi ngờ vợ mình là chị Đào Thị Hồng có quan hệ bất chính với Phong.

Khoảng 7 giờ ngày 22/5/2007, Phong chở vợ và con đến chợ Bình Châu, Xuyên Mộc để mua sữa cho con. Phong ngồi trên xe máy cách quầy bán đồ sắt gia dùng của bà Trần Thị Hiền khoảng 1m để chờ vợ vào mua sữa. Khi nhìn thấy Phong, Hội liền đến gốc cây cau trước Ban quản lý chợ nhặt một cổ chai thuỷ tinh dài khoảng 5- 6 cm đã bị đập vỡ hình răng cưa. Hội đến chỗ Phong ngồi, một tay chụp cổ áo Phong từ phía sau, tay kia đâm Phong một nhát vào má trái. Cùng lúc em trai Hội là Phạm Văn Mão chạy đến cầm ghế nhựa đánh Phong. Phong và Hội giằng co nhau làm áo Phong bị tuột ra. Phong lùi lại phía quầy hàng của bà Hiền chụp một con dao mũi nhọn dài 20 cm (cán gỗ 09cm, lưỡi 11 cm) đâm một nhát vào hạ sườn trái của hội rồi Phong bỏ chạy, còn Hội được đưa đi cấp cứu.

Tại bản giám định pháp y số 301/TgT ngày 13/8/2007 của Phòng giám định pháp y Bệnh viện Bà Rịa thì thương tích của Phạm Văn Hội: vết thương hạ sườn trái thấu bụng gây thủng ruột non 02 lỗ, thủng đại tràng ngang 01 lỗ, đã phẫu thuật khâu lỗ thủng ruột non, làm hậu môn nhân tạo đại tràng ngang. Tình trạng tạm ổn định. Tỷ lệ thương tích là 59 % tạm thời.

Tại bản giám định pháp y số 302/TgT ngày 13/8/2007  của Phòng giám định pháp y Bệnh viện Bà Rịa thì thương tích của Nguyễn Thiên Phong: vết thương phần mềm ở má trái và ngón 4 bàn tay phải lành tết. Tỷ lệ thương tích là 02 % vĩnh viễn.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 146/2008/HSST ngày 19/8/2008, Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu áp dụng khoản 1 Điều l05; điểm h, p khoản 1 , khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Thiên Phong 18 tháng tù về tội "cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh". áp dụng điểm a khoản 1 Điều l04; điểm h, p khoản 1 , khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt Phạm Văn Hội 15 tháng tù về tội "cố ý gây thương tích".

Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 609 Bộ luật dân sự: Buộc Nguyễn Thiên Phong phải bồi thường cho Phạm Văn Hội số tiền 33.979.181 đồng. Phạm Văn Hội được lấy 3.000.000 đồng do Nguyễn Thiên Phong nộp tại Thi hành án tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu theo biên lai thu tiền số 200 ngày 24/4/2008.

Ngày 01/9/2008 Phạm Văn Hội làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo và yêu cầu tăng hình phạt, xem xét lại trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Phong.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 1432/2008/HSPT ngày 17/12/2008, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh áp dụng khoản 1 Điều 105; điểm b, p Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Thiên Phong 24 tháng tù về tội "cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh".

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều l04; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, 60 Bộ luật hình sự, xử phạt Phạm Văn Hội 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội "cố ý gây thương tích".

Về trách nhiệm dân sự: Buộc Nguyễn Thiên Phong phải bồi thường cho Phạm Văn Hội tổng cộng 60 triệu đồng, được trừ số tiền đã bồi thường 3.000.000 đồng, bị cáo còn phải bồi thường 57 triệu đồng.

XÉT THẤY

Toà án cấp phúc thẩm kết án Nguyễn Thiên Phong về tội "cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh" theo Điều 105 Bộ luật hình sự là đúng. Tuy nhiên, Toà án cấp phúc thẩm quyết định tăng hình phạt từ 18 tháng lên 24 tháng tù và tăng bồi thường từ trên 40 triệu đồng lên 60 triệu đồng đối với Nguyễn Thiên Phong là không có căn cứ và vi phạm nghiêm trọng pháp luật tố tụng hình sự, bởi lẽ:

 - Về việc tăng hình phạt đối với Nguyễn thiên Phong: Toà án cấp phúc thẩm nhận định lý do để tăng hình phạt từ 18 tháng tù lên 24 tháng tù là do "bị cáo Phong có lỗi quan hệ tình dục với vợ bị cáo Hội và khi gây án đã đâm bị cáo Hội nhiều nhát (2 nhát) vào bụng là thể hiện sự quyết tâm phạm tội đến cùng"; nhận thấy: theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện Phong có quan hệ bất chính với vợ Hội (chị Đào Thị Hồng) hay không thì Hội không bắt được quả tang mà mới chỉ có lời khai nhận của chị Hồng, còn Phong thì không thừa nhận có quan hệ với chị Hồng. Cơ quan điều tra không có kết luận về vấn đề này. Còn về thương tích của Phạm văn Hội: theo lời khai của Phạm Văn Hội và giấy chứng nhận thương tích của Bệnh viện Bà Rịa thì Phong chỉ đâm Hội một nhát vào bụng chứ không đâm hai nhát như nhận định của Toà phúc thẩm. Vì vậy, lý do Toà phúc thẩm tăng hình phạt đối với Nguyễn Thiên Phong là không có căn cứ.

- Về trách nhiệm dân sự: Phạm Văn Hội kháng cáo với nội dung đề nghị xét xử phúc thẩm tăng bồi thường vật chất và tinh thần theo quy định của pháp luật. Khi xét xử Toà án cấp phúc thẩm không xem xét kháng cáo này nên không có nhận định và đưa ra cặn cứ chấp nhận hay không chấp nhận kháng cáo của Phạm Văn Hội về tăng bồi thường, nhưng lại quyết định: buộc Phong phải bồi thường cho Hội 60 triệu đồng là không có căn cứ và vi phạm nghiêm trọng Điều 241 và Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 1432/2008/HSPT ngày 17/12/2008 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh. Đề nghị Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm huỷ phần quyết định về trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự đối với Nguyễn Thiên Phong của bản án hình sự phúc thẩm nêu trên để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật./.

        ________________________________

- Lý do kháng nghị để hủy bán án hình sự phúc thẩm:

Về hình phạt: Tòa án cấp phúc thẩm tăng hình phạt đối với Nguyễn Thiên Phong là thiếu căn cứ và không đúng với thực tế khách quan của vụ án.

+ Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Tòa án cấp phúc thẩm quyết định tăng mức bồi thường đối với Nguyễn Thiên Phong từ 40.673.181đồng lên 60.000.000đồng nhưng lại không nhận định tăng khoản nào hoặc bồi thường thêm khoản nào là trái với quy định tại khoản 1 Điều 248 BLTTHS. Mặt khác, Tòa án cấp phúc thẩm không khấu trừ khoản tiền 3.699.000đồng mà Tòa án cấp sơ thẩm buộc Phạm Văn Hội phải bồi thường cho Nguyễn Thiên Phong là không đúng quy định của pháp luật về đối trừ quyền và nghĩa vụ.

+ Về tội danh: Đối với Phạm Văn Hội phạm tội có hai tình tiết quy định tại các điểm a,I khoản 1 Điều 104 BLHS, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xử phạt Hội 15 tháng tù về tội “ cố ý gây thương tích” là nhẹ. Tòa án cấp phúc thẩm lại cho bị cáo hưởng án treo là đánh giá không đúng tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra. Trong vụ án này, Phạm Văn Mão có cầm ghế nhựa cùng tham gia đánh Nguyễn Thiên Phong, nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng không xem xét trách nhiệm của Mão là thiếu xót.

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

+ Tại Quyết định giám đốc thẩm số 02/2010/HS-GĐT ngày 01-03-2010 Hội đồng giám đốc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định: Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 1432/2008/HSPT ngày 17-12-2008 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh về các quyết định đối với Nguyễn Thiên Phong. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh để xét xử phúc thẩm lại theo quy định của pháp luật

 

27-Kháng nghị giám đốc thẩm số 01/QĐ-VKSTC-V3 ngày 08-01-2010 đối với vụ án Trần Phượng Linh phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 190312009/HSPT ngày 22/9/2009 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt Trần Phượng Linh (Trần Phương Linh) sinh năm 1984; giới tính nữ; quốc tịch Việt Nam; dân tộc Kinh; thường trú 5614 khu phố 4, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh, về tội "cố ý gây thương tích"; bị cáo tại ngoại.

XÉT THẤY

Theo nội dung bản án thì hành vi phạm tội của Trần Phượng Linh như sau: Khoảng 22h ngày 04/11/2008 , Trần Phượng Linh rủ anh Hà Vị Hồng và chị Nguyễn Thị Thu Diễm đến quán Toàn Trí (khu phố 2, phường Tân Phú, quận 7) ăn uống. Khi Diễm đi vệ sinh thì Linh và Hồng cãi nhau do Hồng nghi ngờ mối quan hệ giới tính giữa Linh và chị Diễm. Linh cầm chai bia đập vào đầu anh Hồng rồi tiếp tục cầm chai bia đã bị vỡ đâm vào cổ trái của anh Hồng gây thương tích.

Tại bản giám định pháp y số 090/TGT.09 ngày 21/01/2009 của Trung tâm pháp y - Sở y tế thành phố Hồ Chí Minh xác định thương tích của anh Hà Vị Hồng như sau: Vết thương vùng cổ gây rách da, đứt cơ ức đòn chũm, đứt một phần tuyến giáp trái, đứt tĩnh mạch cổ nông, đứt các nhánh của động mạch cảnh ngoài, đã được điều trị khâu cột tĩnh mạch, động mạch bị đứt, khâu cơ, khâu vết thương, hiện còn sẹo rõ vùng cổ trái 12 x (0,2 - 0,8) cm, không ảnh hưởng hoạt động cổ, ổn định. Tỷ lệ thương tật 15% vĩnh viễn.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 94/2009/HSST ngày 26/5/2009 của Toà án nhân dân quận 7 thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên bố bị cáo Trần Phượng Linh (Trần Phương Linh) phạm tội "cố ý gây thương tích"; áp dụng điểm i khoản 1 , khoản 2 Điều l04; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự xử phạt Trần Phượng Linh 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 02/6/2009 anh Hà Vị Hồng là người bị hại kháng cáo về phần hình phạt đối với bị cáo Trán Phượng Linh.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 1903/2009/HSPT ngày 22/9/2009, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận một phần kháng cáo của người bị hại - anh Hà Vị Hồng. Tuyên bố bị cáo Trần Phượng Linh (Trần Phương Linh) phạm tội "cố ý gây thương tích"; áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Phượng Linh 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Sau phiên toà phúc thẩm, ngày 16/10/2009 Trần Phượng Linh có đơn xin giám đốc thẩm, xin được hưởng án treo.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhận thấy: Toà án các cấp kết án Trần Phượng Linh về tội "cố ý gây thương tích" là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân bị cáo nên đã phạt bị cáo Trần Phượng Linh 2 năm tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách 4 năm là có căn cứ, đúng pháp luật. Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thấy rằng người bị hại cũng có một phần lỗi vì nghi ngờ bị cáo là "dân u môi" làm cho bị cáo Trần Phượng Linh bức xúc và phạm tội.

Bị cáo Linh có nhiều tình tiết giảm nhẹ như bản án sơ thẩm đã tuyên, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại với số tiền lớn hơn số tiền người bị hại yêu cầu (bồi thường 70 tnệu/38 triệu đồng), được người bị hại có đơn xin bãi nại và đề nghị Toà án cấp sơ thẩm xử cho bị cáo hưởng án treo. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cha mẹ ly hôn, phải sống với chị từ nhỏ, hiện đang chăm sóc bà nội là Đảng viên 60 năm tuổi Đảng. Nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có công ăn việc làm và chỗ ở ổn định.

Toà án cấp phúc thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, p khoản 1 , khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự nhưng không áp dụng Điều 60 Bộ luật hình sự, và không áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, không cho bị cáo Trần Phượng Linh được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách là sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật hình sự. Và cũng trái với quy định về Điều 60 trong Nghị quyết 01/2007/NQ - HĐTP ngày 02/10/2007 "hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt" của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

QUYẾT ĐỊNH

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 1903/2009/HSPT ngày 22/9/2009 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Đề nghị Toà Hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm để huỷ bản án phúc thẩm nêu trên đối với Trần Phượng Linh về phần hình phạt. Giao hồ sơ cho cấp phúc thẩm xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật./

        _________________________________

- Lý do kháng nghị để hủy bản án hình sự phúc thẩm:

+ Khi xét xử sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sư quy định tại các điểm b,p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS để xử phạt bị cáo 2 năm tù về tộ “cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo là phù hợp với quy định của pháp luật.

+ Khi xét xử phúc thẩm do có kháng cáo của người bị hại, Tòa án cấp phúc thẩm không áp dụng thêm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và vẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng không cho bị cáo được hưởng án treo là chưa thỏa đáng.

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

+  Tại quyết định giám đốc thẩm số 17/2010/HS-GĐT ngày 06-05-2010 Hội đồng giám đốc thẩm  Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định: Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 1903/2009/HSPT ngày 22-09-2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đối với Trần Phượng Linh. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm lại theo quy định của pháp luật.

 

28-Kháng nghị giám đốc thẩm số 34/QĐ-VKSTC-V3 ngày 27-12-2010 đối với vụ án Lê Chính Trình phạm tội  “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng”.

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 58/2010/HSPT ngày 28/7/2010 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi kết án Lê Chính Trình sinh ngày 20/3/1991; trú tại thôn An Thường, xã Phổ Hoà, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Nghãi về tội "cố ý gây thương tích và tội "gây rối trật tự công cộng".

(Trong vụ án này còn có các bị cáo Lê Hải Nam, Nguyễn Hân, Nguyễn Tấn Phát và Nguyễn Quốc Công đều bị kết án về tội "gây rối trật tự công cộng")

NHẬN THẤY

Theo bản án phúc thẩm: Do mâu thuẫn với nhau từ trước giữa hai nhóm học sinh thị trấn Đức Phổ với nhóm học sinh Phổ Văn, nên vào khoảng 11 giờ 20 phút ngày 8/4/2008 khi tan học về tại khu vực hiệu Phôtocopy trước cửa trường Phổ thông trung học Đức Phổ 1, phía đường quốc lộ la nhóm thị trấn Đức Phổ gồm: Lê Chính Trình,Võ Đình Huy, Huỳnh Quang Quý, Nguyễn Hân, Nguyễn Lê Minh Pháp và Lê Hải Nam phát hiện nhóm Phổ Văn gồm: Nguyễn Đức Huy, Nguyễn Tấn Pháp, Nguyễn Quốc Công đang. đứng ở quán cháo nhà anh Thanh đối diện với hiệu Phôtôcopy nên nhóm của Trình đứng lại và đi sang nơi nhóm của Nguyễn Đức Huy đứng. Tại đây, Võ Đình Huy hỏi Nguyễn Đức Huy "tải sao hôm qua mày đánh tao và Tin thì Nguyễn Đức Huy nói: "tao không đánh mày mà bạn tao đánh. Nguyễn Đức Huy với Võ Đình Huy cãi nhau và Nguyễn Đức Huy nói "có gì tao xin lỗi, hôm nay có mẹ tao, hôm khác hãy giải quyết". Võ Đình Huy nói "không có bữa nào hết có gì giải quyết luôn bữa nay". Khi Võ Đình Huy vừa nói xong thì Hân cầm dây nịt đánh nhóm của Nguyễn Đức Huy nhưng không trúng; Trình cầm dao (loại dao gọt bút chì dài khoảng 15 cm có mũi nhọn hình mũi mác) đánh Nguyễn Tấn Pháp, Pháp né được nên không trúng. Lúc này anh Thanh chủ quán nói: "có đánh nhau thì ra ngoài đánh chứ không được đánh trong quán" nên cả hai nhóm giãn ra ngoài. Lúc này có người nói "Phổ Văn đông hơn sợ gì bay" thì nhóm của Nguyễn Đức Huy đuổi đánh nhóm của Trình theo hai hướng. Hướng thứ nhất: Nguyễn Tấn Pháp cầm sợi dây xích dài 0,7 m cùng Nguyễn Quốc Công đánh nhau với Quý và Nam, Pháp dùng xích sắt đánh trúng Nam 2-3 cái vào mặt, vào vai của Nam, Công dùng thắt lưng đánh Nam và Nam dùng dao chém Công thương tích hai bên cổ, cẳng tay phải. Khi chém lưỡi dao rơi xuống đất và Nam bỏ luôn cán dao tại đây.

Hướng thứ hai: Nguyễn Đức Huy cùng một số thanh niên đuổi đánh Trình và Nguyễn Lê Minh Pháp. Khi nhóm của Nguyễn Đức Huy đuổi đến trước tiệm sửa xe của gia đình ông Nhàn thì gặp Hân, Hân dùng dây nịt đánh nhau với hai thanh niên chạy phía sau trong nhóm của Nguyễn Đức Huy, hai thanh niên này đánh Hân ngã rồi bỏ đi còn Nguyễn Đức Huy đuổi theo Trình. Khi đuổi Trình đến khu vực ngõ chính nhà ông Hoài thì Nguyễn Đức Huy dùng bút nịt đánh vào sau lưng Trình một cái. Bị Huy đánh trúng, Trình quay lại đánh trả, hai bên đánh lộn nhau, Nguyễn Đức Huy dùng bút nịt đánh Trình, Trình dùng tay trái đỡ gạt bút nịt, tay phải cầm con dao gọt bút chì trong nắm tay, đấm thẳng vào mặt trúng mắt trái của Huy gây thương tích, Nguyễn Đức Huy được đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện từ ngày 8/4/2008 đến ngày 18/4/2008.

Theo bản kết luận giám định số 183/GĐPY ngày 23/7/2008 của Phòng giám định pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ngài tổn thương của Nguyễn Đức Huy: có 03 vết sẹo phần mềm vùng mặt có thể do vật sắc nhọn tác động tỷ lệ thương tích là 4%, thị lực mắt trái sáng tối (+) tỷ lệ thương tích là 37%.Tổng cộng tỷ lệ thương tật của Nguyễn Đức Huy là 41%.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 02/2009/HSST ngày 25/11/2009 , Toà án nhân dân huyện Đức Phổ áp dụng khoản 3 Điều l04; khoản 1 Điều 245 điểm đ khoản 1 Điều 46 ; Điều 74; Điều 50 Bộ luật hình sự xử phạt Lê Chính Trình 3 năm 9 tháng tù về tội "cố ý gây thương tích", 06 tháng tù về tội "gây rối trật tự công cộng"; tổng hợp hình phạt, buộc Lê Chính Trình phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 4 năm 3 tháng tù; áp dụng Điều 604, 605, 606, 609 Bộ luật dân sự buộc Lê Chính Trình phải bồi thường cho Nguyễn Đức Huy các khoản thiệt hại gồm: chi phí thuốc, cấp cứu, đi lại điều trị khám và tiền công chăm sóc lúc nằm viện, tổn thất tinh thần tổng cộng là 32.309.227 đồng.

(Ngoài ra bản án sơ thẩm còn xử phạt các bị cáo Lê Hải Nam, Nguyễn Tấn Pháp mỗi bị cáo bị xử 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và các bị cáo Nguyễn Quốc Công, Nguyễn Hân mỗi bị cáo 12 tháng cải tạo không giam giữ đều về tội " gây rối trật tự công cộng").

Ngày 18/11/2009 Lê Chính Trình kháng cáo xin xem xét lại tội "gây rối trật tự công cộng" và thương tích ở mắt của Nguyễn Đức Huy không do Trình gây ra.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 58/2010/HSPT ngày 28/7/2010,Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ngài áp dụng khoản 3 Điều l04; khoản 1 Điều 245; điểm đ khoản 1 Điều 46; Điều 69; Điều 74; Điều 50 Bộ luật hình sự xử phạt Lê Chính Trình 3 năm tù về tội "cố ý gây thương tích", 06 tháng tù về tội "gây rối trật tự công cộng".Tổng hợp hình phạt, buộc Lê Chính Trình phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 3 năm 6 tháng tù.

Về dân sự: áp dụng Điều 609 Bộ luật dân sự buộc Lê Chính Trình phải bồi thường cho Nguyễn Đức Huy các khoản chi phí hợp lý để điều trị vết thương, tổng số tiền là 32.309.227 đồng.

XÉT THẤY:

1/ Đối với tội "gây rối trật tự công cộng":

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ kết luận vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 8/4/2008 Nguyễn Đức Huy và Lê Chính Trình đánh nhau. Hậu quả Nguyễn Đức Huy bị Lê Chính Trình đánh gây ra 03 vết thương ở vùng mặt, 01 vết thương ở mắt trái. Hành vi đánh lộn nhau của Lê Chính Trình gây thương tích cho Nguyễn Đức Huy chỉ cấu thành tội "cố ý gây thương tích" theo quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự. Toà án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm đều kết án Lê Chính Trình về tội "cố ý gây thương tích và tội "gây rối trật tự công cộng" là không đúng, trong vụ án này chỉ kết án Lê Chính Trình về tội "cố ý gây thương tích" mới đúng.

2/ Đối với tội "cố ý gây thương tích":

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Toà án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm đều xác định: vết thương ở vùng mắt trái của Nguyễn Đức Huy là do Lê Chính Trình dùng hung khí nguy hiểm (dao gọt bút chì) đấm vào mắt trái gây ra nên kết án bị cáo theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự là chưa có căn cứ vững chắc, cần phải điều tra lại để làm rõ, bởi lẽ:

Theo bản tóm tắt bệnh án số 466 ngày 21/5/2008 của Bệnh viện Đà Năng chuẩn đoán mắt (T) đau nhức, giảm thị lực, mi mắt sưng nề, kết mạc cương tụ, giác mạc hơi mờ; Thị lực mắt (T) bóng bàn tay. Siêu âm B kết quả: "thuỷ tinh thể rơi vào buồng dịch kính" (BL144). Theo giấy ra viện do khoa mắt Bệnh viện Đà Năng cấp cho Nguyễn Đức Huy ngày 15/4/2008 chẩn đoán mắt trái chấn thương đụng dập nhãn cầu (BL143). Theo bệnh án của Viện mắt thành phố Hồ Chí Minh, thì Huy vào viện ngày 12/4/2008, chẩn đoán mắt trái chấn thương đụng dập, theo dõi vỡ nhãn cầu (BL146).Theo bản kết luận giám định số 183/08/GĐPY ngày 23/7/2008 của Phòng giám định pháp y Bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi chẩn đoán giám định: 03 sẹo phần mềm vùng mặt có thể do vật sắc tác động: 04%; thị lực mắt (T): Sáng tối (+): 37%( BL131). Như vậy, các bệnh án và kết luận giám định đều không xác định thương tích ở mắt của Nguyễn Đức Huy do vật sắc nhọn tác động. Mặt khác, theo khoản 2 Điều 35 Pháp lệnh về giám định tư pháp quy định : "bản kết luận giám định phải có chữ ký của người giám định tư pháp, trong trường hợp tổ chức được trưng cầu giám định thì bản kết luận còn được người đứng đầu tổ chức đó ký tên đóng dấu. Đối chiếu với quy định trên, bản kết luận giám định 183/GĐPY ngày 23/7/2008 của Phòng giám định pháp y thành phần gồm có bác sỹ Phạm Ngọc Phượng trưởng phòng, Bác sỹ Nguyễn Thanh Quang Vũ giám định viên pháp y tâm thần, bác sỹ Lý Trường Tuấn giám định viên pháp y, nhưng chỉ có chữ ký của Trưởng phòng bác sỹ Phạm Ngọc Phượng và đóng dấu Phòng giám định pháp y, không có chữ ký của các giám định viên Nguyễn Thanh Quang Vũ và Lý Trường Tuấn là không hợp pháp, vi phạm khoản 2 Điều 35 Pháp lệnh giám định tư pháp. Do vậy phải được giám định lại xác định chính xác thương tích của Huy và bản kết luận giám định phải được các giám định viên ký tên đóng dấu theo quy định của pháp luật.

3/ Nguyễn Đức Huy cùng các bị cáo Lê Hải Nam, Nguyễn Tấn Pháp, Nguyễn Quốc Công và Lê Chính Trình...đánh lộn nhau và Huy đã dùng dây bút nịt đuổi đánh Lê Chính Trình nên bị Lê Chính Trình đánh lại gây thương tích. Hành vi đánh lộn nhau của Huy rất tích cực nhưng không xử lý Huy về tội "gây rối trật tự công cộng" như các bị cáo Nam, Hân, Pháp, Công là bỏ lọt người phạm tội và không công bằng.

4!Về bồi thường dân sự: Toà án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm đều xác định Nguyễn Đức Huy có hành vi trái pháp luật đã dùng bút nịt đánh Lê Chính Trình nên Huy có phần lỗi, nhưng không buộc Nguyễn Đức Huy phải chịu trách nhiệm thiệt hại tương đương với phần lỗi của mình mà buộc Lê Chính Trình phải bồi thường toàn bộ thiệt hại vật chất cho Huy là không đúng với quy định tại Điều 617 Bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi.

Vì lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 58/2010/HSPT ngày 28/7/2010, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi. Đề nghị Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm huỷ bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và bản án hình sự sơ thẩm số 02/2009/HSST ngày 25/11/2009  của Toà án nhân dân huyện Đức Phổ phần quyết định về trách nhiệm hình sự và dân sự đối với Lê Chính Trình để điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật./.

______________________________

- Lý do kháng nghị để hủy bán án hình sự phúc thẩm:

+ Việc truy tố , xét xử bị cáo Lê Chính Trình cả về tội “ gây rối trật tự công cộng” là không đúng, hành vi của bị cáo chỉ cấu thành tội “ cố ý gây thương tích” nên cần xem xét lại mức độ trách nhiệm hình sự

- Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 07/2011/HS-GĐT ngày 19-05-2011 Hội đồng giám đốc thẩmTòa án nhân dân tối cao  đã quyết định: Chấp nhận một phần Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 58/2010/HSPT ngày 28-07-2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi về phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lê Chính Trình. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi để xét xử phúc thẩm lại theo quy định của pháp luật.

29- Kháng nghị giám đốc thẩm số 07/QĐ-VKSTC-V3 ngày 25-03-2011 đối với vụ án Vũ Thị Lan Anh phạm tội “ cố ý gây thương tích”

 Xét bản án hình sự phúc thẩm số 78/2010/HSPT ngày 30/12/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã kết án bị cáo: Vũ Thị Lan Anh, sinh 18 tháng 8 năm 1991; Trú tại thôn Đại Tân, xã Hoàng Tân, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương; Văn hoá 12/12; Chưa có tiền án, tiền sự; về tội “cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự.

NHẬN THẤY

Theo bản án hình sự phúc thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương, nội dung vụ án như sau: Do tranh chấp ngôi nhà tại khu số 9 thị trấn Bến Tắm, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương giữa chị Phùng Thị Thục và Nguyễn Thị Thuận hiện chưa được Toà án nhân dân huyện Chí Linh giải quyết xong. Sáng ngày 29/7/2009, Phùng Thị Thục và con gái là Vũ Thị Lan Anh cùng một số người thân mang theo xà beng và một số dụng cụ khác đến ngôi nhà chị Thuận đang ở (là ngôi nhà đang tranh chấp). Khi đến nơi Phùng Thị Thục gặp  Thuận đang ở trong nhà và yêu cầu chị Thuận dọn đồ đạc để bàn giao nhà cho Thục, Thuận không đồng ý và báo chính quyền. Sau khi Công an thị trấn Bến Tắm gặp gỡ giữa hai bên xong, chị Thục quay lại nhà tranh chấp cùng một số người tiếp tục tháo dỡ mái nhà chị Thuận đang ở. Quá trình tháo gỡ 2 bên xô sát giằng co nhau, Thục và Lan Anh đứng ngoài cửa, còn Thuận đứng bậc bên trong cửa sắt ngôi nhà, Thục dùng đoạn gỗ bạch đàn dài khoảng 1m chọc qua cửa sắt, Thuận ở trong cửa sắt dùng đoạn sắt phi 8 (sắt cong) gạt gậy của Thục. Thấy mẹ là Phùng Thị Thục và Thuận đang xô sát, Lan Anh (con gái Thục) đã dùng xà beng chọc qua cửa về phía Thuận, phát thứ nhất không trúng, phát thứ hai trúng vào bắp chân trái của Thuận gây thương tích theo kết luận giám định số 35 ngày 25/11/2009 của Phòng kỹ thuật hình sự  Công an tỉnh Hải Dương mức độ tổn hại sức khoẻ 2%. 

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 59/2010/HSST ngày 30/9/2010 của Toà án nhân dân thị xã Chí Linh áp dụng điểm a khoản 1 Điều 104; Điều 69; khoản 1 Điều 74 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Thị Lan Anh 07 tháng tù. Về dân sự buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại 1.000.000đ.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 78/2010/HSPT ngày 30/12/2010, Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương áp dụng điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự giữ nguyên án sơ thẩm.

Ngày 6/1/2011, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có báo cáo đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm huỷ án phúc thẩm theo hướng cho hưởng án treo. 

XÉT THẤY

 Căn cứ vào báo cáo số 23 ngày 29/7/2009 của Công an thị trấn Bến Tắm và kết luận điều tra của Công an huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương thì từ năm 2004 vợ chồng anh Vũ Ngọc Hùng và chị Phùng Thị Thục (bố mẹ bị cáo Vũ Thị Lan Anh) cho chị Nguyễn Thị Thuận ở nhờ và nhiều lần chị Thục đề nghị chính quyền địa phương giải quyết và yêu cầu chị Thuận chuyển đi để lấy lại thửa đất số 148, tờ bản đồ số 5, khu 9, thị trấn Bến Tắm, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương (do chị Phùng Thị Thục đứng tên), nhưng chị Thuận không chuyển, dẫn đến mâu thuẫn kéo dài, nên đã xảy ra việc xô sát giữa hai bên vào ngày 29/7/2009; Trong đó có Vũ Thị Lan Anh, sinh 18/8/1991 đang ở tuổi người chưa thành niên tham gia đã gây tổn hại sức khoẻ cho chị Nguyễn Thị Thuận thương tích 2%.

 

Với những căn cứ có trong hồ sơ vụ án để kết tội Vũ Thị Lan Anh có nhiều điểm mâu thuẫn chưa được giải quyết triệt để, như việc thu giữ tang vật chứng chiếc xà beng mà chỉ mô tả qua lời khai nhân chứng, dẫn đến khác nhau về đặc điểm, bị cáo đâm ra sao, dùng đầu nhọn, hay đầu bẹt, lẽ ra phải cho thực nghiệm lại để đánh giá cho khách quan toàn diện; Cũng như tác động vào làm rách chiếc quần người bị hại với chiều dài vết thương như bản án phúc thẩm nhận định.

Tuy nhiên, với hành vi phạm tội của Vũ Thị Lan Anh chỉ gây thương tích cho bị hại tỷ lệ thương tích 2%; Khi phạm tội Vũ Thị Lan Anh là người chưa thành niên mang tính chất bột phát, a dua với gia đình; Lẽ ra cấp sơ thẩm không nên truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp này mà chỉ cần áp dụng Điều 70 Bộ luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội “giáo dục tại xã, phường, thị trấn”. Hậu quả đã khắc phục, giai đoạn phúc thẩm Vũ Thị Lan Anh có nhiều tình tiết giảm nhẹ và hiện tại là sinh viên; Do vậy chỉ cần áp dụng Điều 25 Bộ luật hình sự đối với Vũ Thị lan Anh cũng đủ tác dụng giáo dục.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 78/2010/HSPT ngày 30/12/2010 của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương, đề nghị Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ một phần bản án hình sự nêu trên về hình phạt đối với Vũ Thị Lan Anh để áp dụng Điều 25 Bộ luật hình sự miễn trách nhiệm hình sự cho Vũ Thị Lan Anh. Căn cứ vào Điều 276 tạm đình chỉ thi hành bản án hình sự phúc thẩm số 78/2010/HSPT ngày 30/12/2010 của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương về hình phạt đối với Vũ Thị Lan Anh cho đến khi có kết quả xét xử giám đốc thẩm./.

______________________________________

- Kết qủa xét xử giám đốc thẩm:

Tại quyết định giám đốc thẩm số 21/2011/HS-GĐT ngày 25 tháng 7 năm 2011 Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao Quyết định:

1. Huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 78/2010/HSPT ngày 30/12/2010 của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương để xét xử phúc thẩm lại.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương để giải quyết theo thẩm quyền.

30- Kháng nghị giám đốc thẩm số 32/QĐ-VKSTC-V3 ngày 20/12/2010 đối với vụ án Đinh Văn Cam phạm tội “ cố ý gây thương tích”

Xét bản án hình sự phúc thẩm số 60/2010/HSPT ngày 16/6/2010 của Toà án nhân dân thành phố Càn Thơ kết án Đinh Văn Cam sinh 1957; trí tại khi; vực Quy Thành 1, phường Trung Kiên, quán Thốt Nốt., thành phố Cần Thơ về tội cố ý gây thương tích".

NHẬN THẤY

Theo bản án phúc thẩm: Ngày 19/8/2009, Đinh Văn Cam (là Giấm đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn kinh doanh xăng đầu Cam Thuỷ) nhận được tin của anh Nguyễn Văn Đua (là nhân viên cửa hàng xăng dầu Cam Thuỷ 4) báo cáo: Anh Đỗ Quang Trung và anh Nguyễn Trí Công (là nhân điên Công ty Cam Thuỷ) điều khiển xe ô tô bồn biếm kiểm soát số 68 H 2570 chở xăng A92 đến giao cho cửa hàng Cam Thuỷ 4; Sau khi giao xăng xong, anh Đua kiểm tra bồn xe phát hiện xăng còn trong bồn cách ly nên anh Đua cho rằng Đỗ Quang Trung và Nguyễn Trí Công lấy trộm xăng, anh Đua yêu cầu kiểm tra và đã chặt ra được khoảng 55 lít xăng.

Đến khoảng 9 giờ liêm hôm sau (20/8/2009) Đinh Văn Cam gặp Nguyễn Trí Công tại Công ty hỏi về việc lấy trộm xăng dầu trên xe và bật roi điện để doạ Công nên Công chỉ cho Cam biết hệ thống lấy trộm xăng đồng thời Đinh Văn Cam gọi điện báo cho anh Nguyễn Văn Minh là Phó ban bảo vệ dân phố đến. Khi Đỗ Quang Trung đi giao hàng về Đinh Văn Cam bật roi điện doạ và hỏi Trung về việc lấy trộm xăng, nhưng Đỗ Quang Trung không thừa nhận. Đinh Văn Cam hỏi nhiều lần và dùng tay đánh vào mặt Trung nên Trung bỏ chạy, Cam đuổi theo cả hai đều vấp ngã, Cam kéo Trung dậy và bật roi điện châm vào người Trung, bị điện giật Trung bỏ chạy, Cam tiếp tục đuổi theo nắm được Trung và bật roi điện châm vào người Trung, Trung bỏ chạy thì thì Cam và anh Minh đuổi theo bắt được Trung đưa về trụ sở Công an phường Trung Kiên để giải quyết Đến 18 giờ ngày 21/8/2009 Trung được gia đình bảo lãnh, hẹn hôm sau tiếp tục làm việc nhưng đốn 5 giờ sáng ngày 21/8/2009 Trung phát bệnh nên gia đình đưa Trung đến Bệnh viện Thết Nết điều trị. Sau đó Trung được đưa đến Bệnh viện Đa khoa khu vực Ngã Bẩy, rồi chuyển đến Bệnh viện Đa khoa Cần Thơ và đến Bệnh viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh để điều trị.

Tại bản kết luận giám định số 216 /20091TGT ngày 30/l0/2009 của Trung tâm pháp y Sở y tế Cần Thơ kết luận tỷ lệ thương tích của Đỗ Quang Trung là 25%.

Ngày 23/12/2009 chị Võ Thị Thuỷ (vợ của Đinh Văn Cam) đã thoả thuận với gia đình bị hại bồi thường cho bị hại với số tiền là 130.000.000đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 15/2010/HSST ngày 13/4/2010, Toà án nhân dân quận Thốt Nốt áp dụng điểm a,b khoản 1 , khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1 , khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Đinh Văn Cam 2 năm tù về tội "cố ý gây thương tích".

Ngày 16/4/2010 là Đinh Vần Cam kháng cáo xin hướng án treo.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 60/2010/HSPT ngày l6/6/2010: toà án nhân dân thành phố Càn Thơ áp dụng điểm an khoảnl , khoản 2 Điều l04; điểm b,p khoản 1 , khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự xử phạt Đinh Văn Cam 1 năm tù về tội " cố ý gây thương tích".

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong lại sơ vụ án thì Đinh Văn Cam đã có hành vi dùng roi điện chích vào người anh Đỗ Quang Trung gây thương tích cho anh Đỗ Quang Trung tỷ lệ thương tích là 25%, do vậy,Toà án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm kết án Đinh Văn Cam về tội " cố ý gây thương tích " là đúng pháp luật và xử phạt bị cáo 1 năm tù, là không nặng.

Tuy nhiên xét thấy nguyên nhân dẫn đến việc Đinh Văn Cam dùng roi diện chích vào người anh Đỗ Quang Trung là do Trung đã có hành vi lấy 55 lít xăng của Công ty bị anh Nguyễn Văn Đua bắt quả tang, nhưng khi Cam hỏi thì anh Trung lại không nhận dẫn đến Cam bức xúc với thái độ của Trung. Thương tích của bị hại là 25% là không nặng; ngay sau khi khởi tố vụ án gia đình Đinh Văn Cam đã thoả thuận với gia đình bị hại về bồi thường cho bị hại với số tiền 130 triệu đồng và được gia đình bị hại làm đơn bãi nại đề nghị cơ quan pháp luật xem xét xin miễn trách nhiệm hình sự và cho bị cáo hưởng án treo; bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; chưa có tiền án, tiền sự; Công ty của bị cáo đã tạo việc làm cho nhiều người lao động và tích cực đóng góp tiền cho các hoạt động xã hội và quy lừ thiện được chính quyền địa phương tặng nhiều bằng khen, giấy khen; bị cáo bị nhiều bệnh, thường xuyên phải điều trị tại bệnh viện (có bệnh án kèm theo); bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và có thân nhân được nhà nước tặng thưởng Huân. Huy chương. Xem xét nhân thân của bị cáo và hoàn cảnh gia đình xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà có thế xem xét áp dụng khoản 1 Điều 60 Bó luật hình sự và điểm 6. 1 mục 6 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao "hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt" cho bị cáo hưởng án treo cũng đảm bảo việc cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Vì lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 60/2010/HSPT ngày 16/6/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ. Đề nghị Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên để xét xử phúc thẩm lại theo hướng cho bị cáo Đinh Văn Cam được hưởng án treo./.

______________________________

-          Kết quả xét xử giám đốc thẩm:

Tại quyết định giám đốc thẩm số 27/2011/HS-GĐT ngày 26/09/2011 Hội đồng giám đốc thẩm Toà án nhân dân tối cao quyết định:

Huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 60/2010/HSPT ngày 16/06/2010 của Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

(còn tiếp)

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi